Cùng với các cơ sở của Bộ Y tế và các cơ sở Y tế của nhiều ngành khác đóng trên địa bàn tỉnh, ngành Y tế Trà Vinh đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế trên
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS ĐÀO HỮU HÒA
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
ĐẶNG THỊ THÙY DUYÊN
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của luận văn 2
6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 6
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ Y TẾ 6
1.1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ y tế 6
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ y tế 9
1.1.3 Phát triển dịch vụ y tế 11
1.1.4 Vai trò của phát triển dịch vụ y tế 12
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 15
1.2.1 Tăng quy mô cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh 15
1.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 16
1.2.3 Phát triển các loại hình dịch vụ y tế theo yêu cầu 18
1.2.4 Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng 20
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 21 1.3.1 Quy mô và trình độ dân trí 21
1.3.2 Thu nhập và mức sống của dân cư 22
1.3.3 Giá cả dịch vụ y tế 22
1.3.4 Điều kiện môi trường 23
1.3.5 Trình độ phát triển của khoa học công nghệ 24
1.3.6 Chính sách phát triển y tế của chính phủ 24
Trang 41.4.2 Kinh nghiệm của Hải Dương 28
1.4.3 Kinh nghiệm rút ra cho Trà Vinh 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 32
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH TRÀ VINH ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 33
2.1.3 Đặc điểm xã hội 35
2.1.4 Kết cấu hạ tầng 37
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 39
2.2.1 Phát triển về mặt quy mô dịch vụ khám chữa bệnh 39
2.2.2 Phát triển về chất lượng dịch vụ y tế 44
2.2.3 Phát triển các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu 49
2.2.4 Hoạt động y tế dự phòng 50
2.3 NHỮNG THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TỈNH TRÀ VINH 54
2.3.1 Những mặt thành công 54
2.3.2 Những mặt tồn tại, hạn chế 55
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại hạn chế 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 59
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 59
Trang 53.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TỈNH TRÀ VINH 66
3.2.1 Nhóm giải pháp tăng quy mô dịch vụ khám chữa bệnh 66
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh 70 3.2.3 Phát triển các loại hình dịch vụ y tế theo yêu cầu 76
3.2.4 Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng 77
3.2.5 Các giải pháp khác 79
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 82
3.3.1 Kiến nghị với Bộ Y tế 82
3.3.2 Kiến nghị với UBND tỉnh 82
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
Trang 6BHXH Bảo hiểm xã hội
Trang 7Số hiệu
2.1 Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2010 - 2013 33 2.2 Chi ngân sách cho sự nghiệp y tế, giáo dục 34 2.3 Phân bố dân cư trong tỉnh 35 2.4 Số lượng cơ sở y tế tỉnh Trà Vinh 39 2.5 Số lượng giường bệnh tỉnh Trà Vinh 42 2.6 Số lượng lao động làm việc trong cơ sở y tế Trà Vinh 43 2.7 Kết quả thực hiện công tác khám chữa bệnh 44 2.8 Trang thiết bị chủ yếu hiện có đến năm 2013 45 2.9 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế Trà Vinh 47
2.10 Mức độ hài lòng của bệnh nhân nội trú về chất lượng
dịch vụ y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh Trà Vinh 48
2.11 Mức độ hài lòng của bệnh nhân ngoại trú về chất lượng
dịch vụ y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh Trà Vinh 49 2.12 Phòng chống HIV/ADIS qua các năm 2010-2013 51
2.13 Kết quả thực hiện công tác khám sàng lọc và mổ mắt do
2.14 Kết quả thực hiện công tác khám chữa bệnh bằng y học
cổ truyền thời kỳ 2010-2013 54 3.1 Dự báo dân số tỉnh Trà Vinh đến năm 2020 59 3.2 Chỉ tiêu phát triển y tế qua các năm 63
Trang 8Số hiệu
2.1 Cơ cấu loại hình dịch vụ y tế ở Trà Vinh 40 2.2 Qui mô giường bệnh ở Trà Vinh 42
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ đổi mới, ngành Y tế Trà Vinh đã có một số chuyển biến tích cực, mạng lưới y tế của tỉnh đã từng bước được củng cố, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, các loại hình dịch vụ y tế trong khám chữa bệnh, phòng bệnh và cung ứng thuốc ngày càng đa dạng Cùng với các cơ sở của Bộ
Y tế và các cơ sở Y tế của nhiều ngành khác đóng trên địa bàn tỉnh, ngành Y
tế Trà Vinh đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ y
tế trên phạm vi toàn tỉnh, bước đầu đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Trà Vinh và các tỉnh lân cận, góp một phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, khu vực và cả nước
Tuy nhiên, hệ thống y tế của Trà Vinh vẫn còn những bất cập: cơ sở vật chất xuống cấp và lạc hậu; các trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh chưa hiện đại; mạng lưới các trung tâm y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ Đầu tư cho sự nghiệp y tế tỉnh còn hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ mới - thời kỳ đất nước bước vào công nghiệp hoá và hiện đại hoá Để đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực, tạo đà cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ mới cần thiết phải phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Đó chính là lý do tác
giả lựa chọn đề tài "Phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Trà Vinh"
cho luận văn cao học của mình Với mong muốn đề tài sẽ là cơ sở tham khảo
để đầu tư ngân sách Nhà nước, huy động vốn từ nhiều nguồn, xây dựng kế
hoạch phát triển dịch vụ Y tế một cách đúng hướng, có trọng tâm, trọng điểm, nhằm xây dựng ngành Y tế Trà Vinh vững mạnh về mọi mặt, từng bước đáp
ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh
Trang 102 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển dịch vụ y tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
- Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ y tế, chỉ ra các mặt thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn Trà Vinh những năm qua;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm đẩy mạnh phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn Trà Vinh trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh và các chính sách phát triển dịch vụ khám chữa bệnh ở Trà Vinh
- Phạm vi nghiên cứu: Các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Thời gian nghiên cứu dữ liệu quá khứ từ 2010 – 2013 và tầm xa của giải pháp từ 2015 – 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các mục tiêu nghiên cứu thì trong đề tài đã sử dụng các
phương pháp như sau:
- Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp phân tích chỉ số, phương pháp dự báo, phương pháp mô hình hóa…
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ y tế
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Trang 116 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Việt Nam là một đất nước với tổng dân số gần 90 triệu người với nền kinh tế đang phát triển Mỗi năm có một triệu em bé được sinh ra tại Việt Nam và với sự gia tăng dân số như thế, sự phát triển của hệ thống sức khỏe và bệnh viện trở thành một trong những điều tất yếu Tuy nhiên, theo bảng báo cáo bởi Hiệp hội sức khỏe thế giới, Việt Nam vẫn bị tụt hậu so với khu vực về nguồn doanh thu lẫn chi phí cho ngành y tế Lí do Việt Nam thiếu nguồn dịch
vụ sức khỏe là vì đa phần người Việt Nam sống ở vùng nông thôn, nơi điều kiện cơ sở vật chất vẫn còn nghèo nàn Theo Bộ Y Tế, 4/5 nhu cầu sức khỏe ở Việt Nam đến từ vùng nông thôn trong khi lực lượng lao động lành nghề không nhiều Thêm vào đó, bệnh viện đang không đủ chỗ chứa còn dịch vụ
đào tạo nhân viên y tế vẫn còn khan hiếm Sau nhiều năm, ngành y tế và chăm
sóc sức khỏe ở Việt Nam vẫn còn bị quản lí gắt gao bởi luật lệ chính phủ Vì
đất nước đã mở rộng hoạt động tư nhân, ngành y tế trở thành khu vực thu hút
các nhà đầu tư nước ngoài Nhu cầu về dịch vụ y tế cho Việt Nam đang tăng nhanh và trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống y tế nước ta Nhiều
cơ sở y tế đã đầu tư thiết bị hiện đại, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh như chụp CT, cộng hưởng từ, siêu
âm 4D, 5D, mổ Phacor, mổ tim hở, thụ tinh trong ống nghiệm , đồng thời cung ứng nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng cho nhân dân và tạo cho họ có nhiều hơn cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh, góp phần giảm tải cho các bệnh viện và cũng tạo ra áp lực cạnh tranh cho các
cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước và tư nhân trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Bên cạnh những đóng góp to lớn của y tế trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, phát triển dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay, những hạn chế, bất
Trang 12cập và những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với dịch vụ y tế vấn
đề này đã được nghiên cứu như là:
- Lê Quang Hoành (chủ biên), Phùng Kim Bảng, Hồ Hữu Anh (1997),
“Y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu”, Nxb Y học Cuốn sách trình
bày lý luận chung của y học xã hội và tổ chức y tế, y tế cộng đồng và chăm sóc sức khỏe ban đầu Lịch sử y học, tâm lý học, đạo đức học Y tế công cộng và công tác y tế Thống kê y tế Chăm sóc sức khỏe ban đầu và giáo dục sức khỏe Pháp luật trong ngành y tế Tổ chức và hoạt động của ngành y tế Quản lý y tế - kinh tế y tế
- Nguyễn Trung (2001), “Những quy định về chính sách xã hội hoá các
hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao”, Nxb Lao động
Công trình tập hợp những văn bản pháp luật về chính sách xã hội hoá các hoạt
động giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao, các chính sách khuyến khích, quản lý
tài chính đối với các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực y tế, thể thao, giáo dục
- PGS TS Phạm Huy Dũng (1998), “Một số vấn đề y tế tư nhân”
Scientific works: Scientific works of prof Pham Huy Dung in English 1998/Pham Huy Dung - 1998-Vol.2 Công trình tập hợp các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả về vai trò của thành phần y tế tư nhân ở Việt Nam,
1988-sự phát triển của y tế tư nhân tại Việt Nam, chi phí cho các dịch vụ y tế và người nghèo ở Việt Nam
- Trương Việt Dũng, Nguyễn Duy Luật (chủ biên), Nguyễn Văn Hiến
(2002), “Bài giảng quản lý và chính sách y tế: Dùng cho đối tượng sau đại
học”, Nxb Y học Cuốn sách trình bày về đại cương tổ chức và hệ thống y tế
Hệ thống tổ chức y tế Việt Nam Quản lý y tế (quản lý nhân lực, quản lý thông tin, quản lý tài chính và vật tư) Xây dựng chính sách y tế công cộng
Trang 13- Nguyễn Thị Hạnh Lâm (2008) "Đo lường mức độ thỏa mãn của khách
hàng đối với chất lượng dịch vụ, khám, chữa bệnh ngoại trú tại các bệnh viện
tư ở Thành Phố Hồ Chí Minh", Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã
đánh giá thực trạng mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ khám
chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở bệnh viện tư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó tác giả đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với các dịch vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện tư tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Xuân Vỹ (2011), “Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa
bệnh tại bệnh viện Phú Yên” Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã
đánh giá thực dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Phú Yên Từ đó rút ra được những tồn tại và bất cập trong công tác khám chữa bệnh và đưa ra
những giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Phú Yên trong giai đoạn tới
Trang 14CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ Y TẾ
1.1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ y tế
a K hái niệm dịch vụ
Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng Một dịch vụ chỉ tồn tại khi tạo ra được niềm tin và uy tín đối với khách hàng Dịch vụ ngày càng phát triển và đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong mỗi quốc gia, người ta gọi là ngành kinh tế mềm (SORT ECONOMICS)
b K hái niệm dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe như: Khám chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khỏe, tư vấn sức khỏe do các cơ sở y tế Nhà nước (Trạm y tế xã, Trung tâm y tế huyện/TP, các cơ sở y tế tuyến tỉnh
và trung ương) và các cơ sở y tế tư nhân (Phòng khám, bệnh viện tư, hiệu thuốc) cung cấp
Có quan niệm cho rằng dịch vụ y tế là hàng hoá y tế song không được
sử dụng vì dễ bị lợi dụng để biện minh cho hoạt động y tế kiếm lời, trái đạo
đức của thầy thuốc, nhưng trên thực tế các dịch vụ y tế vẫn ít nhiều mang tính
chất của hàng hoá: có nhu cầu, có người cung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (có thể người trả tiền là cá nhân, có thể là tập thể, Nhà nước)
Trong cơ chế thị trường, nhà sản xuất để có lợi nhuận tối đa sẽ căn cứ vào nhu cầu và giá cả thị trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Thông qua cơ chế thị trường, các nguồn lực của
Trang 15nền kinh tế tự động phân bổ một cách tối ưu Tuy nhiên, để cơ chế thị trường thực hiện tốt được chức năng của mình, thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoàn hảo, thông tin đầy đủ và không bị ảnh hưởng bởi các tác động ngoại lai v.v Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thị trường không thể vận hành một cách hiệu quả Các nhà phân tích kinh tế đã thừa nhận trong thị trường y tế luôn tồn tại các yếu tố “thất bại thị trường”, cụ thể:
Thị trường y tế không phải là thị trường tự do Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa người mua và người bán Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế
Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần
đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác,
trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch
vụ Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật
và các chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyết định) Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế
Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang tính chất “ngoại lai” Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe) Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng các dịch vụ đó thấp Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho
Trang 16cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính công cộng
Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế
“công cộng” và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân cung ứng các dịch vụ y tế tư Đồng thời với sự tạo điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình dịch vụ y tế tư, vai trò quản lý của Nhà nước rất cần thiết trong việc kiểm soát giá cả và chất lượng dịch vụ, tăng cường thông tin, thẩm
định điều kiện hành nghề như đã nêu ở trên Công cụ hữu hiệu nhất trong
kiểm soát giá cả và dịch vụ cung ứng chính là phương thức chi trả phù hợp Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy rất khó kiểm soát các yếu tố thất bại thị trường trong thị trường bảo hiểm y tế tư nhân Mục tiêu bao phủ bảo hiểm y
tế và tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân chỉ có thể đạt được thông qua con đường bảo hiểm y tế toàn dân với sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng như người nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, người già…và sự tham gia tự giác của cộng đồng
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ
c Phân loại dịch vụ y tế
+ Phân loại theo đối tượng phục vụ: Người ta chia dịch vụ y tế thành
03 loại như sau:
- Dịch vụ y tế công cộng (public good) là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng
đồng như các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế
- Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên (merit good) sẽ
Trang 17được dành cho một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em,
người có công với cách mạng
- Dịch vụ y tế cá nhân (private good) là các dịch vụ y tế chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ
+ Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh
Theo tiêu thức này dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động y tế dự phòng (Bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm);
- Hoạt động khám chữa bệnh, phục hồi chức năng
- Hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền
- Hoạt động sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc
+ Phân loại theo tiêu thức của WTO
- Các dịch vụ nha khoa và y tế: các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự phòng, chẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không có
chăm sóc tại bệnh viện
- Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế cung cấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kỳ và sinh con chăm sóc (không
nhập viện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia
- Các dịch vụ bệnh viện: các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của bác sỹ chủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục
hồi và/hoặc duy trì tình trạng sức khỏe
- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; Các dịch vụ y
tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ y tế
a.Những đặc điểm chung của dịch vụ:
- Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhưng không tồn tại ở một mô hình cụ thể như đối với sản xuất hàng hoá
Trang 18- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, không thoả mãn hai
điều kiện này dịch vụ trở nên không có giá trị
- Do phụ thuộc quá nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm
lý, hoàn cảnh của các bên tham gia nên chất lượng dịch vụ mang tính chất không đồng đều
- Do tính chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn trong việc tiêu chuẩn hoá dịch vụ Tuy nhiên vẫn có thể xác định được một mức độ phục vụ nhất định nào đó
- Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo dịch vụ Khác với hàng hoá, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người tạo ra dịch vụ
- Chính từ sự yêu cầu của người sử dụng mà dịch vụ hình thành và quá trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ Đó là sự ảnh hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ
b Đặc điểm riêng của dịch vụ y tế:
- Chi phí y tế không lường trước được Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các mức độ khác nhau Chính vì không dự
đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả
các chi phí y tế không lường trước được
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh) thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu” Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi
điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động
lựa phương pháp điều trị
Trang 19- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt không giống các loại hàng hóa khác
- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng mọi giá
- Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá nhân Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề theo quy định của Nhà nước
1.1.3 Phát triển dịch vụ y tế
- Tăng trưởng trong lĩnh vực y tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý
về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: số lượng bệnh nhân được cứu chữa, quy mô viện phí, công xuất sử dụng giường bệnh trong những khoảng thời gian nhất định, thường là 01 năm
- Phát triển dịch vụ y tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn
có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của ngành y tế, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề dịch vụ theo hướng hiện đại, kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chất dịch vụ thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ
sơ sinh, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ
- Trong luận văn này, phát triển dịch vụ y tế được hiểu “là việc gia
tăng về mặt quy mô cung ứng các dịch vụ y tế (thể hiện qua các chỉ tiêu như:
số lượng cơ sở y tế; quy mô phục vụ, quy mô viện phí, số lượng giường bệnh ) với mức chất lượng phục vụ ngày càng cao và cơ cấu dịch vụ y tế ngày càng đa dạng”
Trang 20- Để đánh giá sự phát triển của dịch vụ y tế của một địa phương trong những khoảng thời gian nhất định, có thể sử dụng các tiêu chí sau đây:
+ Các chỉ tiêu định lượng như số lượng các cơ sở khám chữa bệnh tăng thêm trong kỳ, số lượng bệnh nhân được khám chữa bệnh trong kỳ, doanh thu thu được từ hoạt động khám chữa bệnh trong kỳ…
+ Các chỉ tiêu phản ánh về chất lượng như số các trang thiết bị kỹ thuật
được trang bị, mức độ vốn đầu tư cho cơ sở khám chữa bệnh, tỷ lệ lao động
có trình độ cao làm việc trong cơ sở khám chữa bệnh, tỷ lệ các ứng dụng công nghệ cao được sử dụng…
+ Các chỉ tiêu phản ảnh về cơ cấu như cơ cấu quy mô, cơ cấu loại hình hoạt động, cơ cấu dịch vụ cung ứng, cơ cấu phân bố theo địa lý…
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc phát triển dịch vụ y tế vẫn
đang được quan tâm khuyến khích nhằm giảm áp lực đang ngày càng tăng lên
các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước, do đó việc không ngừng nâng cao chất lượng vẫn được quan tâm song các tiêu chí về mặt quy mô, số lượng vẫn
được ưu tiên hơn Mặt khác, do có sự mất cân đối giữa việc phát triển các cơ
sở khám chữa bệnh theo khu vực địa lý, cụ thể là tại các đô thị mật độ các cơ
sở khám chữa bệnh tư nhân quá cao, trong khi đó tại các khu vực ngoại thành, nông thôn nơi y tế Nhà nước chưa thể đáp ứng được, rất cần đến sự hỗ trợ của dịch vụ y tế thì mật độ lại quá thấp, do đó việc phát triển về mặt cơ cấu dịch
vụ và cơ cấu phân bố cũng cần được quan tâm và ưu tiên.
Trong đó, việc phát triển dịch vụ y tế sẽ mở ra khả năng đẩy nhanh và hiệu quả thực hiện về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu
1.1.4 Vai trò của phát triển dịch vụ y tế
Sự phát triển dịch vụ y tế không những đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho người dân địa phương mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Điều này được thể hiện qua các phương diện sau đây:
Trang 21- Phát triển dịch vụ y tế giúp đạt được các mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân địa phương Nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng, đời sống vật chất của nhân dân đang dần được cải thiện nên nhu cầu và mục tiêu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng được đòi hỏi cao hơn Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân là chức năng riêng có của dịch vụ y tế vì vậy chỉ khi dịch vụ y tế được củng cố, hoàn thiện thì các nhu cầu, mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe đó mới có thể đạt được
- Phát triển dịch vụ y tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh và xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương Đối tượng chính của hoạt
động y tế là nhân tố quan trọng nhất của lĩnh vực sản xuất vật chất - sức lao động Hoạt động y tế chữa trị bệnh dùng chức năng riêng có của mình để đáp ứng nhu cầu một cơ thể khỏe mạnh, trưởng thành, nhờ đó cung cấp liên tục
người lao động cho các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất Thông qua việc phòng, chữa bệnh cho người lao động, uốn nắn và phục hồi khả năng hoạt động cho người bị thương tật, thực sự có thể trực tiếp tăng cường thể lực làm cho người lao động luôn khỏe mạnh, tự tin vào bản thân mình, có niềm tin vào cuộc sống Cũng nhờ đó, năng suất lao động được nâng cao, thời gian lao động bị mất được giảm bớt, không chỉ người lao động được hưởng nhiều hơn mà của cải xã hội cũng tăng lên
- Phát triển dịch vụ y tế góp phần thúc đẩy tiến bộ, công bằng, văn minh xã hội Khi mạng lưới y tế được củng cố, hoàn thiện từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện, tuyến xã sẽ tạo ra một môi trường dịch vụ y tế công bằng, bình
đẳng cho toàn thể nhân dân trên địa bàn tỉnh Mọi người dân dù sinh sống ở
những nơi trung tâm, dân cư đông đúc, kinh tế phát triển hay ở những bản làng vùng cao, vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa thớt, kinh tế còn nhiều khó khăn đều có thể dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế, đều có cơ hội được
Trang 22chăm sóc sức khỏe như nhau Điều này sẽ góp phần thúc đẩy tiến bộ, văn minh, công bằng xã hội
Sức khỏe tốt đang ngày càng được xem như một quyền cơ bản của con người trong xã hội Đảm bảo sức khỏe tốt cho mọi người là việc rất cần thiết của Chính phủ Hiện nay ở Việt Nam đang lấy dịch vụ y tế Nhà nước làm chủ đạo và phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân Nhà nước nắm trong tay nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến huyện, tuyến xã và thôn bản Nhà nước lấy nguồn NSNN làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế để chủ động điều chỉnh kinh phí cho vùng nghèo và các đối tượng nghèo cũng như các đối tượng hưởng chính sách (những người có công với nước), thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các dịch vụ hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm họa gây ra Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của khu vực y tế công là đảm bảo ba mục tiêu lớn:
+ Tăng cường sức khoẻ nhân dân,
+ Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe,
+ Tăng cường hiệu quả và chất lượng trong chăm sóc sức khỏe
Tuy lấy dịch vụ y tế Nhà nước là chủ đạo nhưng hiện nay chúng ta vẫn kết hợp phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân vì dịch vụ y tế Nhà nước tuy có các ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ thiếu tính cạnh tranh Trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay nguồn Ngân sách Nhà nước có hạn và tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, sự phát triển không đồng
đều giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, có bộ phận dân
cư giàu lên nhưng đại bộ phận vẫn ở mức nghèo, vì vậy việc huy động tài chính từ một bộ phận dân cư giàu lên để đỡ một phần gánh nặng NSNN, đó là việc làm cần thiết
Xã hội hoá y tế là một chiến lược quan trọng nhưng muốn đảm bảo
được sự công bằng theo hướng xã hội chủ nghĩa thì không thể lấy việc giải
Trang 23quyết khó khăn của nguồn NSNN cung cấp cho ngành y tế và làm giảm gánh nặng cho NSNN là mục đích đầu tiên của xã hội hóa, mà phải lấy việc giải quyết nhu cầu của công tác CSSK trong khi nền y tế công chưa thể thoả mãn
được nhu cầu này làm mục đích chính
Hệ thống y tế tư nhân (YTTN) ở Việt Nam bao gồm các phòng khám, bệnh viện của tư nhân, các hiệu thuốc tư nhân hoạt động vì lợi nhuận cũng như không vì lợi nhuận, các tổ chức phi Chính phủ YTTN hoạt động theo (luật HNYDTN năm 1993) chủ yếu cung cấp các dịch vụ y tế ngoại trú và một số dịch vụ chẩn đoán
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ
1.2.1 Tăng quy mô cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh
Trong dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh là dịch vụ cơ bản và truyền thống của ngành này Vì vậy, tăng quy mô cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh
là nội dung quan trọng đầu tiên của phát triển DVYT Việc tăng quy mô cung
ứng dịch vụ khám chữa bệnh có thể được thực hiện bằng cách tăng tuyệt đối
số lượng cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn và tăng quy mô cung ứng dịch vụ
y tế của các cơ sở y tế đó trong những khoảng thời gian nhất định
- Để phát triển thêm các cơ sở y tế, vấn đề phân bố cơ sở trên lãnh thổ cho phù hợp với nhu cầu khám chữa bệnh cần phải được quan tâm Ngoài ra, việc phát triển về số lượng các cơ sở y tế cũng cần cân nhắc đến việc gia tăng các cơ sở y tế công lập, cần phát triển mạng lưới y tế ngoài công lập
- Để tăng quy mô cung ứng dịch vụ của các cơ sở y tế hiện có thì vấn
đề cần quan tâm đó là vốn đầu tư và con người
- Để mạng lưới y tế địa phương hoạt động có hiệu quả cao nhất thì tối thiểu là mỗi xã đều phải có một trạm y tế Các doanh nghiệp có từ 500 công nhân trở lên phải thành lập trạm y tế của doanh nghiệp Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có trạm y tế cơ sở
Trang 24- Phát triển dịch vụ y tế cần quan tâm đến việc gia tăng quy mô hoạt
động của khu vực y tế ngoài công lập, tăng cường phối hợp công - tư
- Loại hình điều trị ngoại trú tại Việt Nam bắt đầu được hình thành và
đi vào hoạt động từ năm 2002 Bên cạnh phòng điều trị nội trú, bệnh nhân có
thể lựa chọn điều trị ngoại trú để tiết kiệm thời gian cá nhân và chi phí điều trị Điều trị ngoại trú cung cấp các dịch vụ về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị Do quy mô cung ứng dịch vụ y tế bị hạn chế bởi cơ sở vật chất hạ tầng (giường bệnh, buồng bệnh, cơ sở phục vụ người bệnh…) nên việc mở rộng các loại hình điều trị ngoại trú sẽ giúp giải quyết được hạn chế trên, làm tăng quy mô cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh đặc biệt là đối với những bệnh nhân cần
điều trị dài ngày và các loại bệnh mãn tính (bệnh đái tháo đường,…) Các
bệnh viện tuyến huyện đáp ứng nhiều nhất nhu cầu khám và điều trị ngoại trú của nhân dân
- Tăng cường hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền Việt Nam có nền y học cổ truyền phát triển hàng nghìn năm và rất nổi tiếng trong việc điều trị nhiều loại bệnh khác nhau, đặc biệt là các bệnh nội khoa, thần kinh và các bệnh mãn tính Tuy nhiên, do quá thiên về Tây y nên có một thời gian y học cổ truyền chưa được quan tâm phát triển đúng mức Việc đẩy mạnh hoạt động của Y học cổ truyền sẽ giúp giảm áp lực cho các bệnh viện, tăng quy mô cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh trong một số lĩnh vực nhất
định, phù hợp với xu hướng quy về với thiên nhiên của thế giới
1.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
Chất lượng dịch vụ KCB cũng ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ, cùng một giá cả dịch vụ, sự cải thiện chất lượng dịch vụ sẽ giúp tăng việc sử dụng dịch vụ KCB và ngược lại, những cơ sở y tế có chất lượng dịch vụ KCB bị người dân đánh giá là kém thì tỷ lệ sử dụng dịch vụ đó sẽ thấp Yếu tố này đi ngược lại lợi ích của người nghèo vì ở hầu hết các nước, so với người giàu thì
Trang 25người nghèo chỉ có đủ điều kiện tiếp cận với những dịch vụ KCB có chất lượng thấp hơn
Chất lượng khám chữa bệnh là yếu tố quan trọng thể hiện sự phát triển của dịch vụ y tế Trong khám chữa bệnh nói riêng và dịch vụ y tế nói chung, chất lượng dịch vụ được thể hiện qua việc gia tăng các chỉ tiêu sau đây theo thời gian:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh: Bao gồm chất lượng cơ sở khám chữa bệnh; chất lượng cơ sở điều trị, chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân Trong đó đặc biệt lưu ý bảo đảm tủ thuốc thiết yếu phục vụ công tác điều trị; hạn chế tình trạng lạm dụng thuốc, xét nghệm cận lâm sàng, dịch vụ kỹ thuật cao gây tốn kém không cần thiết cho người bệnh, giảm số lượt khám/bác sĩ/ngày; từng bước giảm tình trạng quá tải, nằm ghép
- Máy móc trang thiết bị sử dụng cho việc chẩn đoán, can thiệp trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh:
+ Bảo đảm đủ trang thiết bị y tế cho các tuyến theo quy định của Bộ y
tế Từng bước hiện đại hoá trang thiết bị cho các cơ sở y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân Phát triển trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực
+ Bổ sung đủ trang thiết bị có chất lượng, phù hợp để thực hiện các kỹ thuật tại bệnh viện
+ Bảo đảm cung ứng đủ và khai thác có hiệu quả trang thiết bị y tế thông dụng cho các cơ sở phòng bệnh và chữa bệnh theo qui định của Bộ y tế
- Công nghệ khám chữa bệnh: là cách thức, phương pháp và công cụ tương ứng mà các cơ sở khám chữa bệnh sử dụng trong chẩn đoán, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị Việc phát triển tiến bộ khoa học - kỹ thuật cao trong khám
Trang 26chữa bệnh những năm qua đã tạo bước đột phá cho việc tiếp cận và áp dụng
kỹ thuật Nhiều kỹ thuật cao ngang tầm các nước phát triển trong khu vực đã
được áp dụng thành công, điển hình như: tách cặp song sinh dính liền nhau
phần ngực, bụng; ứng dụng rô-bốt định vị trong phẫu thuật cột sống; ghép gan
từ người cho chết não; phẫu thuật nội soi thay van tim hai lá Tại nhiều bệnh viện, kỹ thuật ghép tim, ghép gan, ghép thận, phẫu thuật hở tin, can thiệp mạch kính, thụ tinh trong ống
- Sự tin cậy: Liên quan đến sự tổng hợp của con người – phương tiện – chất lượng thuốc và các điều kiện chữa trị khác khiến cho người bệnh cảm thấy an tâm khi đến khám chữa bệnh
- Con người: Trình độ tay nghề của đội ngũ y, bác sĩ khám chữa bệnh; thái độ phục vụ tận tình, chu đáo và có trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế, nhân viên phục vụ trong việc chăm sóc cũng như giải quyết các yêu cầu khác cho bệnh nhân…
- Chất lượng dịch vụ hỗ trợ: vệ sinh, an toàn cho người bệnh và thân nhân, an toàn vệ sinh thực phẩm, giữ gìn tài sản cho người bệnh trong thời gian khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế…
1.2.3 Phát triển các loại hình dịch vụ y tế theo yêu cầu
Dịch vụ y tế là phạm trù rất rộng, nó không mà chỉ liên quan đến công tác khám chữa bệnh mà còn liên quan đến nhiều loại dịch vụ khác nữa Trong
điều kiện thu nhập và mức sống của người dân càng tăng, các yêu cầu về dịch
vụ y tế ngoài dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản cũng tăng theo, do đó hệ thống
y tế cũng phải phát triển để thích ứng Cụ thể:
- Dịch vụ chăm sóc sức khỏe: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe là những
chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành, đưa đến tận cá nhân và từng gia đình trong cộng đồng, được mọi người
Trang 27chấp nhận thông qua sự tham gia đầy đủ của họ, với giá thành mà họ có thể chấp nhận được nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất có thể được
- Dịch vụ y tế theo yêu cầu: Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe và y tế của
con người rất rộng, không chỉ khi đau ốm họ mới cần đến dịch vụ y tế mà ngay cả việc làm đẹp họ cũng cần (giải phẩu thẩm mỹ; làm đẹp răng; sinh con theo ý muốn; kéo dài chi…) Hoặc như trong khám chữa bệnh, việc tổ chức khám chữa bệnh theo yêu cầu tại một số bệnh viện cũng nhằm đáp ứng yêu cầu riêng biệt cho bệnh nhân
Nhu cầu dịch vụ y tế của người dân cũng rất đa dạng, từ kiểm tra sức khỏe định kỳ tới điều trị ung thư, phẫu thuật cho tới thẩm mỹ, chăm sóc sắc đẹp
Nếu cách đây 10 năm trở về trước, “xuất ngoại” là việc lớn của hầu hết các gia đình Việt Nam thì “xuất ngoại” đi chữa bệnh lại càng là chuyện lạ Thì nay, đó lại trở nên bình thường khi đời sống của người dân ngày càng tăng Việc cấp hộ chiếu trong nước ngày càng phổ biến, nhanh chóng và thuận tiện Sự ra đời gần đây của các hãng hàng không giá rẻ càng làm cho việc đi lại trở nên thuận tiện Với sự vĩ đại của công nghệ thông tin, các bệnh nhân Việt Nam có thể tiếp cận rất dễ dàng với các chuyên gia y tế hàng đầu khu vực và quốc tế qua email và internet để hỏi ý kiến chuyên môn và chẩn đoán
Trong khi đó, cung cấp dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là dịch vụ y tế chất lượng cao trong nền kinh tế thị trường là thoả mãn nhu cầu của khách hàng vẫn là khái niệm mơ hồ đối với nhiều bệnh viện tại Việt Nam, đặc biệt tại các bệnh viện công Tình trạng chung hiện nay là nhiều bệnh viện công lập tỏ thái độ không cần bệnh nhân vì lúc nào họ cũng trong tình trạng quá tải Nếu phải làm dịch vụ y tế chất lượng cao, các bệnh viên hầu như chỉ quan tâm tới việc trang bị tivi, tủ lạnh, máy điều hoà… cho một vài phòng bệnh chứ không ý thức xây dựng một chiến lược thông qua liên kết, quảng bá, tiếp thị nhằm thu hút bệnh
Trang 28nhân nước ngoài, Việt kiều hoặc người có điều kiện tài chính muốn được chữa trị và chăm sóc đúng mức
Phải đối diện với cạnh tranh quốc tế về trình độ công nghệ và dịch vụ y
tế chất lượng cao là một thực tế và thách thức của dịch vụ y tế Việt Nam Do vậy vấn đề mang tính thời đại là phải có những giải pháp cần thiết trong đào tạo, nghiên cứu, quản lý, đặc biệt là việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ
y tế thì ngành Y tế Việt Nam mới thực hiện tốt, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, tiến tới xuất khẩu dịch vụ y tế và nâng
cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
1.2.4 Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng
Việc đẩy mạnh công tác y tế dự phòng là nội dung quan trọng trong chính sách phát triển DVYT tại một địa phương, nó có quan hệ chặt chẽ với việc phát triển dịch vụ khám chữa bệnh và dịch vụ y tế theo yêu cầu cá nhân khác Để đẩy mạnh công tác y tế dự phòng cần quan tâm đến việc nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là các Trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh và đội vệ sinh phòng dịch của các huyện, quận và hoàn thiện mạng lưới quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; kiện toàn hệ thống thanh tra liên ngành
- Thực hiện các mục tiêu Chương trình Quốc gia thanh toán một số bệnh xã hội và dịch bệnh nguy hiểm;
- Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra Hệ thống giám sát dịch tễ, hiện đại hoá hệ thống quản lý số liệu để có các thông tin kịp thời cho việc xử lý các vụ dịch các chương trình như cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường ;
- Thực hiện rộng rãi các trương trình phòng chống các bệnh không nhiễm trùng như: tim mạch, ung thư, đái tháo đương ;
- Tích cực trong việc phòng chống tai nạn thương tích, nhất là tai nạn
Trang 29giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
- Tăng cường quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển
đội ngũ thanh tra và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại tất cả các tuyến;
- Chương trình sức khỏe sinh sản, làm mẹ an toàn, chăm sóc sản khoa thiết yếu và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình;
- Thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em như: Phòng chống suy dinh dưỡng, sức khỏe vị thành niên Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao nâng cao sức khỏe…
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ
1.3.1 Quy mô và trình độ dân trí
Dân số tăng sẽ kéo theo nhiều vấn đề về an sinh xã hội, vì thế sẽ làm tăng việc sử dụng dịch vụ y tế và ngược lại Nâng cao chất lượng dân số, duy trì mức sinh thấp hợp lý, đáp ứng đủ nhu cầu kế hoạch hoá gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng, kiểm soát tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh; tăng cường lồng ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện để giúp người dân cải thiện chất lượng cuộc sống của mình
Khi dân số tăng sẽ dẫn đến số lần khám và chữa bệnh tăng Như vậy dân số và tỷ lệ tăng của nó tác động trực tiếp đến nhu cầu khám chữa bệnh Chính vì vậy quy mô dân số quyết định số lượng y bác sỹ và số lượng cơ sở y
tế Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển dịch vụ y tế
Bên cạnh đó, mặt bằng dân trí cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu dịch vụ y tế của xã hội Nếu trình độ dân trí thấp, có thể dẫn đến việc ý thức giữ gìn và tự chăm sóc sức khỏe kém làm cho tình trạng bệnh tật tăng cao kéo theo chi phí khám chữa bệnh tăng cao Ngược lại, những người có trình độ học vấn cao hơn thì họ biết tự chăm sóc sức khỏe nên ít ốm đau hơn, song họ lại có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế nhiều hơn so với những người không có
Trang 30học vấn để chăm sóc sức khỏe, làm cho nhu cầu y tế về chăm sóc sức khỏe tăng lên
1.3.2 Thu nhập và mức sống của dân cư
Thu nhập càng thấp, càng ít cơ hội tiến thân và dĩ nhiên địa vị xã hội thấp thì bệnh hoạn càng tăng, càng lâu bình phục và tỷ lệ tử vong cũng cao Thu nhập thấp dẫn đến lo lắng, căng thẳng (stress) là các yếu tố thuận lợi cho việc phát triển một số bệnh tật Thu nhập thấp còn khiến người bệnh không có
được những điều kiện chăm sóc y tế như những người giàu có, nên bệnh tật
kéo dài, nhiều biến chứng Thu nhập thấp dẫn đến nhà ở thiếu tiện nghi, kém
vệ sinh, dễ phát sinh bệnh tật Trong khi người dân có thu nhập cao hơn sẽ có khả năng sử dụng nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn và có điều kiện sử dụng dịch vụ với giá cả cao hơn
Ngược lại, khi thu nhập tăng lên thì người dân lại có xu hướng coi trọng sức khỏe do đó nhu cầu về các dịch vụ y tế chất lượng cao, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu làm đẹp lại tăng lên…
1.3.3 Giá cả dịch vụ y tế
Theo quy luật thì khi giá cả dịch vụ y tế ngày càng cao thì nhu cầu đối với các dịch vụ đó càng thấp Tuy nhiên, trong thực tế khi thu nhập, mức sống
và trình độ dân trí càng cao thì người dân lại có xu hướng chấp nhận giá cao
để được hưởng dịch vụ y tế chất lượng cao chứ không phải là dịch vụ giá rẻ,
chất lượng thấp Điều này thể hiện rõ trong thời gian qua, nhiều bệnh nhân đã tìm cách để xin chuyển lên tuyến trên hoặc đăng ký sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu để được sử dụng dịch vụ chất lượng cao Do đó, giá
cả dịch vụ y tế thấp kèm với chất lượng dịch vụ thấp không phải là cách thức
đúng đắn để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân
Trong điều kiện cụ thể của nước ta, khi hệ thống y tế công cộng còn nhiều khiếm khuyết, chất lượng chưa cao, áp lực khám chữa bệnh còn quá lớn
Trang 31do năng lực bị hạn chế dẫn đến tình trạng nhiều người dân chưa được hưởng các lợi ích khám chữa bệnh như ý Vì vậy, hệ thống khám chữa bệnh nói riêng
và dịch vụ y tế tư nhân nói chung phát triển đã làm tăng cơ hội được thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, chủ yếu là nhu cầu khám chữa bệnh thông thường do tính linh hoạt và tiện lợi của loại hình này Mặt khác,
do việc khám chữa bệnh cho phép người dân được lựa chọn nhà cung ứng dịch vụ nên chỉ có những người có trình độ tay nghề tốt mới có thể thu hút
được khách hàng đến khám chữa bệnh Tuy nhiên, việc quy định giá cả dịch
vụ này gần như không được kiểm soát và quy định nên người khám có thể tự
ý đưa giá lên quá cao làm ảnh hưởng đến người bệnh Hơn nữa, tình trạng người khám bệnh đồng thời đi đôi với bán thuốc đã dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc và các dịch vụ y tế, lấy giá thuốc quá cao Chính vì vậy, để đảm bảo phát triển dịch vụ y tế song vẫn đảm bảo hài hòa lợi ích của toàn xã hội phải được coi trọng, đặc biệt là vấn đề giám sát về giá cả dịch vụ
1.3.4 Điều kiện môi trường
Nhu cầu về dịch vụ y tế, đặc biệt là nhu cầu khám chữa bệnh của người dân cao hay thấp tùy thuộc rất lớn vào tình trạng bệnh tật của họ Trong điều kiện trình độ dân trí và mức sống chưa cao thì sự biến động của môi trường thiên nhiên nói chung và môi trường sống nói riêng có ảnh hưởng rất nhiều
đến sức khỏe người dân, làm gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế Đặc biệt,
trong điều kiện đô thị hóa cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa lại càng tạo ra những thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe Ô nhiễm không khí, nước sạch do tăng nhanh công suất sử dụng cơ sở hạ tầng
đô thị cũng đang đe dọa đến sức khỏe người dân Ngoài ra, cơ sở hạ tầng xã
hội không theo kịp với tốc độ tăng dân số, đặc biệt cung ứng nước sạch, xử lý rác thải, nước cống, cơ sở y tế khám chữa bệnh, giáo dục, nhà ở, v.v Dân số
đô thị càng đông trong khi điều kiện cơ sở hạ tầng không theo kịp sẽ dẫn đến
Trang 32không gian sống ngày càng chật trội và điều kiện vệ sinh không đảm bảo nhất
là chất lượng không khí và nguồn nước Điều đó làm gia tăng áp lực trong việc đảm bảo nhu cầu về cung ứng dịch vụ y tế cho người dân của hệ thống y
tế quốc gia
1.3.5 Trình độ phát triển của khoa học công nghệ
Sự thay đổi khoa học công nghệ ở dạng các loại thuốc mới, các quy trình mới và các thiết bị mới, đã cách mạng hóa việc điều trị đối với nhiều
điều kiện sức khỏe, làm tăng cả sự sử dụng lẫn chi phí của một mức sử dụng
cho trước
Sự phát triển khoa học công nghệ mang lại nhiều lợi ích trong thực hành y khoa, đã được chứng minh trong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ
y tế từ xa (telemedicine), lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học tạo điều kiện để chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho người dân song cũng làm cho chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng, làm ảnh hưởng đến việc đáp
ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
Ngoài ra, sự phát triển khoa học mang lại nhiều lợi ích thì cũng có những hạn chế riêng Các bệnh viện có quy mô, hoạt động chuyên khoa và cung cách quản lý khác nhau do đó khó có thể mang sự phát triển của khoa học đang sử dụng ở bệnh viện này áp dụng cho bệnh viện khác
1.3.6 Chính sách phát triển y tế của chính phủ
Các nhân tố đã giới thiệu ở trên ảnh hưởng đến việc phát sinh nhu cầu
về dịch vụ y tế trong xã hội, là điều kiện tiền đề để dịch vụ y tế phát triển Tuy nhiên, dịch vụ y tế với tư cách là một loại dịch vụ công cộng, vai trò của nhà nước đối với sự phát triển của dịch vụ đó là rất lớn Nếu nhà nước cho rằng, dịch vụ y tế là dịch vụ cơ bản mà nhà nước có trách nhiệm phải cung ứng cho dân chúng, lúc đó nhà nước sẽ có xu hướng sử dụng nguồn ngân sách quốc
Trang 33gia để phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ này Tuy nhiên, nếu nhà nước cho rằng dịch vụ y tế là dịch vụ công cộng nhưng có thể được cung cấp bởi khu vực tư nhân, khi đó nhà nước lại có xu hướng khuyến khích tư nhân đầu tư vào hệ thống bệnh viện và cơ sở chăm sóc sức khỏe khác…
Trong thực tế, hầu hết các chính phủ trên thế giới đều có xu hướng đảm nhận trách nhiệm chăm lo việc chữa bệnh và phòng chống dịch cho xã hội, còn các dịch vụ khác thì khuyến khích khu vực tư nhân phát triển
1.4 KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC
1.4.1 Kinh nghiệm của Long An
Long An là một trong 13 tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có
đường biên giới giáp với Campuchia dài 137,7 km đi qua 20 xã Phía Bắc
giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông giáp với TP Hồ Chí Minh và cửa sông Soài Rạp, phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp với tỉnh Tiền Giang Long An có 2/3 diện tích thuộc vùng Đồng Tháp Mười, là vùng ngập lũ thường xuyên kéo dài 3 – 4 tháng trong mùa mưa hàng năm (từ giữa tháng 8
đến tháng 11) Vùng ngập lũ thường xuyên của tỉnh bao gồm 6 huyện: Tân
Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ và một số xã của vùng tây - bắc Thủ Thừa, Bến Lức
Với quyết tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Long An trong những năm qua luôn duy trì khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/ năm
Để đạt được mức tăng trưởng như vậy, Tỉnh Long An đã đưa ra một số nhiệm
vụ cụ thể về phát triển các dịch vụ y tế như:
+ Triển khai xây dựng và nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu bao gồm mở rộng và nâng cấp Bệnh viện đa khoa huyện Bến Lức từ 200 giường lên thành 500 giường; bệnh viện đa khoa huyện Thủ Thừa từ 50 lên 100 giường; bệnh viện đa khoa huyện Cần Đước từ 100
Trang 34giường lên 200 giường; Bệnh viện đa khoa khu vực Hậu Nghĩa từ 250 giường lên 500 giường; bệnh viện đa khoa khu vực Mộc Hoá từ 250 giường lên 500 giường
+ Xây mới và nâng cấp 14 cơ sở là các Phòng Y tế các huyện - thị trên
cơ sở trên diện tích đất do địa phương bố trí trong khuôn viên UBND các huyện, thị
+Đầu tư xây dựng máy sản xuất thuốc Y học cổ truyền đạt tiêu chuẩn
GMP trên diện tích 4 ha
+ Vận động xã hội hóa thành lập 01 bệnh viện đa khoa ngoài công lập với qui mô 200 – 400 giường
+ Xây dựng trạm y tế tại phường 4, thị xã Tân An…
Xác định nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng tăng, nhất là các dịch vụ y tế chất lượng cao Để phát triển chất lượng dịch vụ y tế trên địa bàn, Tỉnh đã thực hiện các chính sách sau:
+Thu hút đầu tư từ mội nguồn lực trong xã hội nhằm thực hiện tốt công tác xã hội hoá y tế Cho phép tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ theo hợp
đồng và được thanh toán từ NSNN, như dịch vụ vệ sinh, giặt giũ, duy tu, bảo
dưỡng thiết bị máy móc công nghệ cao, cung cấp thực phẩm để ban lãnh
đạo bệnh viện tập chung vào vấn đề quan trọng hơn của các dịch vụ y tế
+ Cho phép mời chuyên gia về hội chẩn, mời chuyên gia của đơn vị khác, chuyên gia đến khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện, mổ các trường hợp khó tại đơn vị mình;
+ Cho phép cùng tổ chức một bộ phận cung cấp dịch vụ y tế cùng hạch toán trong cơ sở y tế công Một số bộ phận khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện công được phép giao cho một tổ chức y tế tư nhân phụ trách
+ Đa dạng hóa loại hình công tư phối hợp trong các hoạt động CSSK, như cung ứng dịch vụ cung cấp thuốc ngoài danh mục thuốc thiết yếu trong bệnh
Trang 35viện; tư nhân bỏ vốn mua thiết bị y tế đặt tại các cơ sở y tế công, tự lo cả kinh phí bảo dưỡng, được thu hồi vốn thông qua việc thu phí dịch vụ; công tư góp vốn bằng hình thức cổ phần để xây dựng bộ phận bán công trong cơ sở y tế công hoặc hoạt động độc lập như một vệ tinh của cơ sở công lập đó
+ Cho phép tư nhân cho cơ sở y tế công lập vay tiền để đầu tư mua sắm trang thiết bị, nhà, cơ sở hạ tầng Đơn vị vay trả dần bằng ngân sách hàng năm hoặc trả bằng nguồn viện phí thu được từ hoạt động chuyên môn…
Chính nhờ cơ chế thông thoáng trên đã và đang thúc đẩy sự phát triển dịch vụ y tế của Long An, đánh dấu sự chuyển mình của ngành y tế Long An phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay
Số giường bệnh tính trên một vạn dân (bao gồm giường bệnh công lập
từ phòng khám đa khoa khu vực trở lên, giường y tế tư nhân, phòng khám đa khoa quân dân y, bệnh viện, bệnh xá) đạt mức 23 giường/vạn dân thấp hơn so với mức trung bình 25,5 giường bệnh/vạn dân của cả nước
Qua khảo sát và so sánh giữa Long An và Tiền Giang cho thấy số giường bệnh và số cán bộ y tế trên một vạn dân cao hơn mới là nhân tố chất lượng dịch vụ y tế của Long An tốt hơn chứ không phải số cán bộ dược và số bác sỹ trên một vạn dân Bên cạnh đó, đầu tư tài chính cũng có thể là nguyên nhân bởi theo báo cáo của Tỉnh thì năm 2013 Long An được đầu tư nhiều hơn (48 triệu/giường so với 27 triệu/giường của Tiền Giang) Ngoài ra, có thể vị trí địa lý gần TP HCM, một trung tâm kinh tế lớn phía Nam, của Long An cũng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế của Tỉnh bởi mặc dù TP HCM đã thu hút một lượng không nhỏ cán bộ y tế của Long An về làm việc nhưng do gần TP HCM nhiều người dân ở Long An có thể đến khám và điều trị trực tiếp tại các bệnh viện TP HCM Điều này sẽ giúp làm giảm áp lực đối với hệ thống bệnh viện của Long An
Trang 361.4.2 Kinh nghiệm của Hải Dương
Hải Dương là 1 trong 11 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và là 1 trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hải Dương nằm trong khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và liền kề với các thành phố loại 3 như: Bắc Giang, Thái Bình và các khu công nghiệp lớn như Bắc Ninh, Phố Nối - Hưng Yên Đây là vùng kinh tế năng động của các tỉnh phía Bắc Bên cạnh những lợi thế trong phát triển kinh tế xã hội; với vị
trí là tâm điểm của vùng; tỉnh Hải Dương cũng có thể sẽ bị ảnh hưởng bởi những
bất lợi trong di biến động dân cư dễ gắn liền với sự lây truyền các bệnh dịch nguy hiểm
Năm 2013, dân số tỉnh Hải Dương là 1.703,456 nghìn người, chiếm 2,05% dân số cả nước và 9,46% dân số vùng Đồng bằng sông Hồng Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 1042 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm
2013 là 9,71% Tuổi thọ trung bình trong toàn tỉnh năm 2013 đạt 73 tuổi
Đến năm 2013, giá trị của nông, lâm, thuỷ sản là 26,9%; công nghiệp
và xây dựng 43,7%; dịch vụ 29,4%
Các bệnh viện tuyến tỉnh gồm có:
- Bệnh viện đa khoa tỉnh là bệnh viện loại I quy mô 600 giường
- Bệnh viện y học cổ truyền là bệnh viện hạng II, quy mô 200 giường
- Bệnh viện Lao & Bệnh phổi quy mô 150 giường
- Bệnh viện Tâm thần quy mô 150 giường
- Bệnh viện Phong Chí Linh quy mô 200 giường
- Bệnh viện Điều dưỡng & phục hồi chức năng quy mô 100 giường
- Khu quản lý và điều trị bệnh nhân AIDS thuộc TTPC HIV/AIDS quy
mô 100 giường
Các Trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh: Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm PCBXH, Trung tâm CSSKSS, Trung tâm TTGDSK, Trung tâm Kiểm
Trang 37nghiệm Dược - Mỹ phẩm và Thực phẩm được cải tạo, xây dựng từ nguồn vốn của tỉnh Vì vậy, cơ sở vật chất của các đơn vị trên ngày một khang trang hơn
Các bệnh viện huyện/thành phố: 13 bệnh viện huyện (tuyến 1) đều là bệnh viện đa khoa hạng III
Trung tâm y tế dự phòng huyện, thành phố: 12 Trung tâm y tế dự phòng huyện
Với sự quan tâm, tập trung đầu tư cho dịch vụ y tế, đến nay có thể nói dịch vụ y tế Hải Dương đã có những "cơ ngơi" khá hoàn thiện, cả về con người và cơ sở vật chất, về mạng lưới y tế đến chất lượng khám và điều trị bệnh, đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Chính sách đầu tư và sự quan tâm khá đặc biệt của lãnh đạo Hải Dương trong những năm qua, lĩnh vực dịch vụ y tế của địa phương đang có bước khởi sắc đáng kể, từ đó mà dịch vụ Y tế có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để làm tốt việc chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn
Trước hết, điều dễ nhận thấy ở sự phát triển của dịch vụ y tế Hải Dương trong những năm gần đây là hệ thống y tế ngày càng hiện đại, hoàn chỉnh và đồng bộ giữa dịch vụ y tế khu vực công – tư Hải Dương cũng đã vận dụng tốt chính sách "Xã hội hóa y tế" để tăng thêm nguồn lực cho y tế Nhờ đó đến nay, cơ sở hạ tầng của các bệnh viện tuyến thành phố và các trung tâm y tế quận, huyện được nâng cấp, phát triển; trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại; trình độ chuyên môn của cán bộ y tế ngày càng được nâng cao
Không chỉ có vậy, hiện Hải Dương đang là địa phương có chính sách
đưa bác sỹ về công tác tại tuyến cơ sở, đồng thời cũng là địa phương làm tốt
công tác đào tạo, thu hút y, đãi ngộ y, bác sỹ giỏi Ngoài ra, Hải Dương cũng rất quan tâm, khuyến khích các cơ sở y tế, các tổ chức và cá nhân tham gia
đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho y tế; giao lưu, hợp tác và chuyển giao
Trang 38khoa học, công nghệ, kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật điều trị cao, kỹ thuật chuyên sâu để hiện đại hóa ngành Y tế địa phương
Hải Dương khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ y tế với mô hình
“Bác sĩ gia đình”, khuyến khích dịch vụ y tế phát triển theo hướng chuyên khoa ứng dụng công nghệ cao và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, chuyên gia nước ngoài bằng nguồn vốn huy động từ nhiều nguồn và mở rộng
ra các vùng, hạn chế sự tập trung tại tuyến tỉnh Nhằm từng bước KCB bảo hiểm y tế tại các cơ sở dịch vụ y tế, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong KCB, chia sẻ sự quá tải cho hệ thống y tế công lập Hải Dương sẽ tạo điều kiện mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế phục vụ CSSK nhân dân
Tuy vậy, với trọng trách là một Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực Bắc Bộ và cả nước, Hải Dương vẫn chưa hài lòng với kết quả mà Thành phố đã có được Như vậy tương lai không xa, Hải Dương sẽ có thêm nhiều cơ sở khám, chữa bệnh lớn mang tầm cỡ khu vực, góp phần chăm sóc tốt hơn sức khỏe của người dân
1.4.3 Kinh nghiệm rút ra cho Trà Vinh
Từ nghiên cứu về những kinh nghiệm phát triển dịch vụ y tế của Long
An và Hải Dương cho thấy có thể rút ra một số vấn đề đối với Trà Vinh như sau:
- Đầu tư nâng cao chất lượng và khả năng khám chữa bệnh cho bệnh viện tuyến huyện và trung tâm y tế xã Hiện nay tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh diễn ra nghiêm trọng, trong khi bệnh viện tuyến huyện, và trung tâm y tế xã không được đầu tư thích đáng Nếu nhà nước đầu tư tốt hơn cho các bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế xã thì người dân có thể được hưởng dịch vụ y tế tốt ngay tại địa phương, giảm áp lực cho các bệnh viện tuyến trên
Trang 39- Có chính sách tiền lương đúng đắn nhằm đảm bảo thu nhập cho bác
sỹ đặc biệt là tuyến huyện và tuyến xã Chính sách thu hút bác sỹ về địa phương công tác là cần thiết, nhưng nếu chỉ có chính sách trợ cấp một lần khi mới về công tác là chưa đủ Chính sách này cần đi đôi với công tác tuyên truyền, vận động và có chính sách thu nhập phù hợp với đội ngũ cán bộ y tế
đang làm việc tại Tỉnh để đội ngũ này yên tâm công tác và không có cảm giác
bị Tỉnh “bỏ rơi” khi chỉ quan tâm thu hút người mới về công tác, vừa thu hút thêm sinh viên mới lựa chọn ngành y để theo đuổi nhằm xây dựng đội ngũ y bác sỹ của Tỉnh trong tương lai
- Xây dựng, hoàn thiện một chiến lược cụ thể về phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN
- Phía Bắc: giáp sông Cổ Chiên thuộc tỉnh Bến Tre
- Phía Tây Bắc: giáp huyện Càng Long
- Phía Đông và Đông Nam: giáp huyện Châu Thành
- Phía Nam: giáp huyện Châu Thành
- Phía Tây, Tây Nam: giáp huyện Châu Thành
Có nhiều thuận lợi, do có vị trí địa lý thuộc vùng ĐBSCL giàu tiềm năng và tài nguyên, giao thông đường thủy - đường bộ đều thuận lợi, lại là vùng có thị trường lớn, nguồn lao động dồi dào,… nên tỉnh Trà Vinh có tốc
độ tăng trưởng kinh tế sẽ tiếp tục tăng Trong tương lai, việc đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Trà Vinh xảy ra nhanh và có nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, trong đó công nghiệp – xây dựng, thương mại và dịch vụ
sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của tỉnh
Nhìn chung, đặc điểm tự nhiên của tỉnh ít thuận lợi cho việc giao lưu với các địa phương khác, do đó khi đau ốm người dân cần phải được chăm sóc ngay tại chỗ vì khó có thể di chuyển đến địa phương khác Vì vậy nhu cầu phát triển dịch vụ y tế tại Trà Vinh là rất cần thiết