419 Một số giải pháp hình thành và phát triển dịch vụ tài chính thành phố Đà Nẵng đến năm 2010
Trang 1Danh sách cán bộ tham gia thực hiện đề tài:
- TS Lê Đức Toàn Thành viên BCN
- CN Nguyễn Thanh Tâm Thành vién BCN
- ThS Nguyén Thi Thanh
- CN Hé Ngoc Phuong
Trang 2
MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG VÁN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VẺ THỊ TRƯỜNG
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VẺ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
1.1/ Khái niệm dịch vụ tài chính - che rớ
1.2/ Các loại dịch vụ tài chính - -á ch v St 2t ng nh HH TH ng
1.3/ Gid ca dich vu tai Chit 1n 1.4/ Các chủ thê tham gia thị trường dịch vụ tài chính " 1.5/ Hàng hóa của thị trường dịch vụ tài chính .-cceneeiire
2.4/ Phân tán và giảm thiểu rủi rO c2s-2ckrevxrkrrErkeerxrrrrkerrerkrrrke
2.5/Lành mạnh nên tài chính quốc gia áccc 2S cnnnererererrrec
Ill/ QUAN LY NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI THỊ TRƯỜNG DICH VU TAI CHINH 13
3.1/ Hệ thông khung pháp luật cieeirriiree 3.2/ Hệ thông cơ quan quản lý Nhà nưỚC, cv re
IV/ MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIÊN THỊ TRƯỜNG
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRÊN THẺ GIỚI Ăn ncxng rekersreseee 14 4.1/ Phát triển đa dạng các loại dịch vụ tài chính -ccccececsee
4.2/ Phát triển các chủ thé cung cấp dịch vụ tài chính .-cccccce
4.3/ Xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ tài chính chính sách
4.4/ Từng bước thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất c.e: 4.5/ Chính sách ưu đãi về thUẾ cà SsS SE 22111115711717111211211111211111e115E.ee
1.3/ Dich vu chitng khan cecccecescesssesccecsesessecsesesescsesssesescsusavecscesecsenaees 26
1A? Dich vu ké todn, kim toan es ccccccccccecesecsessseccesecsesssessecsessecsesssssecsesesesseseees 30
Trang 31I/ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TP ĐÀ NẴNG 33
2.1/ Dịch vụ ngân hàng cceerireerrrrrrrerrrrrrrrrrrdrrrtrrrndie
2.2/ Dịch vụ bảo hiểm sẻ 2.3/ Dịch vụ kế toán và kiểm toán
2.4/ Các loại dịch vụ tài chính khác
1U KẾT QUÁ VÀ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 43
3.1/ Những kết qua đạt được cccererrrerrrrrrrrrrrrrririe
3.2/ Những hạn chê của thị trường địch vụ tài chính . cece 44
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG ĐÉN NĂM 2010
QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG
1.1/ Quan điểm - à-ceseieeere sa 1.2/ Định hướng - sàn 2 121 122 2021211171111111 ng
IV/ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIÊỄN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG -óSS St treo 49
4.1/ Phát triển các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính
4.2/ Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính -.- co on neeeeeceeexey 33
4.3/ Phát triển các dịch vụ tài chính hỗ trợ -s-©sc se cv regrrerxez 38
4.4/ Sử dụng ngân sách nhà nước thúc đây phát triển thị trường
địch vụ tài chính c.cc TH HH HH HH Tế HH KH Hà HH HH HT iệp 60 4.5/ Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực dịch vụ tài chính 61
4.6/ Từng bước tham gia hội nhập quốc tẾ -22-©222+222vztrcrxeerrrree 61
V/ CAC DIEU KIEN CAN THIET DE TRIEN KHAI THI TRUONG
DICH VU TAI CHINH TAI THANH PHO DA NANG Luce ceeceseeseseeeeateees 62
5.1/ Đối với Chính phủ và các ngành Trung ương,
5.2/ Đối với các ngành, các cấp của thành phố ¬
KET LUAN oocecccecccsccsecsccssseccsscecsucesucesnvcesusersasesasesssessucsasessavessvecsucssivessessesereetesees 65
Trang 4Công ty chứng khoán ACB (Ngân hàng Thương mại cổ phần châu A)
Khu vực mậu địch tự do ASEAN
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam Chứng khoán niêm yết của Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam Công ty chứng khoán Bảo Việt
Chứng khoán niên yết của Công ty đồ hộp Hạ Long
Công nghiệp hóa
Co sé ha ting Công ty chứng khoán Doanh nghiệp Nhà nước Công ty chứng khoán Đệ Nhất Tổng thu nhập quốc nội
Chứng khoán niên yết của Công ty cỗ phần giấy Hải Phòng
Tổ chức tín dụng
"Trách nhiệm hữu hạn Công ty chứng khoản Thăng Long Thị trường chứng khoán
Trung tâm Giao dịch chứng khoán Công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Tổ chức thương mại thế giới
Xây dựng cơ bản
Xã hội chủ nghĩa
Xuất nhập khẩu
Trang 51 Tính cần thiết của đề tài
Kể từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, thành phố
Đà Nẵng đã có nhiều nỗ lực khai thác tương đối có hiệu quả các nguồn vốn đầu
tư trong nước và ngoài nước để đầu tư nâng cấp hệ thống kết cầu hạ tầng kỹ thuật, phát triển kinh tế-xã hội đã góp phần đưa GDP của thành phố đạt tốc độ tăng trưởng ở mức cao (bình quân hàng năm tăng trên 10,6%) Tuy nhiên, việc
sử dụng các công cụ tài chính huy động vốn còn nhiều hạn chế làm cho tốc độ tăng trưởng GDP chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Theo Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Nghị quyết 33/NQ-TW ngày 16 tháng 10 năm 2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH, HĐH đã xác định lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế thành phố Thực tế cho thấy, thị trường dịch vụ tài chính là môi trường huy động và phân bỗ nguồn vốn đầu tư khá hiệu quả, là điều kiện để hình thành
cơ sở hạ tầng kinh tế của nền kinh tế thị trường, là cầu nối quan trọng giữa những người cung cấp tài chính với những người có nhu cầu tài chính Vì vậy,
việc xây dựng và phát triển thị trường dịch vụ tài chính trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo để thực hiện những mục tiêu phát triển KT-XH
theo hướng CNH, HĐH của thành phố là hết sức cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu nghiên cứu cửa đề tài
- Đánh giá, phân tích tình hình hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính trên địa bàn và tác động của nó đên phát triển kính tế-xã hội của thành phô trong thời gian qua; rút ra được những bài học kinh nghiệm
- Đề xuất các giải “pháp thị trường dịch vụ tài chính phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố và các qui định của pháp luật
- Kiến nghị, đề xuất với Trung ương và các cấp những cơ chế, chính sách
để thúc đây việc hình thành và phát triển thị trường dịch vụ tài chính trên địa bàn thành phố
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của để tài là các chủ thể địch vụ tài chính, các loại hình dịch vụ tài chính Nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Nhà nước về hình thành và phát triển thị trường dịch vụ tài chính để vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phó
Trang 64 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ là những Cơ Sở quan trọng để các
nhà quản ly, nhà chuyên môn nghiên cứu, tham khảo cần thiết cho các tham
mưu, đề xuất cho lãnh đạo thành phố thực hiện đa dạng hóa các loại hình dịch
vụ tài chính, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế của thành phố; tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động thị trường dịch vụ tài chính trên địa bàn; từng bước tham gia hội nhập khu vực và quốc tế trên lĩnh vực này
5 Kết cầu đề tài
Đề tài “Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường dịch vụ
tài chính thành phố Đà Nẵng đến năm 2010” được phân thành 03 phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản vẻ thị trường dịch vụ tài chính
Chương 2: Thực trạng thị trường địch vụ tài chính thành phố Đà Nẵng
Trang 7CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VẺ THỊ TRƯỜNG
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
Ư CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÈ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
1.1/ Khái niệm dịch vụ tài chính
“Một dịch vụ tài chính la bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và
dich vụ tài chính khác “ (Theo Tổ chức thương mại thế giới-WTO)
Để hiểu rõ bản chất và nguồn gốc của khái niệm này cần phân tích quá trình vận động của các dòng tài chính trong nền kinh tế Các nguồn tài chính luôn vận động từ những người cung tài chính tới những người cầu tài chính theo hai phương thức:
- Luân chuyển thẳng tới những người cầu tài chính (tài trợ trực tiếp)
- Luân chuyển tới người cầu tài chính qua trung gian (tài trợ gián tiếp)
Tài trợ trực tiếp là hình thức vận động của các nguồn tài chính một
cách trực tiếp từ người cung tài chính tới người cầu tài chính, nguồn tài chính không dừng lại tại bất kỳ một quỹ tài chính trung gian nào, người cầu tài chính trả chỉ phí sử dụng tài chính trực tiếp cho người cung tài chính Trong hình thức tài trợ trực tiếp, nguồn tài chính có thể luân chuyển tới người cầu tài chính theo
hai hình thức bao gồm tài trợ trực tiếp qua môi giới và tài trợ trực tiếp không
qua mỗi giới
+ Tài trợ trực tiếp qua môi giới là hình thức luân chuyễn các nguồn tài chính trực tiếp, song để người cung và người cầu về tài chính có thể gặp nhau
để thực hiện giao dịch về tài chính cần có một trung gian môi giới, trung gian
này đứng ra dàn xếp việc thực hiện giao dịch tài chính giữa người cung và người cầu tài chính Trong hình thức luân chuyển này khách hàng của trung
gian môi giới sẽ phải trả một khoản phí nhất định đối với dịch vụ môi giới
ngoài chỉ phí sử dụng nguồn tài chính Biểu hiện cụ thể loại dich vu nay: dich
vụ môi giới đầu tư chứng khoán, địch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ đại lý bảo hiểm
* Tài trợ trực tiếp không qua môi giới là một hình thức luân chuyển các nguồn tài chính trực tiếp, trong đó giao dịch tài chính giữa người cung và người cầu tài chính không cần bất cứ một trung gian nào, người cung và người cầu tài chính gặp nhau trực tiếp thoả thuận các điều kiện của giao dịch tài chính Trong trường hợp này, người cầu về tài chính chỉ phải trả cho người cung nguồn tài chính một khoản chỉ phí nhất định để có được quyền sử dụng nguồn tài chính
Trang 8Biểu hiện cụ thể của loại hình dịch vụ tài chính này là hoạt động vay mượn trên thị trường tự do, mua bán chứng khoán trên thị trường ƠTC
Tài trợ gián tiếp là một hình thức vận động gián đoạn của tài chính từ
người cung tài chính tới người cầu tài chính thông qua một trung gian tài chính
Trong hình thức tài chính gián tiếp, người cầu về tài chính không trả chỉ phí sử
dụng nguồn tài chính trực tiếp cho người cung cấp tài chính mà trả cho trung
gian tài chính
Theo cách hiểu này, các hoạt động giao dịch tải chính được thực hiện
theo phương thức luân chuyển qua các trung gian (bao gồm cả trung gian tài
chính và trung gian môi giới) được gọi là dịch vụ tài chính
Bên cạnh các hình thức vận động của các nguồn tài chính nêu trên, con
một số hoạt động cũng có tác động thúc đẩy quá trình luân chuyển các nguồn
tài chính được xếp vào các dịch vụ tài chính như:
- Dịch vụ kế toán, kiểm toán
Dịch vụ tài chính được chia thành các loại cơ bản sau :
1.2.1- Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ liên quan khác
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong những lĩnh vực tạo
lập và cung cấp các tiện ích ngân hàng cho công chúng, đồng thời nó cũng thực
hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng ngoài hoạt động tín dụng (bán buôn) thì ngày càng phát triển các sản
phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng mà xã hội có nhu cầu Các loại hình địch vụ
đó là:
* Dich vụ huy động vốn, bao gồm nhận tiền gửi của dân cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế
* Dich vu cho vay:
+ Cho vay dưới các hình thức: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức
tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn (còn gọi là cho vay đồng
tài trợ), cho vay trả góp, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Trang 9+ Cho thuê tài chính: Cũng là hình thức tài trợ trung và dài hạn gồm: cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các bắt động sản khác theo hợp đồng giữa bên cho thuê và bên thuê; tài trợ để mua sắm thiết bị, nhà xưởng
và được sử dụng trong thời gian hữu dụng của tài sản 2
&
* Dich vu thanh todn: Thanh todén không dùng tiền mặt, chuyển tiền điện
tử, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc, ủy nhiệm thu
s Dịch vụ mua bán ngoại tệ: Thông qua các righiệp vụ trao ngay, kỳ hạn,
hoán đỗi, quyền chọn và nghiệp vụ tương lai
« Dịch vụ môi giới và đẫu tư: môi giới đầu tư chứng khoán, ủy thác, nhận
ủy thác
+ Dịch vụ tư vấn tài chính: Đó là tư vẫn xây đựng các dự án khả thi, tư
vấn về thấm định các dự án đầu tư, tư vấn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, tư
vẫn về môi trường đầu tư, tư vấn quản lý rủi ro, hỗi đoái, tư vẫn giao dịch trên
thị trường ngoại hồi, thị trường tiên tệ
* Dịch vụ giữ hộ, quản lý hộ tài sản tài chính: Nhận giữ hộ tài sản là các loại chứng khoán, vàng bạc, nữ trang, chứng từ sở hữu tài sản và các loại chứng
từ khác; cho thuê phương tiện bảo quản được lap đặt trong phòng ham bao mat kiên cố chống trộm, cháy (như sơ đô)
SƠ ĐÔ CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Nhận tiên gửi Thanh toán Tín dụng
Tư vẫn Giữ hộ, Dịch vụ Dịch vụ môi giới, ủy thác
quản lý hộ _ngoai té nhận ủy thác
Dịch vụ chứng | | Bảohiểm | |Muabánnợ| | Kiểmtoán | |Các HĐ khác
khoán đâu tư hộ trên TTTC
1.2.2- Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm
Bảo hiểm là một quỹ tập trung vốn tiết kiệm nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro và phân tán tôn that trong nén kinh tế Quỹ bao gồm sự kết hợp số nhiều
các đôi tượng đề biên tôn thật cá thê thành tôn thât cộng đông và dự đoán được.
Trang 10Tén that dự đoán này duge phan bé theo tỷ lệ cho các đơn vị được kết hợp (cộng đồng) Sau đó, quỹ lại được đầu tư trở lại vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
- Về phương điện pháp lý, bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong
đó một bên (người bán bảo hiểm) đồng ý nhận một số tiền đã được tính toán
(gọi là phí bảo hiểm) dé bồi thường cho người mua (người được bảo hiểm) về những tổn thất người dy phai chịu đối với sự cỗ nếu xay Ta Người cung cấp
dịch vụ này không bán sản phẩm hữu hình mà bán một loại sản phẩm vô hình,
đó là sự cam kết thực hiện trách nhiệm tài chính, chỉ trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
- Về phương diện nghiệp vụ, bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên
người được bảo hiểm đóng góp một số tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho mình
hoặc cho người khác, trong trường hợp xảy ra sự cố người được bảo hiểm sẽ được nhận một khoản tiền đền bù từ giá nhà bảo hiểm Nhà bảo hiểm nhận toàn
bộ trách nhiệm đỗi với các rủi ro và đền bù thiệt hại theo các điều khoản bảo hiểm đã thỏa thuận
- Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ vì nó có lợi ích để sử dụng và giá cả
của dịch vụ:
+ Giá cả của dịch vụ bảo hiểm là phí bảo hiểm mà người mua bảo hiểm trả cho doanh nghiệp bảo hiểm về dịch vụ mà mình chọn
+ Lợi ích của dịch vụ bảo hiểm là sự cam kết và thực hiện cam kết trả
tiền bảo hiểm tiền bồi thường mà doanh nghiệp trả cho bên mua báo hiểm theo
những điều khoản quy tắc bảo hiểm đã được thống nhất giữa 2 bên
+ Lợi ích được bảo hiểm có hình thức là tiên bảo hiểm được chỉ trả cho
bên mua bảo hiểm nên nó được xếp là một loại dịch vụ tài chính
Có thể phân dịch vụ bảo hiểm thành 2 loại là bảo hiểm nhân thọ và bảo
hiểm phi nhân thọ (bảo hiểm về tài sản và trách nhiệm dân sự) Bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm ngắn hạn (thường là một năm), còn bảo hiểm nhân tho la
bao hiểm dài hạn Nói cách khác bảo hiểm phí nhân thọ huy động nguồn vốn ngắn hạn và bảo hiểm nhân thọ huy động nguôn vốn đài hạn Hai loại hình bảo hiểm này hỗ trợ nhau cùng giúp ổn định và phát triển kinh tế xã hội cho mỗi
quốc gia Ngoài ra còn có các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm như: Dịch vụ tư vẫn, địch vụ đánh giá rủi ro, dịch vụ xử lý bảo hiểm
1.2.3- Dịch vụ chứng khoán và đầu tư tài chính
Trên thị trường chứng khoán để phục vụ nhu cầu của khách hàng, công
ty chứng khoán cung cập các dịch vụ như: Dịch vụ môi giới chứng khoán, dịch
vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán; dịch vụ cho vay, ký quỹ; dịch vụ tư vẫn đầu tư chứng khoán; dịch vụ tự doanh
Những người có vốn thay vì đầu tư máy móc thiết bị để sản xuất kinh doanh cung cấp dịch vụ, hàng hóa thì sẽ đầu tư vào các tài sản tài chính được
Trang 11phát hành bởi những doanh nghiệp cần huy động vốn (như những cổ đông) hoặc thông qua các quỹ đầu tư (của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức Nhà nước, chính quyên địa phương)
1.2.4- Các dịch vụ tài chính hỗ trợ
(1) Dich vu kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính
Kết quả của quá trình thực hiện công tác kế toán trong doanh nghiệp và của quá trình kiểm toán là đưa ra bảng đánh giá tính phù hợp của một thông tin định lượng nào đó nhằm phục vụ cho các tổ chức và cá nhân liên quan Vai trò
của kế toán và kiểm toán là rất quan trọng trong nền kinh tế vì chính các thông
tin đã được kế toán phản ảnh và kiểm toán xác nhận là cơ sở của các quyết định kinh tế liên quan đến hầu hết các quyết định kinh tế
(2) Dịch vụ tư vẫn định giá và phát mãi đấu giá tài sản
Đánh giá là dịch vụ hỗ trợ cho việc phát triển các thị trường như thị trường bán cho thuê doanh nghiệp, thị trường bất động sản, thị trường tài chính Nhu câu về dịch vụ định giá là rất lớn và đa đạng từ phía các cơ quan liên quan, các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và của người dân gồm: đỉnh giá bán nhà,
xưởng thuộc sở hữu nhà nước, định giá tài sản để cỗ phần hóa, bán khoán, cho thuê DNNN, định giá doanh nghiệp để liên doanh liên kết, góp vốn hoặc bán
phần góp vốn cho các bên liên doanh; định giá tài sản phục vụ cho xét xử và thi hành án; tịch thu sung công quỹ; định giá tài sản để thế chấp vay vốn ngân
hang dé bao hiém, dé mua, ban, phan chia tài sản, đền bù tài sẵn
Dịch vụ thanh lý phát mãi tài sản là dịch vụ hỗ trợ cho đoanh nghiệp
trong sản xuất kinh doanh; giúp cho ngân hàng, các tổ chức tài chính thu hồi các khoản nợ, các khoản tài sản đến hạn xử lý
Công việc của công ty (hoặc tổ chức) định mức tín nhiệm là xếp hạng các công ty và lập báo cáo xếp hạng; đánh giá mức độ tín nhiệm của các tô chức phát hành chứng khoán; cung cầp các báo cáo; xếp hạng các loại thương phiếu; trái phiếu công ty, chính phủ, cỗ phiếu ưu đãi; hướng dẫn đầu tư
1.3/ Giá cả dịch vụ tài chính
(1) Giá cả các loại dịch vụ tài chính là một vẫn đề rất quan trọng, có tác
động lớn đến sự phát triển của thị trường cũng như các chủ thể cung cấp dịch
vụ tài chính
Biểu hiện cụ thể là lãi suất huy động tiết kiệm của các tô chức tín dụng, lãi suất cho vay, phí môi giới đầu tư chứng khoán, phí tư vấn đầu tư chứng,
Trang 12khoán, phí kiểm toán, phí bảo hiểm Giá cả các loại dịch vụ tài chính quá cao hay quá thấp đều có tác động tiêu cực đến sự phát triên của thị trường dịch vụ tài chính
Về cơ bản, giá cả các loại dịch vụ tài chính cần phải được hình thành trên
cơ sở thị trường, có nghĩa là do các lực lượng tham gia thị trường (chủ yếu là người cung cấp dịch vụ và người cầu dịch vụ) quyết định; đó là quan hệ cung - câu về các loại dịch vụ tài chính trên thị trường: giá cả các loại dịch vụ tài chính tăng khi cung nhỏ hơn cẩu và ngược lại, giá cả các loại dich vụ tài chính giảm khi cung lớn hon cấu
(2) Tuy nhiên, giá cả các loại dịch vụ tài chính còn chịu sự quản lý và điều chỉnh (nói cách khác là chịu sự can thiệp) của Nhà nước, thậm chí trong một số trường hợp nhất định Nhà nước có thể quyết định mức giá một số loại dịch vụ tài chính nhất định Nhà nước cần thiết phải can thiệp nhằm:
+ Ngăn chặn khả năng xảy ra tình trạng độc quyền giá cả
+ Bảo vệ quyền lợi của các lực lượng tham gia thị trường, ngăn chặn khả
năng xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh
+ Định hướng chính sách giá cả phục vụ mục tiêu phát triển toàn diện
nền kinh tế - xã hội Nếu không có sự điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách giá cả thì các khu vực, các ngành kinh tế có hiệu quả kinh tế thấp sẽ không
có khả năng tiếp cận thị trường dịch vụ tài chính
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, Nhà nước chủ yếu sử dụng các công cụ can thiệp gián tiếp, vĩ
mô để tác động đến việc hình thành các loại giá cả dịch vụ tài chính trên cơ sở
quy luật của thị trường Mặc dù vậy, trong một số trường hợp đặc biệt, nhất là trong trường hợp cần ngăn chặn nguy cơ xảy ra khủng hoảng, độc quyền Nhà
nước có thê áp đặt chính sách can thiệp trực tiếp vào vấn đề xác định giá một số
loại dịch vụ tài chính nhất định
(3) Giá cả các loại dịch vụ tài chính còn là cơ sở để phân biệt các loại dịch vụ tài chính và hoạt động cung cập nguôn tài chính, các vẫn để về kê toán
và kiêm toán thuộc chức trách của Nhà nước
- Quỹ N§NN là quỹ tài chính được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
và cũng được sử dụng cho nhiều mục đích, hoạt động khác nhau; trong đó quá trình luân chuyển nguồn tài chính hình thành quỹ NSNN qua thuế và hoạt động cấp phát vốn NSNN không được xếp vào loại dịch vụ tài chính
- Hoạt động Kiểm toán Nhà nước là một chức năng quản lý, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN đối với các đơn vị có sử dụng NSNN; các đơn vị được kiểm toán không phải trả phí cho Kiểm toán Nhà nước Đồng thời Kiểm toán Nhà nước chỉ thực hiện nghiệp vụ kiểm toán này trên cơ
Trang 13SỞ các quy định của pháp luật về kiểm toán NSNN mà không dựa trên hop đồng kiểm toán Vì vậy, kiểm toán Nhà nước không xếp vào dịch vụ tài chính
1.4/ Các chủ thể tham gia thị trường dịch vụ tài chính
Tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính bao gồm 3 loại chủ thể cơ bản:
- Những người cung dịch vụ tài chính
- Những người cầu dịch vụ tài chính
- Người tổ chức và quản lý thị trường
1.4.1- Những người cung dịch vụ tài chính
- Các tô chức nhận tiền gửi
Dịch vụ tài chính cơ bản mà các trung gian tài chính loại này cung cấp ra thị trường là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ liên quan đến ngân hàng, trong
đó quan trọng nhất là dịch vụ tiền gửi và cho vay tín dụng Các tô chức nhận
tiền gửi được tổ chức dưới các hình thức: Ngân hàng thương mại, Hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính, các quỹ tín dụng
- Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Đó là các loại công ty bảo hiểm, công ty tái bảo hiểm và các quỹ trợ cấp
các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm nhằm mục đích chính
là phân tán và chia sẻ rủi ro trong nền kinh tế, bên cạnh đó là huy động vốn qua phí bảo hiểm, hoặc là tiền đóng góp của người làm công và các ông chủ, sau đó đầu tư lại số vốn này cho nền kinh tế thông qua thị trường tài chính hoặc đầu tư trực tiếp dưới hình thức góp vốn
- Các trung gian đầu tư
Dịch vụ tài chính cơ bản mà các trung gian đầu tư cung cấp ra thị trường
là địch vụ đầu tư gián tiếp thông qua các công cụ tài chính và các dịch vụ có liên quan khác Các trung gian tài chính loại này huy động các nguồn tài chính thông qua việc phát hành các công cụ như cô phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư sau đó đầu tư trở lại trên thị trường tài chính, thị trường tín dụng
Các trung gian tài chính loại này gồm:
+ Quỹ đầu tư (Quỹ đầu tư thông thường, quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư thị trường tiền tệ),
+ Công ty tài chính
+ Công ty thuê mua
- Các trung gian môi giới và tổ chức nghề nghiệp
Các trung gian môi giới, các tổ chức nghề nghiệp cũng tham gia vào hoạt
động cung cap các dịch vụ tài chính nhằm thúc đẩy quá trình luân chuyển các nguôn tài chính trong nền kinh tế như cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán
Các chủ thể thuộc loại này chủ yếu bao gồm: Công ty chứng khoán; Công ty kiểm toán; Công ty tư vấn tài chính
Trang 141.4.2- Những người cầu dịch vụ tài chính
- Chính phủ
Trong trường hợp Chính phủ tiến hành huy động các nguồn tài chính phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển nền kinh tế - xã hội như phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương
- Các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế - xã hội
Các doanh nghiệp; các tổ chức kinh tế - xã hội là những khách hàng quan trọng nhất của dịch vụ tài chính trên cả hai phương diện cung và cầu các nguồn tài chính; của các dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán
- Dân cư
Khách hàng thứ ba của thị trường dịch vụ tài chính là các tang lớp dân
cư, họ chủ yếu là khách hàng của thị trường dịch vụ tài chính khi tham gia vào các dịch vụ gửi tiết kiệm, bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, các hình thức tín dụng tiêu dùng, tín dụng trả góp, vay vốn thành lập doanh nghiệp
1.4.3- Chủ thê tố chức và quản lý thị trường dịch vụ tài chính
Để đâm bảo thị trường dịch vụ tài chính hoạt động có trật tự, công bằng
và bảo vệ được lợi ích của các chủ thé tham gia thị trường, cần có chủ thê đứng
ra tổ chức, quản lý thị trường và đặc biệt là đặt ra các nguyên tắc hoạt động cho từng chủ thê tham gia thị trường cũng như của toàn bộ thị trường
- Chỉ có Nhà nước mới có thể đảm nhiệm chức năng tổ chức và quản lý
thị trường dịch vụ tài chính theo các yêu cầu trên
- Bên cạnh Nhà nước cũng còn một số các chủ thể khác là các tổ chức tự
định chế cũng có khả năng tổ chức và quản lý từng thị trường bộ phận của thị trường dịch vụ tài chính tông thể như Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán, Hiệp hội ngân hàng, Hiệp hội bảo hiểm, Hiệp hội đầu tư tài chính, Hiệp hội kế toán, Song các chủ thể khác (không phải Nhà nước) tham gia tổ chức và quản
lý thị trường dịch vụ tài chính phải dựa trên cơ sở chính sách, khung pháp luật
mả Nhà nước đã định ra
1.5/ Hàng hóa của thị trường dịch vụ tài chính
Hàng hóa của thị trường dịch vụ tài chính là các loại dịch vụ tài chính do
các trung gian tài chính, trung gian môi giới và các tổ chức nghề nghiệp cung
cấp cho các khách hàng như: Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ tư van dau tu chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, dịch vụ tín dụng,
Hàng hoá dịch vụ tài chính phải đáp ứng các yêu cầu
- Chất lượng: Giỗng như các loại hàng hoá thông thường khác, hàng hoá dịch vụ tài chính khi cung cấp cho khách hàng cũng phải đảm bảo về chất
lượng, nhất là các loại dịch vụ môi giới, tư vân tài chính; kế toán, kiểm toán,
định mức tín nhiệm
Trang 15- Khối lượng đủ lớn, chủng loại da dang va phong phú đáp ứng được các yêu cầu khác nhau về dịch vụ tài chính trong nền kinh tế
- Chi phi (gid cả) của dịch vụ tài chính: Cần được hình thành dựa trên cơ
Sở quan hệ cung - cầu của thị trường; song Nhà nước cũng cần phải quản lý và điều tiết được mức giá của loại hàng hóa này trên cơ sở các chính sách kinh tế
vĩ mô, các công cụ của thị trường, tránh hiện tượng độc quyền dẫn đến nâng giá
ép buộc khách hàng
1U VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
2.1/ Thúc đây hoạt động tiết kiệm và tập trung vốn
Day là vai trò cơ bản, quan trọng nhất của thị trường dịch vụ tài chính quốc gia Với sự phát triển của thị trường | dịch vụ tài chính, thông qua hàng loạt các dịch vụ tài chính đa dạng với rất nhiều các sản phẩm tài chính, mọi nguồn tài chính tạm thời nhàn rồi đều được đưa vào tiết kiệm dưới các hình thức khác
nhau như đầu tư cổ phiéu, trai phiéu, gửi tiết kiệm Nói cách khác, thị trường
dịch vụ tài chính đã góp phần thúc đây hoạt động tiết kiệm dưới mọi hình thức của các tằng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội; đồng thời các nguồn vốn nhỏ lẻ trong nên kinh tế được tích tụ, tập trung thành những quỹ tài chính lớn phục vụ nhu cầu dau tu lớn, dài hạn trong nền kinh tế
Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính còn tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ doanh nghiệp dé dang va nhanh chéng tim được nguồn tài chính với chỉ phí phù hợp nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh của mình Ngoài nguồn vốn của chủ sở hữu, vay ngân hàng truyền thống, còn có thể huy động vôn qua TTCK, huy động từ các tổ chức bảo hiểm Chính vì vậy hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế được đây mạnh nhờ yếu tổ về vốn thuận lợi hơn Việc mọi nguôn lực tài chính luôn được
vận động thông qua các dịch vụ tài chính khác nhau làm cho vòng quay của vốn được tăng lên, nói cách khác là khả năng cung ứng về vốn cho đầu tư trong nền kính tế tăng lên
2.2/ Nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, vấn đề thiết lập môi trường và các công cụ cần thiết để Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nên kinh tế, đảm bảo điều kiện để thực hiện chủ trương “phát triển nền kinh tế theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN” là rat quan trọng Đây là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo cho Nhà nước có thê thực hiện tốt vai trò và chức năng quản lý, điều tiết và định hướng đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Thông qua môi đrường là thị trường tài chính nói chung, thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ và các loại công cụ thị trường tài chính đa dạng khác nhau như nghiệp vụ thị trường -› Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội một cách gián tiếp trên tầm vĩ mô
Trang 162.3/ Nâng cao năng lực và hiệu quả sứ dụng các nguồn lực tài chính
Trên thị trường dịch vụ tài chính, hau hết các nguồn lực tài chính được
phân bổ dựa trên tín biệu về hiệu quả của thị trường, chỉ các ngành, lĩnh vực
hoạt động có hiệu quả mới được chú trọng đầu tư và ngày càng phát triển theo
yêu cầu của thị trường, của xã hội Trên cơ sở chế độ tự đánh giá các cơ hội đầu
tư, giám sát quá trình luân chuyển và sử dụng các nguồn lực tài chính của các
chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, hiệu quá sử dụng các nguồn lực tài chính sẽ
tăng lên Nhà nước lúc này chỉ giữ vai trò điều chỉnh gián tiếp theo các quy luật
kinh tế đối với các dòng tài chính trong nền kinh tế nhằm phát triển toàn diện
nền kinh tế - xã hội
2.4/ Phân tán và giảm thiểu rủi ro
Với sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính, hàng loạt các loại dịch
vụ tài chính khác nhau đã và đang hình thành, phát triển; các loại dịch vụ tài
chính này có mức độ rủi ro khác nhau từ rủi ro rất thấp đến rủi ro rất cao, điều
này tạo điều kiện cho cả các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính và các khách
hàng có điều kiện lựa chọn tham gia vào nhiều loại dịch vụ tài chính khác nhau
cùng một lúc, tránh được rủi ro khi chỉ sử dụng được một loại dịch vụ duy nhất
Những người có tiền vốn tạm thời nhàn rỗi, thay vì chỉ gửi tiết kiệm
ngân hàng thì nhờ sự phát triển của thị trường chứng khoán, họ có thể tham gia
đầu tư trên thị trường chứng khoán đưới nhiều hình thức như đầu tư trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, cỗ phiếu, tham gia đầu tư vào hệ thống các quỹ đầu tư Như vậy khi có một SỐ rủi ro xảy ra với một số loại dịch vụ
tài chính nhất định (như một ngân hàng bị phá sản), các cá nhân này
không bao giờ bị mất vốn hoàn toàn mà chỉ bị thiệt hại một phan, hoặc thậm chí vẫn thu được lợi nhuận do các khoản đầu tư vào các loại dịch vụ
tài chính khác mang lại
2.5/ Lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia
Đây là vai trò cơ bản và chủ yếu của dịch vụ kế toán, kiểm toán Thông
qua các hoạt động dịch vụ kiểm toán, tư vấn tài chính, kế toán, các báo cáo tài
chính và kế toán của các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, cơ quan sẽ đảm bảo
được thực hiện đúng chế độ kế toán - tài chính của Nhà nước, phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của đơn vị; những sai phạm về
chế độ tài chính, kế toán sẽ phát hiện được và có các giải pháp khắc phục kịp
thời, tránh gây hậu quả xấu Đồng thời, các doanh nghiệp, các tổ chức có tình hình tài chính yếu kém sẽ được thị trường nhận diện và có các biện pháp xử lý
thích hợp, hạn chế khả năng lây lan và có thé tạo ra cú sốc đối với nền kinh tế,
Trang 17HI/ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI
CHÍNH
Đề đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh, hiệu quả theo các quy tắc, thể lệ thông nhất, quyền lợi của tất các đối tượng tham gia thị trường đều được đảm bảo, cân thiết phải có người đứng ra tổ chức và quản lý thị trường Nhà nước là chủ thể chính, quan trọng nhất, đảm nhiệm chức năng tổ chức và quản
lý thị trường dịch vụ tài chính; một số chủ thể khác là các tổ chức tự định chế
có thể tham gia tổ chức và quản lý thị trường trên một số phương diện nhất định theo sự cho phép của pháp luật Công tác tỗ chức và quản lý thị trường địch vụ tài chính của Nhà nước dựa trên việc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là:
(1) Xây dựng hệ thống khung pháp luật đảm bảo nguyên tắc hoạt động của thị trường,
(2) Xây dựng cơ chế và hệ thống cơ quan Nhà nước triển khai thực hiện các nghiệp vụ cụ thể về quản lý Nhà nước đối với thị trường trên cơ sở hệ thống khung pháp luật đã được ban hành
3.1/ Hệ thống khung pháp luật
Hệ thống khung phám luật do Nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính nói chung và từng loại thị trường dịch vụ tài chính nói riêng Yêu cầu cơ bản đối với hệ thống khung pháp luật là phải thống nhất, ôn định, rõ ràng minh bạch, phải kết hợp vận dụng các tiêu chuẩn chung đã được thừa nhận trên phạm vi quốc tế là:
+ Tính thống nhất, các văn bản quy phạm pháp luật từ mức độ cao nhất
là Luật đến văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành phải phù hợp nhau
+ Tính ổn định, hệ thống văn bản pháp luật phải có tính ôn định tương đối, tức là trong công tác xây dựng pháp luật phải tính toán được sự phát triển của nền kinh tế - xã hội ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo giữ cho hệ thống pháp luật không phải thay đổi trong một thời gian dài
+ Tính minh bạch, hệ thống pháp luật phải rõ ràng, đễ hiểu, tránh hiện tượng vận dụng tùy tiện, vận dụng sai của cơ quan quản lý Nhà nước, hoặc lợi dụng kẽ hở của pháp luật dé trốn tránh, vi phạm pháp luật của các chủ thể chấp hành pháp luật
+ Vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế được thừa nhận, nhất là trong điều kiện quá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế đang ‹ diễn ra mạnh mẽ và sự tham gia của mỗi quốc gia vào quá trình này là một tất yếu khách quan
3.2/ Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước
Chính phủ là cơ quản lý Nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý và điều
hành mọi hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của mình, Chính phủ lại phân công quyền hạn và trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan thuộc và trực thuộc Chính phủ chịu trách
Trang 18nhiệm quản lý và điều hành thị trường dịch vụ tài chính theo từng lĩnh vực nhất địch trên cơ sở nhiệm vụ được giao như: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước
(Ngân hàng trung ương) và các Bộ, ngành khác
Các cơ quan quản lý Nhà nước nêu trên sử dụng hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế vĩ mô khác nhau như: Chính sách tài khoá, Chính sách quản lý nợ, Chính sách thâm hụt và thặng dư ngân sách, Chính sách thuế, Chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái để định hướng và quản lý
sự phát triển của thị trường, đảm bảo thị trường ngày càng phát triển, hoạt động
trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ tốt nhất chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, cơ chế và hệ thống cơ quan quản
lý Nhà nước cần đảm bảo một số yêu câu sau:
#
- Thứ nhất, quản lý Nhà nước không mang tính quản lý hành chính can thiệp trực tiếp, không can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh trên thị
trường dịch vụ tài chính, mà phải mang tính chất quản lý vĩ mô, định hướng
thông qua hệ thông pháp luật và các công cụ tài chính để điều chỉnh thị trường hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, phục vụ các mục đích quản lý vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Thứ hai, hệ thông cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo gọn nhẹ, giảm tối thiểu các thủ tục hành chính gây cản trở cho hoạt động của thị trường
dịch vụ tài chính Vấn đề chính ở đây thống nhất và giảm tối thiểu các đầu mối
quản lý và điều hành thị trường, đồng thời có sự phân công trách nhiệm rõ ràng
giữa các cơ quan đầu mối quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường
dịch vụ tài chính
IV/ MOT SO KINH NGHIEM PHAT TRIEN TH] TRUONG DICH VU TÀI CHÍNH TRÊN THẺ GIỚI
4.1/ Phát triển đa dạng các loại dịch vụ tài chính :
Một trong những động lực quan trọng thúc đây thị trường dịch vụ tài chính phát triển đã được nhiễu nước (bao gồm từ các nước công nghiệp phát triển đến các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới ) thực thi là phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ tài chính trên cơ sở nhụ cầu của thị trường Điều này có nghĩa là thị trường cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ tài chính khác nhau nhằm thỏa mãn nhu câu của mọi đối tượng khách hàng trên thị
trường Từ đó thị trường sẽ được mở rộng, phát triển
Thị trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, hoạt động đầu tư chứng khoán mặc dù hứa hẹn mang lại lợi nhuận rất lớn nhưng nó cũng là hoạt động đầu tu rất phức tạp đòi hỏi người đầu tư phải có trình độ phân tích tài chính khá cao, do đó tại hầu hết các thị trường chứng khoán số lượng các nhà
đầu tư đơn lẻ tham gia đầu tư trực tiếp trên thị trường không lớn Do vậy, để
Trang 19thúc đây cầu về đầu tư chứng khoán, đồng thời cũng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư nhỏ, các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và khả năng
về đầu tư chứng khoán (các nhà đầu tư tiềm năng), tại các nước này đã hình thành và phát triển một số dịch vụ như quỹ đầu tư chứng khoán, tư van dau tư chứng khoán Cụ thể như dịch vụ quỹ đầu tư chứng khoán, thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán khác nhau, các nhà đầu tư tiềm năng có khả năng tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán một cách gián tiếp thông qua việc đầu tư tiền vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán, các quỹ này sau đó sẽ đầu tư số tiền thu được vào thị trường chứng khoán
Tóm lại, việc phát triển đa dạng các loại dịch vụ tài chính, một mặt thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng, mặt khác các loại dịch vụ này còn có tác dụng bé tro lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển Do đó, thị trường ngày
càng nâng cao khả năng thu hút các khách hàng tiềm năng tham gia và như vậy khả năng phát triển càng thuận lợi hơn
4.2/ Phát triển các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính
Việc phát triển các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có một ý nghĩa khá quan trọng trong việc thúc day thị trường này phát triển do nâng cao khả năng cung cấp các loại dịch vụ tài chính cho thị trường, đồng thời tăng tính cạnh tranh trên thị trường - một động lực quan trọng để thúc đây thị trường phát triển Giải pháp đối với vấn đề này đã và đang được nhiều nước trên thé giới áp dụng là:
Thứ nhất, Nhà nước đứng ra thành lập mới các chủ thé cung cấp dịch vụ
tài chính đưới hình thức doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phân trong đó
nhà nước nắm giữ một lượng cô phần tương đối lớn Đây là một giải pháp quan trọng nhằm hình thành và phát triển các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, đặc
biệt là khi cần phát triển các loại dịch vụ tài chính mới gặp nhiều khó khăn do khả năng lợi nhuận thấp; hoặc đối với việc thành lập các tổ chức tài chính nhằm
mục tiêu cung cấp các dịch vụ ưu đãi để khôi phục và thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội sau chiến tranh
Ví dụ như Hàn Quốc vào những năm 1950, 1960 đã quốc hữu hóa một số
tổ chức tài chính và thành lập mới nhiều tổ chức tài chính chuyên doanh thuộc
sở hữu Nhà nước như Korea Development Bank (1954), Ngân hang Nông nghiệp Hàn Quốc (1956), Ngân hàng Cho Hung, Ngân hàng thương mại Hàn
Quốc, Ngân hàng tiết kiệm Hàn Quốc Kết quả của giải pháp này là hàng loạt
Các tổ chức tài chính mới đã ra đời và phát triên, trên cơ sở đó khả năng cung cấp các dịch vụ tài chính cho nên kinh tế tăng lên khá mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu của nên kinh tế Vì vậy, nền kinh tế Hàn Quốc đã nhanh chóng được khôi phục và tạo đà phát triển nhanh, mạnh và đạt nhiều thành tựu như ngày nay
Thứ hai, phát triển đa dạng các loại chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, trong đó đặc biệt chú trọng đến hình thức công ty cỗ phần Đại đa số các nền
Trang 20kinh tế thị trường trên thể giới đều cho rằng, Nhà nước cần chú trọng hơn đến việc tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phan kinh té, khuyén khích các thành phần kinh tế ngoài quôc doanh tham gia đầu tu phát triển kinh tế Trong, đó hình thức công ty cô phần được đặc biệt khuyến khích do có một số ưu điểm: có khả năng nâng cao tiềm lực tài chính dễ đàng và phủ hợp với điều kiện phát triển của doanh nghiệp (phát hành cỗ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng ), thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân, đặc biệt có tác động trở lại đôi với sự phát triển của thị trường dịch vụ đầu tư chứng khoán thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi phát triển thị trường chứng khoán Đây chính là kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới (NICs)
Thứ ba, một vấn đề được các thị trường tài chính phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Tây Au rất quan tâm là việc nâng cao tiềm lực tài chính của các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, thông qua đó nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh các dịch vụ tài chính cung cấp ra thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của các chủ thể này Giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề này đã được nhiều nước thực hiện () cách thứ nhất là tăng von thông qua thị trường chứng khoán (đối với các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính thuộc sở hữu nhà nước, hoặc các doanh nghiệp tư nhân .trước khi tăng vốn qua thị trường chứng
khoán cần thực hiện biện pháp cổ phần hóa), đó là việc các chủ thé cung cấp dịch vụ tài chính tăng vốn điều lệ và thực hiện phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán; (1) cách thứ hai là thực hiện việc hợp nhất hoặc mua đứt
giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính
Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề mua đứt và hợp nhất, Chính phủ các nước
này rất quan tâm đến vấn để độc quyển và hoạt động thôn tính lẫn nhau Để
tránh hiện tượng thôn tính lẫn nhau nhằm hình thành chủ thể cung cấp dịch vụ
tài chính độc quyền, từ đó dễ dàng thao túng thị trường, hầu hết các nước đều ban hành Luật chống độc quyền để hạn chế vấn đề này
4.3/ Xây dựng và phát triển hệ thông dịch vụ tài chính chính sách
Hệ thống dịch vụ tài chính chính sách là một phân rất quan trọng trên thị trường dịch vụ tài chính của nhiều nước, đặc biệt nó đã phát huy hiệu quả rất cao ở các nước NICs, các nước đang phát triển trong thời kỳ khôi phục kinh tế
sau chiến tranh, thời kỳ công nghiệp hóa nền kinh tế quốc gia Đặc điểm chính của dịch vụ tài chính chính sách là Nhà nước ưu tiên các nguồn vốn cho các
khu vực được coi là quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế bằng các biện pháp: Gia hạn các khoản vay đối với các ngành và các khu vực đặc biệt, Ngân hàng Trung ương áp dụng chính sách chiết khấu ưu tiên và ưu đãi về lãi suất cho vay
Trong những năm 1950-1960, khi các nước đang phát triển bắt đầu bước vào thời kỳ hiện đại hóa nền kinh tế, Chính phủ các nước đang phát triển đã quyết định tổ chức lại hệ thống tài chính để đảm bảo việc phân phối các nguồn
Trang 21vốn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- -xã hội của mình Để thực hiện mục đích này, Chính phủ các nước đang phát triển đã thành lập các tổ chức tai chính mới với nhiệm vụ cho vay vốn lãi suất thấp đối với các ngành tiên phong nhằm phát triển công nghiệp; hoặc chỉ đạo các tổ chức hiện có thực thi nhiệm
vụ này Tại nhiều nước, các ngân hàng được chỉ đạo mở chi nhánh tại nông
thôn nhằm hụy động tiền gởi, cung cấp tín dụng tới tiểu chủ phân tán khắp nơi
Kết quả của biện pháp nầy khá khả quan trong suốt những năm 1960, nhiều nước đang phát triển đã tăng trưởng nhanh chóng Tuy nhiên, trong những năm 170, hiệu quả của chiến lược này đã giảm xuông, mức tăng trưởng
kinh tế ở một số nước đã bắt đầu chậm lại Trong những năm 1980, ngoài các
nước Châu Á, chỉ một vài nước đang phát triển có mức tăng trưởng nhanh Đặc biệt hậu quả nghiêm trọng nhất đã xảy ra trong những năm 1990, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á vừa qua Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra cuộc khủng hoảng này được đại đa sô các nước thừa nhận đó là do việc các nguồn tài chính theo sự chỉ đạo của Nhà nước cung cấp tràn lan cho nền kinh tế trong khi hiệu quả sử dụng thấp
Từ cuộc khủng hoảng, các quốc gia này đã rút ra một bài học rất quan trọng là cần phải xây dựng một hệ thống dịch vụ tài chính chính sách hoàn chỉnh, nằm trong tổng thể của thị trường dịch vụ tài chính quốc gia Dịch vụ tài
chính chính sách không cạnh tranh với dịch vụ tài chính thương mại mà chỉ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của dịch vụ tài chính thương mại Cụ thể các
nước này đã buộc phải tiến hành cơ cấu lại trung gian tài chính và toàn bộ hệ
thống tài chính, giảm các biện pháp can thiệp vào thị trường và để các tổ chức
tài chính dựa vào các tín hiệu của thị trường để định hướng việc phân bỗ các
nguồn lực Trong những năm 1980, hơn 25 quốc gia đang phát triển đã tiến hành cơ cấu lại các tổ chức tài chính, trong đó bao gồm cả việc đóng cửa các t6 chức tài chính mất khả năng trả nợ Nói chính xác hơn là các nước nầy đang
tiến hành tách bạch rõ ràng dịch vụ tài chính chính sách và dịch vụ tài chính
thương mại thông qua việc cải tổ hệ thống ngân hàng phát triển và quỹ tiết kiệm bưu điện
4.4/ Từng bước thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất
Một trong những loại giá cả dịch vụ tài chính quan trọng nhất được tất cả
các nước quan tâm là lãi suất Quan điểm và đồng thời cũng là mục tiêu của
chính sách lãi suất ở các nước là từng bước tự do hóa lãi suất theo sự phát triển của thị trường Nhà nước thực hiện quản lý lãi suất bằng các công cụ quản lý vĩ
mô như hệ thống pháp luật, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiêu khâu Đích đến cuối cùng là các tổ chức tài chính được tự do xác định tính chất lãi suất của minh, cạnh tranh nhau thông qua chính sách lãi suất
Thực tế trên thế giới nhiều nước đã tiến hành tự do hóa lãi suất Đối với Hàn Quốc, trước năm 1980, Hàn Quốc bắt đầu nới lỏng về lãi suất, cạnh tranh
Trang 22(cho phép thành lập cơ sở và mở rộng kinh doanh) và nới lỏng quy định về hối đoái Tháng 1/1984, xóa bỏ chính sách lãi suất ưu đãi, đồng thời áp dụng chính sách lãi suất cho vay được ấn định dựa trên khả năng trả nợ của người đi vay
Đài Loan, năm 1989 đã tiễn hành tự do hóa lãi suất và cỗ phần hóa các tổ chức tài chính Singapo, tự do hóa lãi suất năm 1975 và ngoại hối năm 1978, song các dịch vụ tài chính nước ngoài vẫn bị kiểm soát, các tô chức tài chính trong nước được bảo vệ Malaysia tự do hóa lãi suất vào tháng 10/1978 Chính phủ Philipin liên tục nới lỏng chính sách kiểm soát lãi suất từ năm 1981 đến năm 1983, điều này đã tạo ra các kết quả tích cực đối với thị trường tài chính
Các quốc gia đã rút ra một bài học quan trọng, đối với vấn đề tự do hóa
lãi suất là: Nói lỏng dần chính sách kiểm soát lãi suất dé gop phan lanh manh
hóa và phát triển thị trường tài chính, tuy nhiên vẫn cần phải kiểm soát lãi suất
để góp phần lành mạnh hóa và phát triển thị trường tài chính, việc kiểm soát và
nới lỏng từng bước, đi đôi với nó là ô ôn định kinh tế vĩ mô, nhất là lạm pháp và
phát triền các tổ chức tài chính chính thức
4.5/ Chính sách ưu đãi về thuế
Thuế là một nguồn thu của ngân sách nhà nước, đồng thời cũng là một công cụ quần lý vĩ mô quan trọng của nền kinh tế Chính sách thuế đối với từng
loại địch vụ tài chính có tác động lớn đến từng loại dịch vụ tài chính, có tác
động lớn đến sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính do nó tác động đến
chi phi (gid thanh) cua dich vu
Van dé trong bài học kinh nghiệm về việc sử dụng công cụ thuế để thúc đây sự phát t triển của thị trường dịch vụ tài chính là thực hiện chính sách ưu đãi
về thuế (miễn, giảm thuế) đánh vào các loại dịch vụ tài chính mới hình thành, các dịch vụ có tiềm năng phát triển tốt và có tầm quan trọng đối với nền kinh
tẾ, song trước mắt hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ này còn thấp
Ví dụ, để phát triển dịch vụ đầu tư chứng khoán hầu hết các nước đều á ap dụng chính sách miễn giảm thuế cho công ty chứng khoán Tại Hàn Quốc:
Để phát triển thị trường chứng khoán Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách miễn thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập từ đầu tư chứng khoán, miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cỗ đông các : công ty niêm yết, miễn thuế đánh vào các giao dịch chứng khoán cho đến năn 1997, Nhật Bản: Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách đánh thuế thấp hơn vào phần thu nhập của công ty được sử dụng để trả cỗ tức, do phần thu nhập
này bị đánh thuế hai lần khi tính thuế thu nhập cá nhân và chính sách này
chỉ mới được bãi bỏ trong thập kỹ vừa qua
4.6/ Quốc tế hóa thị trường dịch vụ tài chính
Cho đến nay có thé khang định rằng, vấn để quốc tế hóa thị trường dịch
vụ tài chính được xem là một động lực quan trọng thúc đây sự phát triển của thị trường này tại mỗi quốc gia Chính phủ các nước đều xác định mục tiêu quốc tế
Trang 23hóa nhằm: () cho thị trường nội dia; Gi) nang cao số lượng chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính cho thị trường nội địa, thông qua đó nâng cao động lực cạnh tranh trên thị trường để thúc đây thị trường phát triển; (11) tạo cơ hội cho các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính nội địa mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh ra nước ngoài và (1v) thực hiện tiến trình quốc tế hóa chung của toàn bộ nền kinh tế
Van dé co ban trong tién trình hội nhập quốc tế thị trường dịch vụ tài
chính của các nước trên thé giới là mở cửa từng bước cho sự tham gia của các nước ngoài Điều này có nghĩa là Nhà nước kiểm soát sự tham gia của các chủ
thể cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài theo sự phát triển của thị trường nội
địa, khả năng cạnh tranh các chủ thể trong nước, giữ vững sự ổn định và an ninh của thị trường nội địa Giải pháp quan trọng mà các nước sử dụng để giải quyết vẫn đề này là kiểm soát giấy phép hoạt động kinh doanh cấp cho các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài theo khả năng cạnh tranh của thị trường nội địa; nới lỏng dần các quy định tham gia thị trường dịch vụ tài chính nội địa đối với các tổ chức nước ngoài
Theo kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc vấn đề cơ bản trong tiễn trình quốc tế hóa thị trường chứng khoán là cho phép các nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán
Trang 24Dịch vụ ngân hàng là dịch vụ tài chính quan trọng nhất và phát triển
nhất trên thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam hiện nay, đảm nhiệm vai trò
chủ đạo trong hoạt động luân chuyên các nguồn tài chính; bao gồm những loại hình sau:
1.1.1- Dịch vụ huy động vốn
Trên cơ sở các hình thức huy động (gửi tiễn một nơi rút nhiều nơi; gửi tiết kiệm có mục đích; tiết kiệm bằng vàng .) nên số tiền huy động các tổ chức tín dụng không ngừng tăng trưởng Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 là 14,1%; năm 2001: 313%; năm 2002: 33, 6% Huy động vốn qua các ngân hàng thương mại đã thực sự trở thành nòng cốt trong chiến
lược tạo vốn phục vụ cho việc CNH - HĐH đất nước
Bảng 1: Tình hình huy động vốn trong thời gian 1997 — 2002
ĐVT: Ngàn r VNĐ
, Trong đó Năm | Tổngsố | Tiền gửi bằng VNĐ|[ Tiền gửi bằng Tiền gửi bằng
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
Năm 2002, với nhiều giải pháp cạnh tranh thu hút tiền gửi, nhất là VNĐ như tăng lãi suất huy động lên cao, kết hợp với nhiều hình thức khuyến mãi như: Quay thưởng với giá trị lớn, tặng quà, đổi mới phong cách giao dịch, giao nhận tiền tiết kiệm tại nhà với số lượng lớn Do đó, trong điều kiện lãi suất về ngoại tệ giảm thấp, nhưng lượng đô la Mỹ huy động ở các Ngân hàng Thương mại vẫn tăng khá Huy động vốn đạt được mức tăng 118, 65% so với 2001 (Năm 2003, các ngân hàng thương mại dong loạt nâng lãi huy động vẫn, nên tông sé du tién gửi của khách hàng từ các tổ chức tín dung là 304,4 ngàn tỷ đồng, tăng 3,68% so với cuối năm 2002 Trong đó tiền gửi Việt Nam dong 201,7 ngàn tỷ đông, tiền gửi bằng ngoại tệ 102,7 ngàn tỷ đồng)
Trang 251.1.2- Dich vu tin dung
Gồm dịch vụ cho vay, cho thuê tài chính, dịch vụ bảo lãnh Trong đó dịch vụ cho vay và bảo lãnh chiếm tỷ trọng lớn, còn cho thuê tài chính vẫn chưa có điều kiện phát triển mạnh Tính đến 31 tháng 12 năm 2002, tín dụng
đối với nền kinh tế tăng 23, 96 % so với năm trước, trong đó dư nợ cho vay
trung và dài hạn chiếm 40%, tăng 26% so với năm 2001 Tín dụng đã phục vụ cho việc chuyên dịch cơ cấu kinh tế, chú trọng đầu tư phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn phù hợp với định hướng của Nhà nước Lần đầu tiên trong nhiều năm qua dư nợ cho vay tăng cao hơn vốn huy động, cầu lớn hơn cung về vốn, nên lãi suất có xu hướng tăng cao
Bảng 2: Tổng mức dư nợ tín dụng và tốc độ tăng dư nợ
Nguôn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
Dư nợ cho vay tăng mạnh, năm sau luôn cao hơn năm trước Nợ quá
hạn của toàn hệ thống ngân hàng chiếm khoảng 8% trong tông dư nợ Vốn thu hồi đúng hạn so với dư nợ cho vay thường chỉ đạt từ 76% đến 88%, trong đó ngân hàng thương mại Nhà nước đạt 88 đến 90% ngân hàng thương mại cỗ phần đạt 75 đến 80%
1.1.3- Địch vụ thanh toán
Từ giữa năm 1990, bên cạnh các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng, một số ngân hàng thương mại còn cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ (thẻ thanh toán, thê tín dụng, thẻ ATM) trong nước và quốc tế cho khách
Bảng 3: Doanh số thanh toán thẻ tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
DVT: Nghin USD
Nguồn: Báo cáo công tác thanh toản quốc tế VCB các năm qua
Việc mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế trong những năm qua luôn được các ngân hàng quan tâm Với công nghệ mới được áp dụng, các ngân hàng đã
Trang 26thực sự chú ý đến lợi ích cho khách hàng, nên thị phần thanh toán quốc tế được
ổn định trong điều kiện từng bước hội nhập quốc tế và khu vực (xem bảng 4)
Từ giữa năm 2002, NHNN Việt Nam đã đưa vào vận hành chính thức hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử liên ngân hàng trong dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thông thanh toán do ngân hàng thể giới tài trợ đã góp phần đây nhanh tốc độ thanh toán, đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của xã hội
Bảng 4: Thị phần thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
DVT: %
Nam 1997 1998 1999 2000 2001 Téng thi phan (%) 100 100 100 100 100
- Cac NHTMNN 66,2 60,7 61,7 60,2 59,3 Trong đó:
Nguôn: Báo cáo nghiệp vụ thanh toán quốc té cla NHNN VN
Một số Ngân hàng thương mại đang từng bước triển khai dịch vụ ngân hàng hiện đại như: Home Banking, Internet Banking, Phone Banking, song số lượng khách hàng tiếp cận dịch vụ này còn hạn chê
1.2/ Địch vụ bảo biểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm
1.2.1- Dịch vụ báo hiểm
Từ năm 1965 đến 1994, Nhà nước năm độc quyền bảo hiểm; do vậy chỉ
có duy nhất Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam hoạt động trên thị trường đến năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/NĐ-CP về kinh doanh bảo
hiểm; thị trường bảo hiểm Việt Nam có sự thay đổi đáng kể từ khi có thêm 2
doanh nghiệp bảo hiểm mới ra đời, đó là Bảo Minh và Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam Tiếp theo đó là sự ra đời của các công ty bảo hiểm khác,
làm cho thị trường Việt Nam được đa dạng và trở nên sôi động (Bảng 5)
Bảng 5: Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam
Loại doanh nghiệp
2 aed 1993 | 1994 | 1995 | 1996 | 1997 | 1998 | 1999 | 2000 Bao hiém
Trang 27Với số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm tăng lên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trở nên sôi động hơn, cạnh tranh trong việc cập đơn bảo hiểm được diễn ra mạnh mẽ giữa các công ty bảo hiểm trên tất cả các loại hình địch
vụ Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng lên rất cao (Biểu để 1)
Biều đồ 1: Doanh thu phí bảo biểm toàn thị trường từ năm 1994 - 2001
DVT: ty VND
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Nguồn: Thông tin thị trưởng bảo hiểm-Tái BH, số 1/2002
Doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam tăng mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 33,2 % nam Tuy nhién sy phat triển hai loại bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là không đồng đều, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ phát triển với nhịp độ thấp hơn rất nhiều so với bảo hiém nhan tho chi dat 18,32%/nam Mac du đến năm 1996 hoạt động bảo hiểm nhân thọ mới được triển khai, song tăng trưởng bình quân đạt trên 250%/năm Xét trong tương quan với tốc độ tăng trưởng GDP của nên kinh tế, thì sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm cao hơn rất nhiều ( Bảng 6)
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng phí bảo biểm và GDP ở Việt Nam (%)
Nguon: (1): Nién gidm thong ké 1995-2000;
(2): Tính từ số liệu của biểu đô (1)
Tại Việt Nam, doanh thu phí bảo hiểm chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong
GDP của nền kinh tế, tính đến thời điểm năm 2001 tổng doanh thu phí chiếm 0,98% GDP, năm 1999 là 0,58%, năm 1995 là 0,50% GDP Nếu so sánh với
các nước phát triển thì tỷ lệ này là quá nhỏ bé (Bảng 7)
23
Trang 28Bảng 7: Tỷ lệ phí bảo hiểm/GDP ở các nước năm 1995
Tý lệ phí bảo hiểm | Tỷ lộ phí bảo
Nước GDP (%) Nước GDP (%) hiểm
Mỹ 8,60 | Hồng Kông 3,51
Anh 10,33 | Thái Lan 2,43
Nhat 12,78 | Maliaxia 4,28
Thuy Si 10,45 | Indonesia 1,40
Han Quéc 13,16 | Arập xêút 0,57
Trung Quéc 1,17 | Cô oét 0/71
Nguồn: Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính kế toán - Bộ TC- 2003
- Về loại dịch vụ bảo hiểm
Thời kỹ 1993 đến 1999, các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cung, cấp các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm tai nạn con người và bảo hiểm sức khỏe Đến nay đã
có khoản 476 sản phẩm bảo hiểm khác nhau Có thể khái quát một số loại như sau: Bảo hiểm hàng hóa XNK; bảo hiểm hàng hóa vận chuyên trong nước; bảo hiểm thân tàu; bảo hiểm các công trình thăm dò và khai thác dầu khí; bảo hiểm
cháy và các rủi ro đặc biệt (bảng 8)
Bảng 8: Sản phẩm — đoanh thu các loại hình bảo hiểm
hình | Số sản | D thu Sô sản D thu | Sô sản D thu | Số sản | D thu | trưởng DT
BH phâm | Tỷ.Ð | phâm | Tỷ.Ð | phẩm | Tỷ.ĐÐ | phẩm | Tỷ.Ð | bình quân
hàng năm Con 5 150 20 265 40 856 154 | 4.879 41%
người
Tài 12 340 25 979 35 1.195 | 242 | 2.033 16% san
Nguồn: Bảo Việt Đà Nẵng
Hiện nay trên thị trường dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, đã có gần 100 loại sản phẩm khác nhau do 5 doanh nghiệp nhân thọ cung cấp; sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chủ yếu là nghiệp vụ bảo hiểm và nghiệp vụ tiết kiệm Tuy nhiên, hệ
Trang 29thống sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở nước ta khá phong phú đa dạng do sự xuất hiện các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài trên thị trường Việt Nam
- Về chủ thể cung cấp dịch vụ
Đến cuối năm 2002 cả nước có 20 doanh nghiệp bảo hiểm với 14 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 05 doanh nghiệp bảo hiém nhan tho (tinh ca Bao
Việt nhân thọ thuộc Tổng công ty Bảo hiểm), 02 doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm Trong đó 4 doanh nghiệp Nhà nước, 4 Công ty cổ phần, 6 công ty liên
doanh và 6 Công ty 100% vôn nước ngoài (phụ lục 1)
- Về khách hàng sử dụng dịch vụ
Đối với hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ, hiện nay khách hàng sử dụng dịch vụ chủ yếu là các doanh nghiệp, các tỗ chức nói chung Đại bộ phận các cá nhân ở Việt Nam chưa biết đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm trực tiếp với các
doanh nghiệp bảo hiểm và bảo vệ tài sản, trách nhiệm dân sự và tính mạng cho
mình; Ngược lại, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ chủ yếu được cung cấp cho cá nhân Đến năm 2001, đã có gần 2% dân số mua bảo hiểm nhân thọ, xu hướng
tý lệ này sẽ tăng lên cao trong vài năm tới (bảng 9)
Bảng 9: Tỷ trọng khai thác một số sản phẩm so với tiềm năng-năm 2002
TT Loại sản phẩm Tý trọng khai thác so với tiềm năng
1| Tai nạn con người 3,61% tổng tiết kiệm
2 | Tai nan hoc sinh 12% số lao động làm việc trong các ngành kinh té_
3 | Tai nạnhành khách | 45,86% tổng số học sinh
4 | Vat chat xe 40,4% xe ô tô các loại và 10, 53% số xe máy
3 | Xây lap 7,17% vẫn dầu tư từ nguồn trong nước và 90,91% vỗn
đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 | Dâu khí 4,27% tông giá trị đầu tư cho ngành dầu khí
7_| Hàng xuất 6,55% kim ngạch hàng XK
8 _| Hàng nhập 30,76% kim ngạch hàng nhập khẩu
9_ | Nông nghiệp 1% cây trồng vật nuôi
Nguôn: Bảo Việt Đà Nẵng
1.2.2- Các dịch vụ có liên quan đến bảo hiểm
- Dịch vụ tái bảo hiểm
Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính là Công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp duy nhất trên thị trường Việt Nam
Trên thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn tiến hành các hoạt động tái
bảo hiểm trực tiếp cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác hoặc các doanh nghiệp
tái báo hiểm Tuy nhiên, hoạt động tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế chỉ
được một số doanh nghiệp bảo hiểm lớn hoặc các doanh nghiệp bảo hiểm có
liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện được Còn toàn bộ
Trang 30các doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ đều thực hiện chuyển nhượng toàn bộ dịch vụ cần tái bảo hiểm qua Công ty tái bảo hiểm quốc gia Theo Laật kinh doanh bảo hiểm ngày 22/12/2000 và Thông tư số 71/2001/TT-BTC của Bộ Tài chính ra
ngày 01/8/2001, các doanh nghiệp bảo hiểm phải tái bảo hiểm bắt buộc 20%
phí dịch vụ bảo hiểm cho Công ty tái bảo hiểm quốc gia
Tốc độ tăng trưởng phí nhận tái bảo hiểm tăng lên với nhịp độ bình quân 36ó%/năm; tuy nhiên phí nhượng tái bảo hiểm cũng tăng lên với tỷ lệ cao, bình quân 28,5%/năm
- Các dịch vụ trung gian bảo hiểm: Được hình thành từ đầu những năm
1990, khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã bắt đầu phát triển Tuy nhiên từ đó
cho đến năm 1997, các dịch vụ trung gian bảo hiểm còn phân tán, bán chuyên nghiệp dưới dạng các khách hàng làm cộng tác viên hưởng hoa hồng Nhìn chung, các hoạt động này có vị trí nhỏ bé Hoạt động trung gian bảo hiểm chỉ thực sự phát triển mạnh khi xuất hiện các doanh nghiệp: bảo hiểm nhân thọ Hiện nay toàn bộ các Công ty bảo hiểm nhân thọ đều sử dụng việc phân phối
sản phẩm thông qua đại lý Mạng lưới đại lý bảo hiểm nhân thọ đã nhanh chóng
được mở rộng; sô lượng đại lý chuyên nghiệp tính đến thời điểm 2002 là 40.300, tăng 2,35 lần so với năm 2000
- Dịch vụ khác: Do thị trường hình thành muộn, chưa hoàn chinh nên
các dịch vụ tư vấn, giám định, đánh giá rủi ro chưa được chuyên nghiệp hóa, chưa có nhiều các chủ thể độc lập đứng ra cung cấp các dịch vụ này Cho đến nay, trên thị trường cả nước chỉ có 2 công ty giám định bồi thường chuyên nghiệp là: 1 Công ty 100% vốn nước ngoài (Mỹ) và 1 Công ty cô phan Hoat động của các doanh nghiệp này chỉ tập trung vào một số thành phố lớn với những khách hàng lớn của các doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.3- Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm
Đến cuối năm 2002 tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ có thể cung cấp đầu
tư của tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm (chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ) đã lên đến 6.700 tỷ đồng Với quỹ đầu tư ngày càng lớn, ngành bảo hiểm từng bước khẳng định vị trí không thể thiếu trong hệ thông trung gian tài chính phi ngân hàng trong chu trình huy động và tài trợ vốn đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam
Tuy nhiên phần lớn vốn được đầu tư vào tiền gửi tại các ngân hàng, các
doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu tập trung vào các tài sản đầu tư ngăn hạn có tính thanh khoản cao Các tài sản đâu tư chiến lược là chứng khoán và cho vay chưa thu hút được các doanh nghiệp bảo hiểm, trong khi môi trường pháp lý đã
mở ra thông thoáng hơn
1.3/ Dịch vụ chứng khoán
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam mới hoạt động chính thức từ ngày 28/7/2000 So với các dịch vụ tài chính khác, địch vụ chứng khoán là một loại
Trang 31hình kinh doanh dịch vụ khá mới mẻ ở Việt Nam Các dịch vụ chứng khoán thường được thực hiện bởi các công ty chứng khoán; ngoài ra còn có các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham gia triển khai loại hình dịch vụ này
Sau ba năm chính thức đi vào hoạt động, trên TTCK Việt Nam đã có LI CTCK được cấp giấy phép hoạt động, trong đó có 9 CTCK đủ điều kiện thực hiện toàn bộ 5 nghiệp vụ kinh đoanh Từ khi thành lập, các CTCK đều tập trung phát triển nhân lực và bồi dưỡng đội ngũ nhân sự, phát triển mạng lưới kinh doanh và hoàn thiện dần các quy trình nghiệp vụ, Vì vậy, ngoại trừ 5 tháng cuối năm 2000 khi mới bắt đầu hoạt động, trong năm 2001 và 6 tháng đầu năm 2002 kết quả kinh doanh của các CTCK đều có hướng phát triển tốt Nếu năm 2000 chỉ có 3 (trong số 7) công ty báo cáo có lãi thì năm 2003 đã có tới 7 công ty Các chỉ tiêu báo các tài chính cho thấy tính đến 31/12/2001 các CTCK có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng thanh toán được bảo đảm Hiện nay cơ cấu doanh thu của các CTCK đã có sự thay đổi đáng kế Trong giai đoạn đầu, doanh thu từ vốn kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của các CTCK và tiếp đến là các nghiệp vụ như tự doanh, môi giới thì hết qui 1/2002, doanh thu từ hoạt động môi giới và tự doanh đã chiếm tỷ lệ dang ké (Bang 10)
Bảng 10: Kết cấu doanh thu và lãi đầu tư của các CTCK năm 2001
ĐVT: triệu đồng
Lãi đầu tư 118 68 0 141 0 2376 191 | 2437
Tông cộng 7745 4060 4411; 4825| 1369 9150 | 3632| 4473
Nguồn: Báo cáo tông kết 2 năm hoạt động TTCK Việt Nam, UBCKNN
1.3.1- Dịch vụ mỗi giới chứng khoán
Giao dịch môi giới chứng khoán đã tăng đáng kể trong 2 năm qua Tính
đên tháng 7/2002, đã có gân 12.000 tài khoản giao dịch chứng khoán của khách
Trang 32hàng mở tại các CTCK (trong đó có 21 nhà đầu tư có tô chức và 33 nhà đầu tư nước ngoài), tăng gấp 5 lần so với thời điểm tháng 8 năm 2000 và gấp 2 lần so với thời diém thang 8/2001 Một số công ty đã thu hút được khách hàng đến
mở tài khoán và có tổng giá trị môi giới mua bán chứng khoán cho khách hàng khá cao (như: BVSC, SSI, ACBS, BCS) và là hoạt động mang lại nguồn thu
nhập chủ yêu trong tông thu nhập của các CTCK ( biểu đồ 2)
Biểu đồ 2: Số lượng tài khoản mỡ tại các CTCK qua hai năm hoạt động
Trong năm 2001, các CTCK đã nghiên cứu, xây dựng và đã ban hành nghiệp vụ môi giới, đồng thời đã đưa phần mềm giao dịch vào hoạt động nhằm
hệ thông hóa hệ thông giao dịch Do vậy nghiệp vụ môi giới đã từng bước được
các CTCK thực hiện 6n định và phát triển Năm 2001 tông doanh thu của các
công ty chứng khoán là 35,152 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ dịch vụ môi giới
là 9,328 tỷ đồng chiếm gần 26,54% Trung bình giá trị giao dịch trong một phiên năm 2001 là khoáng 6 tỷ đồng, bình quân mỗi phiên một CTCK thu được
6 triệu đồng phí môi giới
Việc thực hiện quy định ký quỹ 100% trước khi lệnh giao dịch, ưu tiên
thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty đã được các công ty thực hiện khá nghiêm túc và an toàn Năm 2002, các CTCK đã phối hợp cùng Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hà Chí Minh thực hiên quy trình thanh toán T+3; tăng số phiên giao dịch trong tuần lên 5 phiên Việc triển khai quy trình thanh toán này đã góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị trường Ngoài việc thanh toán các giao dịch mua bán chứng khoán, các CTCK cũng đã thực hiện tốt việc thanh toán chỉ trả cổ tức, trái tức kịp thời, chính xác cho các loại chứng khoán lưu ký tại các CTCK (BVSC đã thanh toán cỗ tức, trái tức cho 20 triệu cỗ phiếu, trái phiếu và IBC đã thanh toán cỗ tức, trái tức cho 13 triệu cỗ phiếu, trái phiếu lưu ký tại công ty )
vé phí giao dịch: nếu như trong năm 2001, hầu hết các công ty chứng khoán áp dụng mức phí giao dịch như nhau và bằng với mức phí trân do Bộ Tài
28
Trang 33chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định thì sang năm 2002, các công
ty chứng khoán liên tục thông báo giảm phí môi giới nhằm thu bút khách hàng (Bang 11)
Bang 11: Mire phi giao dịch hiện hành của một số CTCK
- CTCK còn hạn chế Tổng giá trị tự doanh được các CTCK thực hiện trong năm
2001 là 34 tỷ đồng bằng 1,6% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường; mặt khác,
do nhận định, đánh giá và chiến lược kinh doanh của từng công ty khác nhau
nên mức độ và chủng loại chứng khoán được đầu tư giữa các CTCK cũng khác
nhau: BSC và IBS tập trung phần lớn trong tổng vốn tự doanh của mình vào trái phiếu Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và trái phiếu chính phủ;
FSC và BVSC đầu tư vảo cổ phiếu niêm yết, ACBS đầu tư vào cổ phiếu chưa
niêm yết
1.3.3- Dịch vụ tư vẫn chứng khoán
Dịch vụ tư vấn được các CTCK thực hiện dưới nhiều hình thức là tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, tư vấn tài chính, tư vấn cổ phần hóa và tư vấn đầu tư chứng khoán Dịch vụ này nhằm tới các đối tượng công ty cổ phần có nhu cầu phát hành, niêm yết, và các nhà đầu tư chứng khoán
- Tư vẫn phát lành chứng khoán: Phần lớn các CTCK chưa chú tâm đến dịch vụ này, cho đến năm 2003 mới có 4 công ty triển khai địch vụ tư vấn phát hành, trong đó SSI đang là đơn vị dẫn đầu trên lĩnh vực này
- Tự vẫn niêm yết chứng khoán: Với nhiều lý do khác nhau mà số
lượng các doanh nghiệp đã chính thức ký hợp đồng tư vấn niêm yết với các
CTCK chưa nhiều
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: Hầu hết các công ty chứng khoán đã tiến hành hoạt động tư vấn miễn phí cho các nhà đầu tư cá nhân Việc làm này
Trang 34một phần giúp nhân viên của các CTCK nâng cao nghiệp vụ, tạo dựng hình ảnh của công ty, định hướng đầu tư cho khách hảng Ngoài ra, nhằm cung cấp thêm thông tin cho nhà đầu tư, một số CTCK còn phát hành các bản tin chứng khoán hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, bản tin nội bộ, đưa lên trang Web những
thông tin, phân tích và nhận định về thị trường
1.3.4- Dịch vụ bảo lãnh và đại lý phát hành
Hiện nay mới có một số ngân hàng thương mại và 2 công ty chứng
khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trái
phiếu Quỹ hỗ trợ phát triển Một số CTCK khác như: IBS, SSI, BSC, ARSC
cũng đã triển khai nghiệp vụ đại lý phát hành cho các công ty cỗ phần có nhu cầu phát hành thêm cỗ phiếu
1.3.5- Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư
Trung tâm giao dịch chứng khoán mới có 3 công ty thực hiện nghiệp vụ
này, đó là BVSC, BSC và 1BS Đối tượng khách hàng mà công ty này nhận ủy
thác đầu tư bao gồm các khách hàng là cá nhân và tổ chức
1.3.6- Dịch vụ lưu ký chứng khoán
Đến cuối năm 2002, có 99,13 triệu cô phiếu được niêm yết với tổng giá
- trị thị trường là 3.012,4 tỷ đồng; tý lệ cổ phiếu lưu ký trung bình khoảng 60%,
trong đó cao nhất là cỗ phiếu HAP, CAN, BBC Để khuyến khích các nhà đầu
tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán, trên cơ sở đó triển khai các dịch vụ
khác về chứng khoán, hầu hết các công ty chứng khoán đều chưa thu phí đối
với việc cung cấp địch vụ lưu ký chứng khoán
Ngoài các dịch vụ trên, một số công ty chứng khoán còn kết hợp với các
tổ chức tín dụng, công ty viễn thông cung cấp thêm một số dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động đầu tư chứng khoán như: Cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay bảo chứng, ứng trước tiền bán chứng khoán, theo đối giao dịch, đặt lệnh giao dich
mà không cần đến sàn của công ty, ký hợp đồng lưu ký chứng khoán, quản lý danh sách cỗ đông với các công ty cỗ phần chưa niêm yết cỗ phiếu
1.4/ Dịch vụ kế toán, kiểm toán
1.4.1- Chủ thể cung cấp dich vụ kế toán, kiểm toán
Dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam chính thức hoạt động sau khi Bộ Tài chính quyết định thành lập Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công
ty dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán - AASC (5/ 1991), đây là Các
tổ chức đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán độc lập và dịch vụ tư van
tài chính kế toán
Trang 35Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển, ở Việt Nam đã có 46 Công ty
kiểm toán thuộc đủ các thành phân kinh tế với hơn 60 chỉ nhánh và văn phòng
tại các địa phương, Công ty kiểm toán đang hoạt động ở Việt Nam gồm có 6
công ty Nhà nước, 4 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, 1 công ty liên doanh
và các công ty cô phần, công ty TNHH Sự ra đời của các công ty kiểm toán phù hợp với chủ trương, đa dạng hóa các thành phần kinh tế Cùng với sự có mặt của một công ty kiểm toán hàng đầu thế giới tại Việt Nam chứng tỏ loại
hình địch vụ này đang tiếp cận dần với hệ thống kiểm toán, kế toán quốc tế
Chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán của các công ty Việt Nam dần được nâng cao và được quốc tế thừa nhận, thể hiện qua việc tập đoàn BDO quốc tế
công nhận là hãng thành viên đối với Công ty kiểm toán Việt Nam; Công ty
TNHH kiểm toán và dịch vụ tư vấn tài chính kế toán Thủy Chung; Công ty
Kiểm toán và tư vấn Tài chính kế toán Sài Gòn (AEC)
1.4.2- Đội ngũ nhân viên hành nghề dịch vụ kế toán, kiểm toán
Bộ Tài chính đã tổ chức các kỳ thi tuyển kiểm toán viên cấp Nhà nước
cho người Việt Nam va sát hạch cho người nước ngoài và đã cấp trên 500 chứng chỉ kiêm toán viên Tính toàn bộ nhân viên làm việc trong các công ty kế
toán, kiểm toán, thì hiện nay có khoảng trên 2.100 người, trong đó 30% có
chứng chỉ kiểm toán viên
1.4.3- Các loại hình địch vụ kế toán, kiểm toán
Bảng 12: Tỷ trọng các loại hình dịch vụ kế toán, kiểm toán
DVT: %
Ty trong = 5 x x các loại hình dịch vụ Năm 1999 |Năm 2000 | Năm 2001 | Năm 2002 | Kiệm toán báo cáo tài chính 62,0 59,6 58,1 57,5 Kiêm tóan báo cáo quyêt toán
XDCB 9,7 11,3 11,9 11,5
Tu van tài chính, kế toán, thuê 18,3 192 20,1 21,0 Dich vu dao tao 3,0 5,2 5,0 5,2 Dich vu khac 7,0 4,7 4,9 4,8
Nguồn: Giải pháp phát triển dich vụ tài chính kế toán - Bộ TC 2003
Tỷ trọng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính và tư vấn tài chính, kế toán, thuế chiếm ty trong xAp xi 80%, trong đó cé dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm gần 60% Tuy nhiên, tỷ trọng nay có xu hướng giảm di so với tổng giá trị dịch vụ kế toán, kiểm toán nói chung Điều này không có nghĩa là
giá trị dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính bị giảm mà do các loại hình dịch vụ
khác ngày càng tăng lên (như bảng 12)
Trang 361.4.4- Đối tượng được cung cấp dich vu kế toán, kiểm toán
Theo quy định của pháp luật hiện hành đối 'tượng của kiểm toán chủ yếu
là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, ngoài ra còn có các đơn vị bành chính sự nghiệp và các tổ chức khác khi có nhu câu Trên thực tế khách hàng của các công ty kiểm toán chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và doanh nghiệp Nhà nước
Số lượng các loại hình doanh nghiệp, các đơn vị HCSN và các dự án
quốc tê, có nhu cầu được cung cấp dịch vụ kê toán, kiêm toán còn quá thập so với yêu câu bắt buộc của Nhà nước và của công chúng
Các doanh nghiệp Nhà nước thường chọn các công ty kiểm toán thuộc
Bộ Tài chính vì giá phí vừa phải, am hiểu các vấn đề liên quan đến thông lệ
Việt Nam; trong khi đó các công ty có vốn nước ngoài chưa an tâm về chất lượng của các Công ty kiểm toán Việt Nam hoặc do các công ty mẹ chỉ định vì vậy thường chọn các công ty kiểm toán nước ngoài, công ty liên doanh
Mặt khác các công ty kiểm toán của Việt Nam chưa có đủ điều kiện (pháp lý, năng lực, vôn, ) để vươn ra thị trường quốc tê Ngay cả với khách hang trong nước, các công ty kiểm toán Việt Nam cũng chưa đủ điêu kiện để tham gia độc lập kiểm toán mà chỉ tham gia với tư cách là đông kiêm toán
1.4.5- Phạm vi và qui mô của thị trường kiểm toán Việt Nam
- Về doanh thu: Doanh thu của ngành kiểm toán đã đạt tốc độ tăng
trưởng cao, bình quân 27,5%/năm (như bảng 13)
Bảng 13: Doanh thu của toàn bộ công ty kế toán, kiểm toán từ 1997 - 2000
Cty Kiểm toán Cty Kiểm toán Cty Kiểm toán Năm | Tổng có vốn ĐTNN _ La DNNN Khac
ue doanh Doanh thu Phan Doanh thu Phan Doanh Phan
ién | thu (tỷ đồn ) trăm (tỷ đồn ) trăm thu ` trăm
Nguân: Báo cáo tổng kế! 10 năm kiểm toán độc lập
Về cơ cấu doanh thu giữa các loại chủ thẻ, thấy rằng thì các doanh nghiệp kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng khá lớn, vào khoảng 75% doanh thu của toàn ngành
Trang 37Tuy nhiên, từ năm 1999 tốc độ tăng doanh thu của ngành dịch vụ kế toán, kiểm toán đã có chiều hướng giảm dân do ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở các nước Đông Nam Á; việc áp dụng thuế suất thuế VAT 10%; Số dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm, quy mô nhỏ, một số dự án phải tạm ngừng hoạt động và giải thể làm giảm số lượng khách hàng của các công ty kiểm toán; yêu cầu kiểm toán bắt buộc của Nhà nước chưa được thực hiện nghiêm và đối tượng còn ít
- Kết quả hoạt động kinh doanh:
Ngành dịch vụ kế toán, kiểm toán hiện nay nhìn chung chưa thu được lợi nhuận Cụ thể toàn ngành kiểm toán 1998 lỗ 66 tỷ đồng, năm 1999 lỗ 84 tỷ đồng Tuy nhiên, khi phân tích kết quả kinh doanh của các công ty kiểm toán sẽ thấy sự khác biệt giữa các công ty là doanh nghiệp Nhà nước và công ty có vốn
đầu tư nước ngoài
+ Toàn bộ các công ty kiểm toán là DNNN đều có lãi: Năm 1998 lãi 9,8
tỷ đồng; năm 1999 lãi 10,4 tỷ đồng
+ 04 Công ty kiểm toán có 100% vốn đầu tư nước ngoài và | công ty
liên đoanh đều bị lỗ, năm sau tăng hơn năm trước, năm 1998 lỗ 76 tỷ đồng;
Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, thị trường dịch vụ tài chính
đã có bước phát triển, khai thác có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ
cho phát triển kinh tế - xã hội
Các Ngân hàng thương mại không ngừng phát triển, mở rộng mạng lưới hoạt động Năm 1999, chỉ có 12 Chỉ nhánh cấp I nhưng đến năm 2003 đã có 18 Chi nhánh cấp I, hàng chục Chi nhánh cấp II, Phòng giao dịch (với 59 điểm giao dịch trên địa bàn) tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tiếp cận dễ dàng nguồn vốn và dịch vụ ngân hàng
2.1/ Dịch vụ ngân hàng
2.1.1- Dịch vụ huy động vốn
Bằng các hình thức huy động vốn phong phú như tiết kiệm định kỳ, tiết
kiệm bậc thang, tiết kiệm tích lũy, chứng chỉ tiền gởi, kỳ phiếu, trái phiếu với
lãi suất hấp dẫn, phù hợp cho từng loại kỳ hạn, có tặng quà, dự thưởng nên