1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

12 câu hỏi tủ ôn thi triết học

47 500 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 506 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cái bị tiêu tan, bị bác bỏ chính là giới hạn hiểu biết trước đây về vật chất, là quan điểm siêu hình, máy móc trong nhận thức khoa học cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về cấu trúc;

Trang 1

CÂU 1:

ĐỊNH NGHĨA CỦA LÊNIN VỀ PHẠM TRÙ VẬT CHẤT Ý NGHĨA VỀ MẶT THẾ

GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

I PHÂN TÍCH ĐỊNH NGHĨA

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ xuyên suốt trong lịch sử triết học Việc giải quyết nó đã tạo nên hai khuynh hướng trái ngược nhau trong thế giới khách quan: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Tất cả những quan điểm cho rằng vật chất là cái có trước, vật chất quyết định ý thức thì đó đều là những quan điểm duy vật Tuy nhiên, khi nói về định nghĩa vật chất, các nhà duy vật trong lịch sử lại có nhiều cách trả lời khác nhau

Theo các nhà duy vật cổ đại thì vật chất đó là những vật thể cụ thể Ví dụ ở Trung Hoa, các nhà duy vật cho rằng vật chất bao gồm các yếu tố như: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Ở Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại thì lại coi thực thể của thế giới là các chất như: đất, nước, lửa, không khí

Đến thời kỳ phục hưng, thế kỷ 17, 18, khoa học tự nhiên - thực nghiệm châu Âu phát triển khá mạnh, đặc biệt là học thuyết nguyên tử cổ đại đã được phát triển lên một tầm cao mới Tuy nhiên, các nhà khoa học lại cho rằng nguyên tử là phần tử nhỏ nhất trong thế giới và không thể phân chia được Từ đó họ đã quy vật chất về nguyên tử và quan niệm rằng nguyên tử là bất biến Ngoài ra, các nhà khoa học cũng đã đồng nhất vật chất với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học, nguồn gốc vận động nằm ngoài vật chất Có thể nói, cùng với sự phát triển của khoa học, chủ nghĩa duy vật trong thời kỳ này nói chung và phạm trù vật chất nói riêng đã có bước phát triển mới, chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng, nhưng vẫn còn tồn tại một hạn chế đó là đã quy vật chất vào những dạng vật thể cụ thể.

Tóm lại, quan sự phân tích tất cả những quan điểm trước Mác về vật chất, chúng ta thấy các nhà duy vật trong thời kỳ này chưa có một quan điểm đúng về vật chất do mắc phải các nhược điểm sau: Thứ nhất, đó là tính máy móc thể hiện ở việc đã quy vật chất vào những vật thể cụ thể Thứ hai, là tính siêu hình, cho rằng những vật thể đó là bất biến, không thay đổi Thứ ba, là sự duy tâm về mặt xã hội thể hiện qua việc chưa hiểu được đâu là vật chất, đâu là tinh thần trong xã hội, và cái nào quyết định cái nào.

Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi xuất hiện những phát minh mới trong lĩnh vực khoa học tự nhiên như: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, học thuyết tiến hóa, học thuyết tế bào và đặc biệt là sự phát hiện ra điện tử, chứng minh điện tử là một trong những

Trang 2

thành phần phần cấu tạo nên nguyên tử, khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà là khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử Những quan điểm đó là bước tiến mới của loài người trong việc nhận thức và làm chủ giới tự nhiên, bác bỏ quan niệm siêu hình về vật chất Những quan điểm đương thời về giới hạn tột cùng của vật chất là nguyên tử hoặc khối lượng sụp đổ trước khoa học Và đây cũng chính là mãnh đất để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng cho rằng “vật chất” của chủ nghĩa duy vật đã biến mất, nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã sụp đổ.

Chính trong hoàn cảnh như vậy, triết học Mác ra đời và đã kế thừa thành quả của các quan điểm trước đó về vật chất, đồng thời dựa vào những tiến bộ của khoa học tự nhiên hiện đại để có thể đức ra một định nghĩa đúng về vật chất Tuy nhiên, Mác và Ănggen đã không đưa ra một định nghĩa cụ thể về vật chất mà chỉ nêu lên một số kết luận như sau:

Thứ nhất, không được quy vật chất vào vật thể cụ thể, vào những dạng tồn tại cụ thể của vật chất như những nhà duy vật trước đó đã làm, mà phải từ những dạng tồn tại cụ thể ấy tìm thấy được những thuộc tính chung nhất giữa chúng để đưa vào phạm trù vật chất, đó chính là thực tại khách quan hay nói cách khác vậ chất chính là thực tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người.

Thứ hai, thực tại khách quan này không độc lập và tách khỏi sự vật cụ thể mà chỉ thông qua những dạng vật thể cụ thể đó mới biết được thực tại khách quan.

Thứ ba, có vô vàn những dạng vật chất khác nhau và khoa học sẽ ngày càng phát hiện ra những dạng vật chất mới, nhưng không phải vì thế mà vật chất tiêu tan.

Kế thừa những quan điểm của triết học trước Mác, những tư tưởng của Mác và Aêngen, đồng thời tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên, Lênin đã chỉ rõ rằng vật chất không bị tiêu tan, CNDV không bị bác bỏ Cái bị tiêu tan, bị bác bỏ chính là giới hạn hiểu biết trước đây về vật chất, là quan điểm siêu hình, máy móc trong nhận thức khoa học cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về cấu trúc; rằng giới hạn cuối cùng, bất biến của giới tự nhiên là nguyên tử hoặc khối lượng… Từ đó Lênin đưa ra định nghĩa về vật chất cụ thể như

sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho

con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Như vậy, định nghĩa về vật chất của Lênin bao gồm

những nội dung cơ bản sau:

Trang 3

- Thứ nhất, vật chất là một phạm trù triết học

Theo Lênin, vật chất là một phạm trù “rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đến nay, thực

ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được” Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi, còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, nó sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại đã làm.

- Thứ hai, vật chất là thực tại khách quan

Thực tại tức là có thật dù mắt thường có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy, ví dụ như: đất, đá, nhà cửa, màu của ánh sáng… Khách quan, theo Lênin là cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người Đây là khái niệm đối lập, mâu thuẫn với khái niệm chủ quan như: tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, ý thức… Trong đời sống xã hội, vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người Nói cách khác, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được

- Thứ ba, vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người.

Vật chất chính là cái tác động lên các cơ quan cảm giác và gây ra cảm giác, vật chất chính là nguồn gốc của cảm giác Con ngừơi có thể nhận thức được thực tại khách quan nhờ các giác quan của mình, sự hiểu biết của con người chính là hình ảnh về thực tại khách quan Giác quan của con người có tầm quan trọng trong quá trình nhận thức Nó như cầu nối giữa khách quan với hiện thực, nhận thức của con người được phát triển, được nâng lên một tầm cao là nhờ có các giác quan VD: con người hoàn thiện thị giác của mình bằng kính viễn vọng; hoàn thiện thính giác của mình bằng điện thoại di động, máy bộ đàm…

- Thứ tư, cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất

Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Ýù thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Ý thức phản ánh vật chất một cách tích cực, chủ động, sáng tạo Mặc dù vật chất quyết định ý thức nhưng ý thức cũng có sự tác động trở lại đối với vật chất.

II Ý NGHĨA

Với những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất trong định nghĩa của Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn, thể hiện như sau:

Trang 4

- Thứ nhất, định nghĩa này đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước

Mác về vật chất, nó giúp phân biệt giữa vật chất và vật thể, chỉ rõ vật thể là biểu hiện của vật chất Nó đưa ra một quan điểm đúng đắn về vật chất khi cho rằng vật chất chính là thực tại khách quan

- Thứ hai, quan điểm này đã góp phần chống lại các quan điểm duy tâm và giải quyết

đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, đó là vật chất là cái có trước và quyết định ý thức, ý thức phản ánh vật chất một cách chủ động, sáng tạo Khi khẳng định vật chất là cái được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục được những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình, máy móc về vật chất.

- Thứ ba, định nghĩa này đã mở đường, định hướng cho các ngành khoa học cụ thể phát

triển trong việc tiếp tục tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới Những khám phá mới trong các ngành khoa học chẳng những không bác bỏ định nghĩa về vật chất của Lênin mà ngược lại, càng khẳng định tính đúng đắn của nó, và đòi hỏi các nhà khoa học lẫn các nàh duy vật biện chứng không ngừng rèn luyện tư duy, bổ sung tri thức.

Thứ tư, khi nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của Lênin

đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức xản xuất Trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển Hơn nữa, định nghĩa còn khắc phục quan niệm duy tâm về tính thứ nhất của tinh thần, đặc biệt quan niệm duy tâm về xã hội Từ định nghĩa của Lênin còn có thể suy rộng ra về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội

III CÁC THUỘC TÍNH CƠ BẢN CỦA VẬT CHẤT

1 Khách quan.

2 Vận động.

3 Không gian và thời gian.

4 Tính phản ánh.

Trang 5

CÂU 2:

Ý THỨC DO ĐÂU MÀ CÓ? BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC?

Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác-Lênin góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên đây.

I NGUỒN GỐC CỦA Ý THỨC

1 Nguồn gốc tự nhiên:

Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, CNDV biện chứng cho rằng ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất như các nhà thần học và duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người

Bộ óc của con người là cơ quan vật chất của ý thức, ý thức là chức năng của bộ óc con người, ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người Do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường Vì vậy kh6ng thể tách rời ý thức khỏi hoạt động của bộ óc Ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người Con người là sản phẩm cao nhất của quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, và bộ óc con người là một dạng vật chất có tổ chức, cấu trúc đặc biệt tinh vi, phức tạp Quá trình ý thức và quá trình sinh lý trong bộ óc con người không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặt của một quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức

Khi khoa học kỹ thuật tạo ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con người thì không có nghĩa là máy móc có ý thức như con người Máy móc là một kết cấu kỹ thuật còn con người là một thực thể xã hội Máy móc không thể thay thế cho hoạt động trí tuệ của con người, không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người Do đó, chỉ có con người với bộ óc của nó mới có ý thức.

Nhưng tại sao bộ óc con người, một tổ chức vật chất cao lại có thể sinh ra được ý thức? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta phải nghiên cứu mối liên hệ vật chất giữa bộ óc với thế giới khách quan Chính mối liên hệ vật chất ấy đã hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào óc người.

Trang 6

Phản ánh là một thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động) Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động Đây là điều quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực Ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người Ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người Ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất – thuộc tính phản ánh – phát triển thành Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người bộ óc người là cơ quan phản ánh song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra

Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh) cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

2 Nguồn gốc xã hội:

Để cho ý thức ra đời, ngoài nguồn gốc tự nhiên thì cần phải có một điều kiện không thể thiếu nữa đó là những tiền đề, nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những QHXH

Lao động theo Mác, là một quá trình diễn biến giữa người và tự nhiên, trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại Lao động cung cấp cho con người những phương tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo

ra cả bản thân con người Nhờ có lao động, con người tách ra khỏi giới động vật Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó

Ý thức với tư cách là hoạt động sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động làm biến đổi thế giới xung quanh Vì thế có thể nói rằng, lao động tạo ra ý thức tư tưởng hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người.

Trang 7

Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính tập thể xã hội Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tư tưởng cho nhau xuất hiện Chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ.

Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội vừa là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông itn, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.

Tóm lại, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết đinh sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các QHXH Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.

II BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC:

CNDVBC dựa trên cơ sở lý luận phản ánh coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

Ý thức cũng như vật chất đều là “hiện thực” nghĩa là đều tồn tại Nhưng giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh Vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức, còn ý thức là hiện thực chủ quan, là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất Vì vậy không thể tách rời vật chất với ý thức

Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, thì đó không phải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật, mà đó chính là ý thức của con người Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo Ý thức lại ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên ý thức cũng mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội

Tính sáng tạo của ý thức thể hiện rất phong phú Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những giả thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao… Những khả năng ấy càng nói lên tính chất phức tạp và phong

Trang 8

phú của đời sống tâm lý – ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng ấy.

Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người là quá trình năng động, sáng tạo thống nhất

ba mặt sau:

- Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này mang tính

chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết.

- Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất đây là

quá trình “sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.

- Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình hiện thực hóa tư

tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực

Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chấ Sáng tạo của ý thức là sáng tạo sủa sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần.

Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất của ý thức Yù thức là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.

Ý thức là một hiện tượng xã hội, sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn lịch sử, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh học mà chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định Ý thức mang bản chất xã hội.

III KẾT CẤU CỦA Ý THỨC

- Tình cảm (thể hiện trong các mối quan hệ)

- Tri thức (cái phản ánh thế giới khách quan, là phương thức tồn tại của ý thức)

- Tự ý thức (điều chỉnh hoạt động của mình)

Trang 9

CÂU 3:

TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP

LUẬN ĐƯỢC RÚT RA TỪ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG ĐÓ?

I MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Chúng ta biết rằng vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của triết học đó là tìm cách giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù vật chất và ý thức, nhằm vạch ra những định hướng cơ bản để giải quyết các vấn đề khác của triết học Đây cũng chính là nội dung chính của cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa CNDV và CNDT trong lịch sử triết học cho đến ngày hôm nay

Theo quan điểm của CNDT, thì thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó Hay nói cách khác, họ cho rằng trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì ý thức là yếu tố sản sinh ra vật chất và quyết định vật chất.

Các quan điểm của CNDV trước Mác mặc dù đã thấy được vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nhưng không thấy được sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất Và

do vậy, những nhà duy vật cổ đại đã không thể giải quyết một cách toàn diện mối quan hệ giữa hai phạm trù triết học này.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen về vật chất, khắc phục những hạn chế của CNDV máy móc, siêu hình lẫn CNDT, Lênin đã nêu lên định nghĩa về

vật chất với nội dung như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại

khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

Với những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất trong định nghĩa của Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn Định nghĩa này đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất, nó giúp phân biệt giữa vật chất và vật thể, chỉ rõ vật thể là biểu hiện của vật chất Quan điểm này đã góp phần chống lại các quan điểm duy tâm và giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, đó là vật chất là cái có trước và quyết định ý thức, ý thức phản ánh vật chất một cách chủ động, sáng tạo Định nghĩa này đã mở đường, định hướng cho các ngành khoa học cụ thể phát triển trong việc tiếp tục tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới Khi nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Từ đó giúp các nhà khoa học có

cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những

Trang 10

nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức xản xuất Trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển

Về phạm trù ý thức: đó là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người

(nguồn gốc tự nhiên) và là một sản phẩm của xã hội, là một hiện tượng xã hội (nguồn gốc xã hội) Xét về bản chất thì ý thức là là sự phản ánh thế giới xung quanh lên bộ não người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Trước khi tìm hiểu, phân tích về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chúng ta cần phải khẳng định việc đem đối lập vật chất và ý thức chỉ nhằm giải quyết vấn đề nhận thức luận, vấn đề cơ bản của triết học, ngoài điều đó ra mọi sự đối lập đều trở nên vô nghĩa Bởi vì bản thân hoạt động của con người là sự hoạt động có ý thức, do đó mọi sự chia tách siêu hình đều không thể hiện được sự thống nhất này.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thể hiện trên hai nội dung sau:

- Thứ nhất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; quyết định ý thức

+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau bởi vì: ý thức là ý thức của con người, mà con người chỉ xuất hiện lần đầu tiên cách đây khoảng bốn triệu năm, trong khi đó thế giới vật chất đã tồn tại trước khi có loài người xuất hiện Do đó, về mặt khoa học đã chứng minh rất rõ vật chất là cái có trước ý thức.

+ Vật chất là nguồn gốc của ý thức bởi vì: xét về nguồn gốc tự nhiên của ý thức thì đó là bộ não người đang hoạt động và thế giới khách quan tác động vào các giác quan của con người Còn về nguồn gốc xã hội của ý thức thì đó là lao động và ngôn ngữ Chúng ta thấy rõ rằng cả bốn yếu tố tạo thành nguồn gốc của ý thức đều thuộc về phạm trù vật chất, vì chúng tồn tại khách quan và đều là những dạng vật chất cụ thể Do đó, chúng ta có thể kết luận vật chất chính là nguồn gốc của ý thức.

+ Vật chất quyết định ý thức: tức là vật chất quyết định nội dung, hình thức biểu hiện của ý thức, khi vật chất thay đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo Bởi vì ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới vật chất khách quan, mọi tâm tư, tình cảm,… của con người có được là do những cái bên ngoài tác động vào các giác quan của con người.

- Thứ hai, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người.

Tuy nhiên, bên cạnh việc khẳng định tính có trước và quyết định của vật chất đối với ý thức, CNDV cũng đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất Ý thức

do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

Trang 11

CNDV đã chỉ ra tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức trong hoạt động của con người, hoạt động xãhội, làm biến đổi tự nhiên và biến đổi chính mình

Nói vai trò của ý thức là nói tới vai trò của con người vì chỉ có con người mới có ý thức Bản thân ý thức tựnó không trực tiếp làm thay đổi được gì trong hiện thực Nhưng ý thức chỉ đạo hoạt động của con người vànhờ đó mà thế giới vật chất mới được cải tạo

Ví dụ: mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải được truyền bá vào quần chúng để định hướngcho họ hoạt động

Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người bắt đầu từ khâu nhận thứcquy luật khách quan, vận dụng đúng đắn những quy luật ấy và phải có ý chí, phương pháp để tổ chức hànhđộng Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật kháchquan của đồi tượng Trên cơ sở ấy, con người có thể xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướnghoạt động phù hợp, cũng như trong việc xác định các biện pháp để tổ chức thực hiện các hoạt động thựctiễn Cuối cùng, bằng nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra

Ý thức, tư tưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng đắn và thành công, mở đường chothực tiễn khi phản ánh đúng thế giới khách quan Ngược lại, nó cũng có thể làm cho con người hoạt độngsai và thất bại khi phản ánh sai thế giới khách quan, mà nguyên nhân là do trình độ nhận thức kém đẫn đếnlý luận sai, phương pháp sai hoặc có trường hợp là vì lợi ích của chủ thể nhận thức mà đôi khi họ xuyên tạchiện thực

Vì vậy phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cảitạo thế giới khách quan, đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lạitrong quá trình đổi mới hiện nay

II Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Việc nhận thức mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức mang lại một số ý nghĩa quan trọng sau:

- Thứ nhất, nếu vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; quyết định

Ví dụ: khi con người đề ra đường lối, chủ trương, chính sách hoặc mục đích cho mình thì không được thuầntúy xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ cuộc sống hiện thực, có như vậy mới có khả năngthực hiện trên thực tế Tuy nhiên, điều này rất khó đạt được, mà sự sai lầm của ĐCSVN là một minh chứng,thể hiện qua bệnh chủ quan, duy ý chí đã từng tồn tại trong một thời kỳ lịch sử; cũng như ngay sau khi giành

Trang 12

được chính quyền, chúng ta đã vội vàng thực hiện việc công hữu hóa mọi thành phần kinh tế, điều đó làmột sai lầm và chúng ta đã phải trả giá Nguyên nhân của sai lầm này là do chúng ta không căn cứ vào tìnhhình thực tế của đất nước trong thời kỳ này, nhất là trên lĩnh vực kinh tế.

+ Muốn giải thích những hiện tượng về tinh thần phải xuất phát từ đời sống vật chất của chính nó.

Ví dụ: đời sống vật chất của nhân dân ba miền ở Việt Nam là khác nhau, điều đó chi phối sự hình thành,phát triển nhân cách, quan niệm, quan điểm sống… của mỗi người dân ở ba miền Bắc, Trung, Nam là khônggiống nhau

- Thứ hai, nếu ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người thì:

Trong đời sống xã hội của mình, con người phải phát huy tính năng động, chủ quan tức là phát huy vai trò của ý thức để nó có thể tác động trở lại vật chất theo hướng tích cực Phải bồi dưỡng, phát huy ý kiến cá nhân, phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, sự nhạy bén nắm bắt cái mới; phát huy nhân tố con người.

Ví dụ: con người phải biết tôn trọng tri thức khoa học, làm chủ tri thức khoa học, biến tri thức khoa học củanhân loại, của các ngành khác thành tri thức của mình, đó vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của mộicá nhân Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải tìm mọi cách để truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng đểđịnh hướng cho họ hành động, tạo nên sức mạnh toàn dân

- Thứ ba, khắc phục chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ; khắc phục cả những biểu hiện của chủ nghĩa duy kinh tế, xem kinh tế là nhân tố duy nhất, xem thường các nhân tố tinh thần trong đời sống xã hội.

Thực tế ở Việt Nam là một minh chứng sinh động cho các vấn đề trên Bên cạnh những thành tựu đã đạtđược trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật kháchquan trong việc xác định mục tiêu, bước đi về xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cải tạo XHCN và quản lýkinh tế… Vì vậy từ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và từ những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, Đạihội Đảng lần thứ VII đã rút ra bài học quan trọng là: “Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng phảixuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ trương “lấy việc phát huynguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, muốn vậy “phải khơi dậytrong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quất cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nướcnhà ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu”

CÂU 4:

TRÌNH BÀY HAI NGUYÊN LÝ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT NGUYÊN TẮC

PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ HAI NGUYÊN LÝ ĐÓ?

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản,những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phhổ

biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Vì thế Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

I NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

Trang 13

1 Căn cứ khoa học:

Chủ nghĩa duy bật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữacác sự vật, hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhaubao nhiêu song chúng đều là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vậtchất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác độngqua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đó, triết học biện chứng đã đưa

ra nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Trước khi tìm hiểu, phân tích nguyên lý này, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm mối liên hệ Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, cự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới

Cũng cần thiết phải phân biệt giữa liên hệ với quan hệ Quan hệ chỉ là cái thoáng qua, không phải là bắtbuộc Còn liên hệ thì mang ý nghĩa sâu hơn, nó chi phối sức mạnh của sự vật

2 Nội dung của nguyên lý này thể hiện chủ yếu như sau:

Trong thế giới vật chất có vô vàn những mối liên hệ và chúng diễn ra trong một khoảng không gian, thờigian nhất định Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng mang những thuộc tính như: tính khách quan; tính phổbiến và tính phong phú, đa dạng Nguyên nhân tạo nên những thuộc tính này của mối liên hệ là do thế giớivật chất tồn tại một cách khách quan, là một thể thống nhất và thế giới này cũng rất đa dạng, phong phú

- Thứ nhất, mối liên hệ là khách quan, là vốn đó của mọi sự vật, hiện tượng Ngay cả những vật vô tri, vô

giác cũng đang hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác như: ánh sáng, nhiệtđộ, độ ẩm… Con người, một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên, dù muốn hay không cũng luôn bị tácđộng bởi các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân Ngoài sự tác động của tựnhiên như các sự vật khác, con người còn tiếp nhận sự tác động của xã hội, của vô vàn những mối liên hệchằn chịt Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình đểgiải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của bản thân con người và của xã hội

- Thứ hai, mối liên hệ mang tính phổ biến, thể hiện:

+ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nàonằm ngoài mối quan hệ Điều này được chứng minh một cách sinh động thông qua sự xuất hiện của xuhướng toàn cầu hóa, khu vực hóa mọi mặt của đời sống xã hội trên thế giới Trong thời đại ngày nay, khôngmột quốc gia nào không có những mối quan hệ, liên hệ với các quốc gia khác trên một số lĩnh vực của đờisống xã hội

Còn nếu xét về khía cạnh không gian và thời gian, tính phổ biến thể hiện ở bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nàocũng tồn tại những mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các mặt trong bản thân một sự vật, hiệntượng với nhau

+ Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều kiện nhất định Song dù dướihình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất, và phép biện chứngduy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới mà thôi

Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới còn cho thấy rõ tính đa đạng, phong phúcủa nó Dựa vào tính đa dạng đó, người ta phân chia các mối liên hệ thành những cặp khác nhau như: mốiliên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bảnchất và mối liên hệ không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên…

Trang 14

- Thứ ba, mối liên hệ mang tính đa dạng, phong phú.

Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ thể hiện ở chỗ giữa các sự vật khác nhau, trong những không gianvà thời gian khác nhau thì mối liên hệ giữa chúng cũng sẽ khác nhau

Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân sự vật và hiện tượng quyđịnh tính đa dạng của mối liên hệ Đo đó, trong một sự vật, có thể bao gồm rất nhiều loại mối liên hệ, chứkhông phải chỉ có một cặp mối liên hệ xác định

Mỗi loại mối liên hệ đều có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật Vì dụ: mối liênhệ bên trong là sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt củamột sự vật Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật Mối liên hệ bênngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ này nói chung không giữ vai trò quyết địnhđối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trongmới có thể tác động đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật

Các cặp mối liên hệ khác cũng có quan hệ biện chứng giống như mối quan hệ biện chứng của cặp mối liênhệ nêu trên Đương nhiên mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng Trong các cặp mối liên hệ đó nóichung mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định Song tùytheo những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể các mối liên hệ tương ứng với chúng có thể giữa vai trò quyết định.Nói cách khác, vai trò quyết định của mối liên hệ trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.Sự phân chia từng cặp mối liên hệ như vậy chỉ có ý nghĩa tương đối bởi vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là mộthình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ có thể chuyển hóa lẫnnhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sựvật Ví dụ khi xem xét các doanh nghiệp tồn tại với tư cách là các đơn vị độc lập thì mối liên hệ giữa chúnglà mối liên hệ bên ngoài Trong quá trình vận động và phát triển của mình các doanh nghiệp kết hợp vớinhau thành tổng công ty, thì mối liên hệ giữa các doanh nghiệp lại trở thành mối liên hệ bên trong

Tuy sự phân chia có tính tương đối nhưng lại rất cần thiết bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xácđịnh trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để cócách tác động phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình

3 Ý nghĩa:

Khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tức phải xem xét rất nhiều mốiliên hệ tác động vào sự vật đó, nhưng đồng thời phải chỉ ra được đâu là mối liên hệ cơ bản nhất, mối liênhệ bên trong chi phối sự tồn tại, phát triển của sự vật đó

Quan điểm này khác với quan điểm xem xét một cách dàn trải, chung chung, đại khái và đối lập với quanđiểm xem xét phiến diện, chỉ xét sự vật, hiện tượng trong một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chấthay về tính quy luật của chúng

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, cácyếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác, kể cả mối liênhệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Bởi vì chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật Cànghiểu được nhiều mối liên hệ, con người càng ít phạm sai lầm

Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải chú ý tới mốiliên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên,… để hiểu rõ bản chấtcủa sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản

Trang 15

thân Đương nhiên trong nhận thức và hành động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữacác mối liên hệ ở những điều kiện nhất định.

Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phảichú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sựvật khác Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tácđộng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác phải biết tranh thủ thời

cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa đưa lại

Phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể: phải đặt đối tượng vào đúng không gian, thời gian, mối liên hệtrong quá trình nhận thức và tự nhận thức

Chúng ta biết rằng mối liên hệ chi phối sức mạnh của sự vật Do đó, trong quá trình hoạt động thực tiễn xâydựng CNXH phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vũkhí tối tân không bằng toàn dân đoàn kết”

II NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

1 Cơ sở khoa học:

Thế giới vật chất luôn vận động, vận động là sự biến đổi nói chung và khuynh hướng tất yếu của vận độnglà phát triển Trên cơ sở quan niệm đó, CNDV biện chứng đã đưa ra nguyên lý về sự phát triển

2 Nội dung nguyên lý:

Trước khi tìm hiểu nội dung nguyên lý này, chúng ta cần có một cái nhìn cơ bản về sự vận động và pháttriển Giữa vận động và phát triển có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:

Giống nhau: vận động là tự thân vận động, do các mặt đối lập trong cấu trúc vật chất liên hệ tác động qualại làm cho sự vật biến đổi Tương tự như vậy, phát triển cũng là sự tự phát triển

Tư tưởng cơ bản của nguyên lý: tất cả các sự vật, hiện tượng ở trạng thái động nằm trong khuynh hướngchung là phát triển nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn của sự vật; cách thức của sự phát triển làlượng của sự vật thay đổi dẫn đến chất của sự vật thay đổi; còn khuynh hướng của sự phát triển không phảidiễn ra theo một đường thẳng mà là một đường quanh co phức tạp được biểu diễn bằng đường xoắn ốc đilên, đây là quá trình phủ định của phủ định, trong đó cái mới ra đời thay thế cái cũ và hết mỗi một chu kỳsự vật lại lặp lại dường như cái ban đầu nhưng ở mức độ cao hơn

Quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ravừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan haytrong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp,thậm chí có những bước lùi tạm thời

Trang 16

Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng đẫn đến sựthay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc Điều đó có nghĩa là qua quá trình phát triểndường như sự vật ấy quay trở về thời điểm khởi đầu, song trên cơ sở mới cao hơn.

Quan điểm DVBC khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn trongchính sự vật quy định Nói cách khác đó là quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật Dođó cũng là quá trình tự thân của mọi sự vật

Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, CNDVBC khẳng địnhsự phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật

Sự phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động mà chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động – xuhướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Sự phát triển chỉ là một trườnghợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển của mình, trong sự vật sẽ hình thành dần dầnnhững quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động,chức năng vốn có theo chiều hường ngày càng hoàn thiện hơn

Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực, tùy theo hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất

Ví dụ như sự phát triển ở giới vô cơ, giới hữu cơ sẽ có những biểu hiện khác nhau; sự phát triển của xã hội,của tư duy, của mỗi con người là không giống nhau

Như vậy, sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân conngười và trong tư duy Nếu xem xét từng trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên, vân động tuầnhoàn, thậm chí có những vận động đi xuống Song nếu xem xét cả quá trình vận động với không gian vàthời gian dài thì vận động đi lên là khuynh hướng chung của mọi sự vật

Sự phát triển có các thuộc tính đó là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

- Thứ nhất, tính khách quan

Bởi vì nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tụcnhững mâu thuẫn nẩy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật Vì thế sự phát triển là tiến trình kháchquan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người

- Thứ hai, tính phổ biến.

Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bấtcứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan Chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tưduy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và pháttriển

- Thứ ba, tính đa dạng, phong phú: Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng Song mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tồn tại ở không gian, thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi Điều đó càng thể hiện tính đa dạng, phong phú của sự phát triển của sự vật Dù sự vật, hiện tượng có thể có những giai đoạn vận động đi lên như thế này hoặc như thế khác nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh hướng chung.

3 Ý nghĩa:

Trang 17

Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt độngcủa bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển, phải tin tưởng vào sự ra đời, sự thắng lợi của cái mới.Điều đó có nghĩa là khi xem xét, đánh giá bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong trạngthái động nằm trong khuynh hướng chung là phát triển, phải tìm ra được nguồn gốc, cách thức, khuynhhướng cụ thể của sự phát triển ấy, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa chúng.

Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật mà còn phải thấyrõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như nhữngbiến đổi có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướngbiến đổi chính của sự vật

Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấythành những giai đoạn Trên cơ sở ấy tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúcđẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó

Quan điểm phát triển góp phần chống lại tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thứcvà hoạt động thực tiễn của chúng ta Chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ lực của bản thân trong việchiện thức hóa quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của bảnthân và của toàn xã hội

Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch - sử cụ thể,quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiệnthực, cải tạo chính bản thân chúng ta

Trong quá trình phát triển của sự vật, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, sự phát triển của sự vật cũng khônggiống nhau Vì vậy khi xem xét sự vật, cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể Quan điểm lịch sử - cụ thểđòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụthể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Một luận điểm nào đó là luận điểmkhoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác

Quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể có mối quan hệ mật thiết, không tách rời nhau Toàndiện nhưng phải cụ thể, cụ thể lại phản ánh sự toàn diện

Để xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, baogiờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trongtừng giai đoạn và trong từng thời kỳ đó Dĩ nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũngbổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể

CÂU 5:

TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT TỪ NHỮNG THAY

ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

I VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN:

Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bêntrong của mỗi một sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Quy luật xã hội và quy luật tự nhiên có đặc điểm chung là hoàn toàn khách quan nhưng quy luật tự nhiênthì diễn ra có tính chất tự phát, không cần con người tác động vào, tồn tại vĩnh viễn Trái lại, các quy luậtxã hội phải thông qua hoạt động có ý thức của con người Mặc dù vậy nó vẫn mang tính khách quan vì thế

Trang 18

hệ đang sống không bao giờ làm lại những gì mà tiền nhân của họ đã làm, họ chỉ kế thừa những thành quảcủa thế hệ trước mà thôi Đến thế hệ của họ, điều kiện sống lại quy định những nhiệm vụ mới cũng như họphải tự đặt ra nhiệm vụ cho mình căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Vật chất quyết định ý thức, hoạt động của con người mang tính năng động, sáng tạo nhưng vẫn phải tuânthủ những quy luật khách quan về sự phát triển

Quy luật lượng chất là một trong ba quy luật cơ bản của phép BCDV và nó có vị trí, vai trò rất quan trọng giúp ta hiểu rõ hơn nguyên lý về sự phát triển, cụ thể quy luật này trình bày cách thức của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất

Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng là một chỉnh thể thống nhất giữa lượng và chất Vì vậy để hiểuđược một cách sâu sắc về quy luật này, trước hết chúng ta cần nắm vững một số khái niệm cơ bản như chấtlà gì, lượng là gì

Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính nhưng không phải thuộc tính nào cũng biểu hiệnchất của sự vật Chỉ những thuộc tính cơ bản khi được tổng hợp mới tạo thành chất của sự vật Chính chúngquy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mớithay đổi hay mất đi

Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thứcliên kết giữa các yếu tố tạo thành Trong hiện thực, có những sự vật được tạo thành bởi các yếu tố giốngnhau song chất của chúng lại khác nhau Ví dụ như kim cương và than chì đều có cùng thành phần hoá họclà các nguyên tố cácbon, nhưng do phương thức kiên kết giữa các nguyên tử cácbon là khác nhau vì thế chấtcủa chúng hoàn toàn khác nhau Kim cương rất cứng, còn than chì lại mềm hơn Trong một tập thể nhấtđịnh nếu phương thức liên kết giữa các cá nhân biến đổi thì tập thể đó có thể trở nên vững mạnh hoặc sẽ trởthành yếu kém, nghĩa là chất của tập thể ấy đã biến đổi Từ đó, có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vậtphụ thuộc cả vào sự thay đổi của các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đổi của các phương thức liên kếtgiữa các yếu tố ấy

Trang 19

Lượng của sự vật thường được biểu thị thông qua những đơn vị đo lường cụ thể về kích thước, số lượng, quymô,… cũng có những lượng chỉ được biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như: trình độ nhận thức, ýthức trách nhiệm của công dân,…

Khi phân biệt về mặt khái niệm thì lượng và chất là khác nhau như vậy để chúng ta có thể nhận biết đâu làlượng, đâu là chất Còn trong bản thân một sự vật, thì bao giờ lượng và chất cũng thống nhất, lượng nàocũng là lượng của một chất và chất nào cũng là chất của một lượng nhất định

Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Điều này phụ thuộc vào từng mối quan hệ cụthể xác định Trong mối quan hệ này thì những thuộc tính của sự vật đóng vai trò là chất của nó nhưng trongmối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại

Ví dụ: sinh viên khoa luật thương mại có bản chất khác so với sinh viên khoa luật hình sự Nhưng nếu xéttrong mối quan hệ khác, thì sinh viên của cả hai khoa này đóng vai trò là lượng vì họ đều là sinh viên củacác khoa chuyên ngành trong trường đại học luật

II NỘI DUNG CỦA QUY LUẬT:

Lượng và chất là hai mặt đối lập, thống nhất trong bản thân một sự vật, hiện tượng Lượng thì thường xuyênbiến đổi, trong khi đó chất thì tương đối ổn định Chính vì vậy, hai mặt đối lập này vừa thống nhất lại vừa

đấu tranh với nhau, từ đó hình thành nên quy luật: “Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại” Quy luật này có những nội dung cơ bản sau:

- Thứ nhất, trong sự vật tính quy định về chất không tồn tại nếu tính không có tính quy định về lượng và ngược lại

Khi sự vật đang tồn tại, chất và lượng của sự vật đó thống nhất với nhau ở một độ nhất định Độ là phạm trù tiết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy.

Trong độ, sự vật vẫn còn là nó chứ chưa biến thành cái khác Tuy nhiên, trong phạm vi một độ nhất định,hai mặt chất và lượng luôn tác động lẫn nhau làm cho sự vật, hiện tượng vận động và biến đổi Sự vận độngvà biến đổi của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Khi lượng thay đổi đến mộtgiới hạn nhất định thì dẫn đến sự thay đổi về chất, giới hạn đó phụ thuộc vào từng sự vật, hiện tượng cụ thể

- Thứ hai, thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật người ta gọi là điểm nút.

Sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút sẽ làm cho chất mới của nó ra đời lượng mới và chất mới của củasự vật thống nhất với nhau tạo nên độ mới và điểm nút mới của sự vật ấy Quá trình đó liên tiếp diễn ratrong sự vật và vì thế sự vật luôn phát triển chừng nào nó còn tồn tại

Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó đã thay đổi trước đó gây ra gọi là bước nhảy Vậy bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên.

Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn pháttriển mới Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật

- Thứ ba, sự phát triển của bất cứ sự vật nào cũng bắt đầu từ sự tích lũy về lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất Song điểm nút của quá trình ấy không cố định mà có thể có

những thay đổi do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan quy định Ví dụ thời gian để hoànthành sự nghiệp công nghiệp hóa ở mỗi nước là khác nhau: 150 năm, 60 năm, 15 năm…

Trang 20

- Thứ tư, chất mới của sự vật chỉ có thể xuất hiện khi sự thay đổi về lượng của nó đạt tới điểm nút Chất

mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng đã thay đổi của sự vật Chất mới ấy có thể làm thay đổi quymô, kết cấu, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật

III Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:

- Thứ nhất, đây là một quy luật khách quan, diễn ra trong cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội lẫn tư duy Nội dung

của quy luật cho thấy rằng sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dầndần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất Do đó, trong hoạt độngthực tiễn cũng như trong hoạt động nhận thức chúng ta phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biếnđổi về chất theo quy luật Điều đó giúp chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt

“cháy giai đoạn” muốn thực hiện những bước nhảy liên tục

- Thứ hai, chúng ta phải chống lại tư tưởng bảo thủ, trì trệ, “hữu khuynh” thường được biểu hiện ở chỗ coi

sự phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về lượng Bởi vì chúng ta biết rằng quy luật của xã hội, khác vớiquy luật tự nhiên, chỉ được thực hiện thông qua ý thức của con người Do đó, khi đã tích lũy đủ về số lượngphải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thời chuyển những thay đổi về lượng thành những thayđổi về chất, từ những thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính chất cách mạng.Trong hoạt động thực tế, chúng ta còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy Sự vậndụng linh hoạt đó sẽ tùy thuộc vào việc phân tích đúng đắn những điều kiện khách quan và những nhân tốchủ quan cũng như sự hiểu biết sâu sắc quy luật này Tùy theo từng trường hợp, điều kiện, quan hệ cụ thểchúng ta sẽ lựa chọn hình thức bước nhảy phù hợp nhằm mang lại hiệu quả và chất lượng cho hoạt động củamình Song con người và đời sống xã hội của con người rất đa dạng, phong phú do rất nhiều yếu tố cấuthành, do đó để thực hiện được bước nhảy toàn bộ, trước hết phải thực hiện những bước nhảy cục bộ làmthay đổi về chất của từng yếu tố

Ngoài ra, sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếutố tạo thành sự vật Do đó, trong hoạt động của mình chúng ta phải biết cách tác động vào phương thức liênkết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở hiểu rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó

Ví dụ: trên cơ sở hiểu rõ về gen, con người có thể tác động vào phương thức liên kết giữa các nhân tố tạothành gen làm cho gen biến đổi phục vụ những mục đích nhất định của mình Hay trong một tập thể, chínhsự đổi mới về cơ chế quản lý, lãnh đạo và quan hệ giữa các thành viên trong tập thể sẽ làm cho tập thể đóphát triển vững mạnh

Đối với nước ta, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN thì nhấtđịnh phải trải qua một thời kỳ quá độ trước khi xây dựng thành công CNCS

Thực tế cách mạng Việt Nam cũng đã là minh chứng rất sinh động cho quy luật này Trong cuộc khángchiến giành độc lập dân tộc, vận dụng triệt để quy luật lượng - chất, Đảng ta chủ trương đánh đổ từng bộphận để đi đến thống nhất đất nước bằng khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”

CÂU 6:

TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ

ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

Trang 21

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọngnhất của phép biện chứng, là hạt nhân của phép biện chứng, nó vạch ra nguồn gốc bên trong của sự vậnđộng và phát triển Chính vì vậy, Lênin đã viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyếtvề sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đóđòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm”.

I NỘI DUNG QUY LUẬT:

1 Một số khái niệm cơ bản:

Để tìm hiểu về nội dung của quy luật, trước hết chúng ta cần nắm vững một số khái niệm sau:

a) Mặt đối lập:

Trong tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chưa đựng những mặt trái ngược nhau Ví dụ: trongsinh vật có đồng hóa và dị hóa; trong kinh tế thị trường có cung và cầu; tích lũy và tiêu dùng; trong phápluật có sự tôn trọng, chấp hành pháp luật và việc vi phạm pháp luật… Những mặt trái ngược nhau đó, trongphép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập

Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

b) Mâu thuẫn:

Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâuthuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn biệnchứng trong tư duy phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức Mâuthuẫn biện chứng không phải là ngẫu nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu thuẫn trong logich hìnhthức, mâu thuẫn trong logich hình thức là sai lầm trong tư duy

c) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:

- Sự thống nhất của các mặt đối lập:

Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau Sự thống nhất của cácmặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặtnày phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề

Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau.Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó, “sự thống nhấtcủa các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất” của các mặt đó Do có sự đồng nhất của các mặt đốilập mà trong dự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đốilập có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song đó chỉ là trạngthái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập

- Sự đấu tranh của các mặt đối lập:

Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn luôn đấu tranh với nhau Đấu tranh của các mặt đối lậplà quá trình các mặt đối lập thậm nhập vào nhau, tác động qua lại theo hướng bài trừ, chuyển hóa và phủđịnh lẫn nhau dẫn đến việc mâu thuẫn được giải quyết, sự vật chuyển hóa

Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng tùy thuộc vào tính chất, vào mối quanhệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng

2 Nội dung quy luật:

Trang 22

Những người theo quan điểm siêu hình đều phủ nhận mâu thuẫn bên trong của các sự vật, hiện tượng Theohọ, sự vật là một cái gì đồng nhất thuần túy, không có mâu thuẫn trong bản thân nó Tư duy của người ta cóthể có mâu thuẫn, song như vậy thì tư duy đó là tư duy sai lầm, không đáng tin cậy Những người theo quanđiểm siêu hình chỉ thừa nhận có những sự đối kháng, sự xung đột giữa các sự vật và hiện tượng với nhau,nhưng đó không phải là mâu thuẫn.

Đối lập lại với quan điểm trên, phép biện chứng duy vật đã nêu lên quy luật thống nhất và đấu tranh của

các mặt đối lập với nội dung cơ bản như sau: Sự vật nào cũng là một chỉnh thể bao gồm những yếu tố liên kết với nhau tạo thành Trong đó, có những yếu tố có khuynh hướng ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập, và có hai mặt đối lập thì hình thành nên một mâu thuẫn Những mặt đối lập này vừa thống nhất lại vừa đấu tranh với nhau Khi đấu tranh của các mặt đối lập đạt đến một mức độ nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết, sự vật chuyển hóa, sự vật mới ra đời và lại có những mặt đối lập mới, những mâu thuẫn mới, những quá trình thống nhất và đấu tranh mới của các mặt đối lập, để đến lúc nào đó mâu thuẫn lại được giải quyết, sự vật lại được chuyển hóa Như vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời thay thế.

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạothành mâu thuẫn Như vậy mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của cácmặt đối lập Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tác rời nhau trong quá trình vận động vàphát triển của sự vật Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật Sự đấutranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển Điều đó có nghĩa là: sự thống nhất của các

mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối Lênin viết: “Sự thống nhất… của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.

Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếusự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển

Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau.Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủđiều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ đượcthay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời

Lênin viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Tuy nhiên, không có sự thống

nhất của các mặt đối lập thì cũng không có sự đấu tranh giữa chúng Thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Sự vận động và phát triển bao giờ cũng làsự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy địnhtính ổn định và tính thay đổi của sự vật Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự pháttriển

II Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:

Trong cuộc sống, con người muốn có sự phát triển thì:

- Thứ nhất, phải phát hiện được mâu thuẫn của sự vật

Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngượcnhau, tức tìm ra những mặt đối lập cũng như những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.Trong thực tế, việc phát hiện ra những mâu thuẫn không phải là điều đơn giản bởi vì chúng không tồn tại

Trang 23

với tư cách là một sự vật, hiện tượng cụ thể, do đó, mâu thuẫn khó tìm hơn là mối liên hệ Muốn tìm đượcmâu thuẫn thì phải có trình độ tri thức nhất định

- Thứ hai, phải biết phân loại mâu thuẫn.

Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng Tính phong phú, đa dạng đó được quy định một cách khách quanbởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chức của hệthống (sự vật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại

Có nhiều tiêu chí để phân loại mâu thuẫn, ví dụ căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, chúng tacó mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển củatoàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản; căn cứ vào vaitrò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫnđược chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu; căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích,người ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Mỗi một căn cứ phân chia trên đây đều có những mục đích và ý nghĩa nhất định của nó Việc nắm vững đặcđiểm của từng loại mâu thuẫn sẽ giúp chúng ta xác định được vai trò, vị trí và tác dụng của chúng đối vớiquá trình vận động và phát triển của sự vật Trên cơ sở đó, giúp con người tìm ra được những phương phápgiải quyết thích hợp đối với từng loại mâu thuẫn

Ví dụ: giải quyết mâu thuẫn đối kháng phải bằng phương pháp đối kháng, giải quyết mâu thuẫn không đốikháng phải bằng phương pháp trong nội bộ nhân dân

- Thứ ba, phải biết tiếp cận với mâu thuẫn

Bởi vì chỉ trên cơ sở tiếp cận, phân tích mâu thuẫn, xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng loạimâu thuẫn, vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn… chúng ta mới có thể nhìn nhận mộtcách đúng đắn về mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giảiquyết mâu thuẫn

Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn.Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn Một mặt phải chống thái độ chủquan, nóng vội khi điều kiện giải quyết mâu thuẫn chưa chín muồi Mặt khác phải phải tích cực thúc đẩycác điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi

Khi tiếp cận mâu thuẫn, con người phải tìm ra phương pháp tối ưu nhất để giải quyết mâu thuẫn Phải tìm racác hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợpvới điều kiện cụ thể

1 Một số khái niệm cơ bản:

Sự vật ở trạng thái động nằm trong khuynh hướng chung là phát triển, sự phát triển không diễn ra theo mộtđường thẳng mà là một đường quanh co, phức tạp được biểu diễn bằng đường xoắn ốc đi lên Đây là quátrình phủ định của phủ định, trong đó cái mới ra đời thay thế cho cái cũ và hết mỗi một chu kỳ, sự vật lặplại dường như cái ban đầu nhưng ở mức độ cao hơn

Ngày đăng: 14/03/2018, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w