đã góp phần bảo đảm cho các hoạt động tư pháp được nhanh hơn, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng quá tải trong công việc của các toà án và cơ quan thi hành án tại Thành phố Hồ Chí Mi
Trang 1
/12/2011 TS NguyÔn C«ng B×nh*
ể thực hiện chủ trương xã hội hoá thi
hành án dân sự thông qua việc thực
hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại một
số địa phương được ghi trong Nghị quyết
của Quốc hội Khoá XII số 24/2008/QH12
ngày 14/11/2008 về thi hành Luật thi hành
án dân sự, ngày 24/7/2009 Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức
và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí
điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây
gọi tắt là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP)
Để hướng dẫn thi hành Nghị định này, ngày
30/9/2009 Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư
số 03/2009/TT-BTP hướng dẫn thực hiện
một số quy định về các công việc của thừa
phát lại, về giải quyết một số vấn đề phát
sinh khi các văn phòng thừa phát lại giải
thể, chấm dứt hoạt động, về mẫu biểu
nghiệp vụ của các văn phòng thừa phát lại
và quản lí thẻ thừa phát lại; ngày 24/6/2010
Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Bộ tài
chính ban hành Thông tư liên tịch số
12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC hướng
dẫn một số nội dung liên quan đến chi phí
thực hiện công việc của thừa phát lại và chế
độ tài chính đối với văn phòng thừa phát
lại và ngày 7/7/2010 Bộ tư pháp, Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao ban hành Thông tư liên tịch số
13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
hướng dẫn thủ tục thực hiện một số công việc của thừa phát lại
Trên cơ sở các quy định của pháp luật nêu trên, từ tháng 5/2010 các văn phòng thừa phát lại ở Thành phố Hồ Chí Minh (các văn phòng thừa phát lại quận 1, quận 5, quận 8, quận Tân Bình và quận Bình Thạnh) đã được thành lập và đi vào hoạt động Tuy mới thành lập và hoạt động được một thời gian ngắn nhưng thừa phát lại đã bước đầu khẳng định được vai trò của mình trong các lĩnh vực hoạt động pháp luật ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là hoạt động thi hành án dân sự Theo các phương tiện thông tin đại
chúng: “Nhiều hoạt động của thừa phát lại
đã đem đến những hiệu quả rất rõ cho người dân”;(1) “Kết quả thực hiện thi hành án của năm văn phòng thừa phát lại chưa nhiều, chỉ mới hoàn tất được 21 vụ, thu phí 170 triệu đồng nhưng bước đầu đã tạo hiệu ứng tốt Một số trường hợp người dân sau thời gian dài mòn mỏi chờ đợi thi hành án nhưng chấp hành viên thực hiện không hiệu quả nên đã rút yêu cầu, chuyển qua nhờ thừa phát lại thực hiện thi hành án, phá thế “một mình, một chiếu” trong lĩnh vực thi hành án”.(2)
Theo các nhà nghiên cứu, “hoạt động của thừa phát lại bước đầu đã được người dân,
Đ
* Giảng viên chính Khoa pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2xã hội ghi nhận tích cực đã góp phần bảo
đảm cho các hoạt động tư pháp được nhanh
hơn, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng quá
tải trong công việc của các toà án và cơ
quan thi hành án tại Thành phố Hồ Chí
Minh”.(3) Sơ kết việc thực hiện thí điểm chế
định thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí
Minh, Bộ tư pháp đã nhận định: “Hoạt động
của thừa phát lại đã đem lại hiệu quả kinh
tế-xã hội bước đầu như giảm tải nhân lực,
thời gian và chi phí, đảm bảo các hoạt động
tư pháp được nhanh hơn, đúng pháp luật,
hạn chế tình trạng quá tải trong công việc
của các cơ quan toà án và thi hành án dân
sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời
tăng cường tính chủ động, tích cực của công
dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân
sự, hành chính, nhất là trong việc lập vi
bằng, tạo lập chứng cứ, giúp người dân có
cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong tố
tụng và trong thực hiện các giao dịch”.(4)
Như vậy, thực tiễn thí điểm chế định thừa
phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh trong
thời gian qua đã khẳng định để thực hiện chủ
trương xã hội hoá thi hành án dân sự thì việc
tái lập chế định thừa phát lại là hoàn toàn
đúng đắn và cần thiết
Kết quả thực hiện thí điểm chế định thừa
phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng
cho thấy không nên chỉ dừng lại ở việc xã
hội hoá hoạt động thi hành án mà còn phải
xã hội hoá cả tổ chức thi hành án Nghĩa là
bên cạnh việc giao cho các cá nhân, tổ chức
tư nhân thực hiện một số công việc về thi
hành án như giữ, bảo quản tài sản kê biên,
thẩm định giá tài sản kê biên v.v thì cũng
đồng thời cho thành lập các văn phòng thừa
phát lại - tổ chức thi hành án tư nhân trong phạm vi cả nước để thực hiện việc thi hành
án Vì việc thành lập văn phòng thừa phát lại ngoài tác dụng giảm tải công việc cho cơ quan thi hành án dân sự, giảm bớt được chi phí của Nhà nước cho thi hành án dân sự thì điều quan trọng nhất là đã hình thành mô hình tổ chức thi hành án dân sự mới - mô hình tổ chức thi hành án dân sự tư nhân, từ
đó tạo điều kiện cho người dân có cơ hội được lựa chọn các tổ chức khác nhau để yêu cầu thi hành án dân sự đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức thi hành án dân
sự Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy để
có thể nhân rộng loại hình thi hành án dân sự này trong phạm vi cả nước và nâng cao được hiệu quả hoạt động của nó cần phải giải quyết một số hạn chế, vướng mắc sau:
Thứ nhất, vì đây là hoạt động còn quá
mới mẻ, trong khi đó “thừa phát lại” là thuật ngữ gốc Hán nên tạo ra sự khó hiểu và xa
lạ với mọi người: “Không chỉ người dân,
đến nay vẫn còn một số cán bộ cũng chưa tường tận chức năng của thừa phát lại”.(5)
Do đó, khi tác nghiệp các thừa phát lại rất vất vả trong việc giải thích cho mọi người
biết chức năng, nhiệm vụ của mình Mặc dù
ngoài việc tổ chức thi hành án dân sự, thừa phát lại còn thực hiện một số công việc khác nhưng theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì chức năng, nhiệm vụ của thừa phát lại chủ yếu vẫn là việc tổ chức thi hành án dân sự (trong bốn công việc thừa phát lại được làm thì có tới ba công việc là
về tổ chức thi hành án dân sự) Vì vậy, chúng tôi cho rằng phải Việt hoá các thuật ngữ pháp lí “văn phòng thừa phát lại”, “thừa
Trang 3phát lại” cho phù hợp với nhận thức của
người dân Đối với “văn phòng thừa phát lại”
nên gọi là “văn phòng thi hành án tư nhân”
hay “công ti thi hành án tư nhân”, còn đối với
“thừa phát lại” nên gọi là “chấp hành viên”
giống chấp hành viên của cơ quan thi hành
án, tương tự như trong lĩnh vực công chứng
không có sự phân biệt giữa phòng công chứng
của Nhà nước với của tư nhân, trong phòng
công chứng của tư nhân vẫn có công chứng
viên như phòng công chứng của Nhà nước
Việc thay đổi tên gọi của “văn phòng thừa
phát lại” và “thừa phát lại” là cần thiết vì để
thực hiện được các quy định của pháp luật thì
người dân trước hết phải hiểu được nó nên từ
ngữ phải chuẩn xác, mang tính phổ thông và
dễ hiểu Hơn nữa, sự thay đổi này còn góp
phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Thứ hai, theo Điều 3 Nghị định số
61/2009/NĐ-CP thì thừa phát lại sẽ thực
hiện việc tống đạt theo yêu cầu của toà án
hoặc cơ quan thi hành án dân sự Do đó, đối
với trường hợp đương sự tự nguyện bỏ chi
phí để yêu cầu thừa phát lại tống đạt các giấy
tờ của toà án, cơ quan thi hành án dân sự cho
các tổ chức, cá nhân có liên quan để thi hành
án thì không thể thực hiện được vì theo quy
định phải do toà án, cơ quan thi hành án yêu
cầu mới hợp lệ Theo khoản 3 Điều 24 Nghị
định số 61/2009/NĐ-CP thì một cơ quan thi
hành án dân sự hoặc một toà án chỉ được kí
hợp đồng với một văn phòng thừa phát lại,
trong khi đó một văn phòng thừa phát lại có
quyền kí hợp đồng tống đạt với nhiều cơ
quan thi hành án dân sự hoặc nhiều toà án,
điều này dẫn đến hệ lụy là có trường hợp văn
phòng thừa phát lại vì nhân lực mỏng không
thể thực hiện được các hợp đồng tống đạt với
cơ quan thi hành án dân sự, còn toà án và cơ quan thi hành án có muốn kí hợp đồng tống đạt với nhiều văn phòng thừa phát lại cũng không được nên không giảm tải được công việc của các cơ quan này khi cần Ngoài ra,
“thủ tục giao nhận văn bản tống đạt giữa toà
án, cơ quan thi hành án dân sự với các văn phòng thừa phát lại chưa rõ ràng, chặt chẽ dẫn đến mất nhiều thời gian, công sức cho việc giao nhận”.(6)
Vì vậy, theo chúng tôi, cần phải bổ sung quy định cho phép các đương sự được yêu cầu thừa phát lại tống đạt giấy tờ của toà án và cơ quan thi hành án dân
sự cho các cá nhân, tổ chức có liên quan để thực hiện việc thi hành án dân sự Bên cạnh
đó, để giảm tải công việc cho các toà án, cơ quan thi hành án dân sự, nâng cao được hiệu quả thi hành án dân sự cần phải sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP theo hướng cho phép một cơ quan thi hành án dân sự, một toà án được kí hợp đồng với một hoặc nhiều văn phòng thừa phát lại và ngược lại đồng thời phải quy định
cụ thể trình tự, thủ tục giao nhận văn bản tống đạt giữa toà án, cơ quan thi hành án dân sự với văn phòng thừa phát lại
Thứ ba, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP chưa
quy định rõ đối với những việc người được thi hành án đã yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành thì sau đó có được rút đơn yêu cầu để yêu cầu văn phòng thừa phát lại thi hành hay không Thực tế đã xảy ra trường
hợp, “có một số người dân trước đây đã nhờ
cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án nhưng không hiệu quả nay muốn qua nhờ thừa phát lại thi hành án cũng không được
Trang 4Vì theo quy định hiện nay nếu rút đơn yêu cầu
thi hành án thì cơ quan thi hành án sẽ ra
quyết định đình chỉ và không được yêu cầu thi
hành án lại Như vậy, người được thi hành án
đành phải chịu trận chứ không có lựa chọn
nào khác”.(7) Mặt khác, pháp luật thi hành án
dân sự hiện hành cũng không quy định việc
uỷ thác thi hành án giữa các văn phòng thừa
phát lại và giữa văn phòng thừa phát lại với
cơ quan thi hành án dân sự nên chưa tạo được
thuận lợi trong tổ chức thi hành án dân sự Để
đẩy mạnh việc xã hội hoá thi hành án dân sự
cần quy định cơ chế thi hành án dân sự linh
hoạt, trong đó có sự chuyển đổi và phối hợp
chặt chẽ giữa cơ quan thi hành án dân sự của
Nhà nước với các tổ chức thi hành án tư nhân
Đối với những vụ việc đương sự đã yêu cầu cơ
quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì
sau đó họ vẫn có quyền rút yêu cầu để yêu cầu
tổ chức thi hành án tư nhân thi hành và ngược
lại Đồng thời, phải quy định các cơ quan thi
hành án dân sự của Nhà nước và các tổ chức
thi hành án tư nhân có quyền và nghĩa vụ phối
hợp với nhau trong việc thi hành một vụ việc
và có thể uỷ thác cho nhau thực hiện những
công việc liên quan đến thi hành án dân sự
Thứ tư, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP
quy định thừa phát lại có quyền xác minh
điều kiện thi hành án theo yêu cầu của
đương sự Để thừa phát lại thực hiện quyền
này, người được thi hành án, người phải thi
hành án, người có quyền, lợi ích liên quan
đến việc thi hành án phải thoả thuận với
trưởng văn phòng thừa phát lại về việc xác
minh điều kiện thi hành án Theo Điều 31
Nghị định này, việc xác minh điều kiện thi
hành án được tiến hành bằng văn bản yêu
cầu hoặc trực tiếp xác minh; trong trường hợp cần thiết, thừa phát lại có quyền mời cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh Việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự dưới hình thức bằng văn bản yêu cầu cần phải có sự hợp tác chặt chẽ của cá nhân, cơ quan, tổ chức được yêu cầu mới có hiệu quả nhưng trên thực tế không phải bao giờ việc xác minh bằng văn bản cũng được các cá nhân, cơ quan, tổ chức ủng hộ Vì vậy, có quan điểm cho rằng:
“Nên hạn chế tối đa việc xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản, chỉ cho phép xác minh bằng văn bản khi không trực tiếp xác minh Bởi vì, nếu cho phép xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản một cách tràn lan có thể dẫn đến tình trạng các văn phòng thừa phát lại sẽ lạm dụng và đùn đẩy trách nhiệm cho các cơ quan được yêu cầu vì Nghị định này quy định các cơ quan này phải chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp, do đó văn phòng thừa phát lại vẫn thu phí xác minh, nhưng khi xảy ra lỗi, thì bên cung cấp thông tin phải chịu trách nhiệm còn thừa phát lại thì không”.(8)
Theo chúng tôi, không nên vì
lo ngại các văn phòng thừa phát lại sẽ lạm dụng và đùn đẩy trách nhiệm cho các cơ quan được yêu cầu mà hạn chế việc xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản Vì xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản tạo thuận lợi cho thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Về nguyên tắc, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của thừa phát lại và chịu trách nhiệm
về nội dung thông tin đã cung cấp Nếu vì lí
do nào đó mà họ không thực hiện yêu cầu thì
Trang 5thừa phát lại phải áp dụng biện pháp khác để
xác minh điều kiện thi hành án theo đúng
thoả thuận giữa văn phòng thừa phát lại với
đương sự Khi việc xác minh điều kiện thi
hành án chưa thực hiện đúng theo sự thoả
thuận với đương sự thì văn phòng thừa phát
lại không thể thu phí của họ Tuy nhiên, việc
xác minh điều kiện thi hành án rất phức tạp,
trong khi đó quy định về thủ tục xác minh
điều kiện thi hành án còn quá chung chung
nên thừa phát lại rất khó thực hiện Vì vậy,
phải quy định cụ thể hơn thủ tục xác minh
điều kiện thi hành án mà thừa phát lại được
thực hiện theo hướng như thủ tục xác minh
điều kiện thi hành án mà chấp hành viên thực
hiện thì việc xác minh mới có hiệu quả Mặt
khác, theo Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP
thì thừa phát lại xác minh thi hành án theo
yêu cầu của đương sự và theo Điều 7 Luật thi
hành án dân sự năm 2008 thì người được thi
hành án, người phải thi hành án đều có quyền
yêu cầu thi hành án nên Điều 32 Nghị định số
61/2009/NĐ-CP chỉ quy định người được thi
hành án có quyền dùng kết quả xác minh điều
kiện thi hành án của thừa phát lại để yêu cầu
thi hành án là chưa đầy đủ Vì thế, cần quy
định cả người được thi hành án và người phải
thi hành án đều có quyền dùng kết quả xác
minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại
để yêu cầu thi hành án
Thứ năm, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP
quy định chưa thực sự bình đẳng về địa vị
pháp lí giữa cơ quan thi hành án dân sự với
văn phòng thừa phát lại và giữa chấp hành
viên với thừa phát lại trong khi họ cùng thực
hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự là
chưa hợp lí Theo quy định tại Điều 5 và Điều
39 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, thừa phát lại có quyền như chấp hành viên quy định tại Điều 20 Luật thi hành án dân sự, trừ việc được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; trong trường hợp cưỡng chế thi hành
án cần huy động lực lượng bảo vệ, văn phòng thừa phát lại phải lập kế hoạch cưỡng chế và
có văn bản gửi thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, kèm theo hồ
sơ thi hành án để thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh xem xét,
ra quyết định cưỡng chế thi hành án và phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án Quy định của pháp luật cho thấy văn phòng thừa phát lại cũng thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án như cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước; thừa phát lại cũng giống chấp hành viên về tiêu chuẩn bổ nhiệm, thẩm quyền bổ nhiệm, nhiệm vụ thi hành án và trách nhiệm đối với các hoạt động thi hành án đã thực hiện trước pháp luật như chấp hành viên, vậy tại sao quyền hạn của họ trong thi hành án dân
sự lại không được pháp luật quy định như nhau? Điều này vô hình trung đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người cùng làm một công việc, tạo ra sự chênh lệch về địa vị pháp
lí giữa họ, không nâng cao được địa vị pháp lí của thừa phát lại trong tổ chức thi hành án dân sự để việc tổ chức thi hành án dân sự của
họ có hiệu quả Vì vậy, một mặt cần sửa đổi Điều 39 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP theo hướng quy định rõ trách nhiệm của văn phòng thừa phát lại và thừa phát lại trước Nhà nước, trước các đương sự và những người
Trang 6liên quan đến thi hành án dân sự, mặt khác
cũng phải quy định cho văn phòng thừa phát
lại, thừa phát lại được bình đẳng về địa vị pháp
lí với cơ quan thi hành án dân sự của Nhà
nước, với chấp hành viên trong việc tổ chức
thi hành án Nghĩa là trong tổ chức thi hành án,
văn phòng thừa phát lại, thừa phát lại cũng có
quyền và nghĩa vụ như cơ quan thi hành án và
chấp hành viên, trừ quyền xử phạt vi phạm
hành chính trong thi hành án, để tạo sự thuận
lợi cho họ tổ chức thi hành án và tạo ra sự
cạnh tranh lành mạnh giữa cơ quan thi hành án
dân sự của Nhà nước với tổ chức thi hành án
tư nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự
Thứ sáu, thừa phát lại tuy làm dịch vụ thi
hành án dân sự nhưng mục đích cũng là bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay
nhiều người vẫn chưa hiểu đầy đủ về văn
phòng thừa phát lại và thừa phát lại nên còn
có sự phân biệt đối xử, thiếu sự hợp tác ủng
hộ họ trong việc tổ chức thi hành án dân sự:
“Các văn phòng thừa phát lại phải tự "bơi",
tự quảng bá và bước đầu xây dựng niềm tin
đối với khách hàng bằng chính hiệu quả
công việc mới mẻ của thừa phát lại đem đến
cho người dân Tuy nhiên, để đạt được hiệu
quả cao hơn và để thừa phát lại thực sự là
những người “chia lửa” cho ngành thi hành
án, thiết nghĩ cần có những bước phối hợp
thiết thực và đồng bộ giữa nhiều cơ quan
hữu quan”.(9)
Vì vậy, cần phải đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật để
mọi người hiểu được quy định của pháp luật
về thi hành án dân sự, đặc biệt hiểu được chủ
trương xã hội hoá thi hành án dân sự thông
qua việc thực hiện chế định thừa phát lại,
khắc phục tình trạng phân biệt đối xử và thiếu
sự phối hợp với văn phòng thừa phát lại, thừa phát lại trong thi hành án dân sự
Ngoài ra, so với hoạt động công chứng thì hoạt động tổ chức thi hành án dân sự phức tạp hơn và ít lợi nhuận Trên thực tế, không nhiều người tích cực đầu tư tiền của, công sức vào lĩnh vực thừa phát lại như lĩnh vực công chứng Vì vậy, để khuyến khích tổ chức này hoạt động, đáp ứng được yêu cầu của xã hội về thi hành án dân sự cần phải có chính sách hỗ trợ như cấp hoặc cho các văn phòng thừa phát lại thuê đất làm trụ sở, miễn thuế một thời gian v.v /
(1) Nguồn: http://phapluattp.vn/ ngày 30/08/2010 (2) Nguồn: http://vietpress.vn/20120417101730331 p32c77/hoat-dong-thi-diem-thua-phat-lai-nguoi-dan-va-nha nuoc
(3).Xem: ThS Lê Xuân Hồng, “Từ nhu cầu xã hội đến chủ trương và kết quả bước đầu của việc thực
hiện thí điểm thừa phát lại”, Tạp chí dân chủ và pháp
luật, số 11/2011, tr 13
(4) Báo cáo của Bộ tư pháp s ố 133/BC-BTP ngày 15/08/2011 về kết quả Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị định số của Chính phủ 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009
về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh
(5) Nguồn: http://phapluattp.vn/20100811101155319p0 c1063/thua-phat-lai-kho-khan-ngon-ngang.htm (6).Xem: ThS Trần Văn Bảy, “Thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh và
một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số
11/2011, tr 18
(7) Nguồn: http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/im%20 ti n%20bo%20ch/View_Detail.aspx? Ite mID=736 (8).Xem: ThS Vũ Hoài Nam, “Bàn thêm về các công việc thừa phát lại được làm khi thực hiện thí điểm tại
thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí dân chủ và pháp
luật, số 12/2011, tr 51
(9) Nguồn: http://www.baomoi.com/Thua-phat-lai-khong-chi-lap-vi-bang/144/5211002.epi