1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nguyễn công bình (2012), xu hướng xã hội hoá THA dân sự, tạp chí luật học

6 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 206,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đã góp phần bảo đảm cho các hoạt động tư pháp được nhanh hơn, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng quá tải trong công việc của các toà án và cơ quan thi hành án tại Thành phố Hồ Chí Mi

Trang 1

/12/2011 TS NguyÔn C«ng B×nh*

ể thực hiện chủ trương xã hội hoá thi

hành án dân sự thông qua việc thực

hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại một

số địa phương được ghi trong Nghị quyết

của Quốc hội Khoá XII số 24/2008/QH12

ngày 14/11/2008 về thi hành Luật thi hành

án dân sự, ngày 24/7/2009 Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức

và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí

điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây

gọi tắt là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP)

Để hướng dẫn thi hành Nghị định này, ngày

30/9/2009 Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư

số 03/2009/TT-BTP hướng dẫn thực hiện

một số quy định về các công việc của thừa

phát lại, về giải quyết một số vấn đề phát

sinh khi các văn phòng thừa phát lại giải

thể, chấm dứt hoạt động, về mẫu biểu

nghiệp vụ của các văn phòng thừa phát lại

và quản lí thẻ thừa phát lại; ngày 24/6/2010

Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Bộ tài

chính ban hành Thông tư liên tịch số

12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC hướng

dẫn một số nội dung liên quan đến chi phí

thực hiện công việc của thừa phát lại và chế

độ tài chính đối với văn phòng thừa phát

lại và ngày 7/7/2010 Bộ tư pháp, Toà án

nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân

tối cao ban hành Thông tư liên tịch số

13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC

hướng dẫn thủ tục thực hiện một số công việc của thừa phát lại

Trên cơ sở các quy định của pháp luật nêu trên, từ tháng 5/2010 các văn phòng thừa phát lại ở Thành phố Hồ Chí Minh (các văn phòng thừa phát lại quận 1, quận 5, quận 8, quận Tân Bình và quận Bình Thạnh) đã được thành lập và đi vào hoạt động Tuy mới thành lập và hoạt động được một thời gian ngắn nhưng thừa phát lại đã bước đầu khẳng định được vai trò của mình trong các lĩnh vực hoạt động pháp luật ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là hoạt động thi hành án dân sự Theo các phương tiện thông tin đại

chúng: “Nhiều hoạt động của thừa phát lại

đã đem đến những hiệu quả rất rõ cho người dân”;(1) “Kết quả thực hiện thi hành án của năm văn phòng thừa phát lại chưa nhiều, chỉ mới hoàn tất được 21 vụ, thu phí 170 triệu đồng nhưng bước đầu đã tạo hiệu ứng tốt Một số trường hợp người dân sau thời gian dài mòn mỏi chờ đợi thi hành án nhưng chấp hành viên thực hiện không hiệu quả nên đã rút yêu cầu, chuyển qua nhờ thừa phát lại thực hiện thi hành án, phá thế “một mình, một chiếu” trong lĩnh vực thi hành án”.(2)

Theo các nhà nghiên cứu, “hoạt động của thừa phát lại bước đầu đã được người dân,

Đ

* Giảng viên chính Khoa pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

xã hội ghi nhận tích cực đã góp phần bảo

đảm cho các hoạt động tư pháp được nhanh

hơn, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng quá

tải trong công việc của các toà án và cơ

quan thi hành án tại Thành phố Hồ Chí

Minh”.(3) Sơ kết việc thực hiện thí điểm chế

định thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí

Minh, Bộ tư pháp đã nhận định: “Hoạt động

của thừa phát lại đã đem lại hiệu quả kinh

tế-xã hội bước đầu như giảm tải nhân lực,

thời gian và chi phí, đảm bảo các hoạt động

tư pháp được nhanh hơn, đúng pháp luật,

hạn chế tình trạng quá tải trong công việc

của các cơ quan toà án và thi hành án dân

sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời

tăng cường tính chủ động, tích cực của công

dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân

sự, hành chính, nhất là trong việc lập vi

bằng, tạo lập chứng cứ, giúp người dân có

cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong tố

tụng và trong thực hiện các giao dịch”.(4)

Như vậy, thực tiễn thí điểm chế định thừa

phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh trong

thời gian qua đã khẳng định để thực hiện chủ

trương xã hội hoá thi hành án dân sự thì việc

tái lập chế định thừa phát lại là hoàn toàn

đúng đắn và cần thiết

Kết quả thực hiện thí điểm chế định thừa

phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng

cho thấy không nên chỉ dừng lại ở việc xã

hội hoá hoạt động thi hành án mà còn phải

xã hội hoá cả tổ chức thi hành án Nghĩa là

bên cạnh việc giao cho các cá nhân, tổ chức

tư nhân thực hiện một số công việc về thi

hành án như giữ, bảo quản tài sản kê biên,

thẩm định giá tài sản kê biên v.v thì cũng

đồng thời cho thành lập các văn phòng thừa

phát lại - tổ chức thi hành án tư nhân trong phạm vi cả nước để thực hiện việc thi hành

án Vì việc thành lập văn phòng thừa phát lại ngoài tác dụng giảm tải công việc cho cơ quan thi hành án dân sự, giảm bớt được chi phí của Nhà nước cho thi hành án dân sự thì điều quan trọng nhất là đã hình thành mô hình tổ chức thi hành án dân sự mới - mô hình tổ chức thi hành án dân sự tư nhân, từ

đó tạo điều kiện cho người dân có cơ hội được lựa chọn các tổ chức khác nhau để yêu cầu thi hành án dân sự đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức thi hành án dân

sự Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy để

có thể nhân rộng loại hình thi hành án dân sự này trong phạm vi cả nước và nâng cao được hiệu quả hoạt động của nó cần phải giải quyết một số hạn chế, vướng mắc sau:

Thứ nhất, vì đây là hoạt động còn quá

mới mẻ, trong khi đó “thừa phát lại” là thuật ngữ gốc Hán nên tạo ra sự khó hiểu và xa

lạ với mọi người: “Không chỉ người dân,

đến nay vẫn còn một số cán bộ cũng chưa tường tận chức năng của thừa phát lại”.(5)

Do đó, khi tác nghiệp các thừa phát lại rất vất vả trong việc giải thích cho mọi người

biết chức năng, nhiệm vụ của mình Mặc dù

ngoài việc tổ chức thi hành án dân sự, thừa phát lại còn thực hiện một số công việc khác nhưng theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì chức năng, nhiệm vụ của thừa phát lại chủ yếu vẫn là việc tổ chức thi hành án dân sự (trong bốn công việc thừa phát lại được làm thì có tới ba công việc là

về tổ chức thi hành án dân sự) Vì vậy, chúng tôi cho rằng phải Việt hoá các thuật ngữ pháp lí “văn phòng thừa phát lại”, “thừa

Trang 3

phát lại” cho phù hợp với nhận thức của

người dân Đối với “văn phòng thừa phát lại”

nên gọi là “văn phòng thi hành án tư nhân”

hay “công ti thi hành án tư nhân”, còn đối với

“thừa phát lại” nên gọi là “chấp hành viên”

giống chấp hành viên của cơ quan thi hành

án, tương tự như trong lĩnh vực công chứng

không có sự phân biệt giữa phòng công chứng

của Nhà nước với của tư nhân, trong phòng

công chứng của tư nhân vẫn có công chứng

viên như phòng công chứng của Nhà nước

Việc thay đổi tên gọi của “văn phòng thừa

phát lại” và “thừa phát lại” là cần thiết vì để

thực hiện được các quy định của pháp luật thì

người dân trước hết phải hiểu được nó nên từ

ngữ phải chuẩn xác, mang tính phổ thông và

dễ hiểu Hơn nữa, sự thay đổi này còn góp

phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Thứ hai, theo Điều 3 Nghị định số

61/2009/NĐ-CP thì thừa phát lại sẽ thực

hiện việc tống đạt theo yêu cầu của toà án

hoặc cơ quan thi hành án dân sự Do đó, đối

với trường hợp đương sự tự nguyện bỏ chi

phí để yêu cầu thừa phát lại tống đạt các giấy

tờ của toà án, cơ quan thi hành án dân sự cho

các tổ chức, cá nhân có liên quan để thi hành

án thì không thể thực hiện được vì theo quy

định phải do toà án, cơ quan thi hành án yêu

cầu mới hợp lệ Theo khoản 3 Điều 24 Nghị

định số 61/2009/NĐ-CP thì một cơ quan thi

hành án dân sự hoặc một toà án chỉ được kí

hợp đồng với một văn phòng thừa phát lại,

trong khi đó một văn phòng thừa phát lại có

quyền kí hợp đồng tống đạt với nhiều cơ

quan thi hành án dân sự hoặc nhiều toà án,

điều này dẫn đến hệ lụy là có trường hợp văn

phòng thừa phát lại vì nhân lực mỏng không

thể thực hiện được các hợp đồng tống đạt với

cơ quan thi hành án dân sự, còn toà án và cơ quan thi hành án có muốn kí hợp đồng tống đạt với nhiều văn phòng thừa phát lại cũng không được nên không giảm tải được công việc của các cơ quan này khi cần Ngoài ra,

“thủ tục giao nhận văn bản tống đạt giữa toà

án, cơ quan thi hành án dân sự với các văn phòng thừa phát lại chưa rõ ràng, chặt chẽ dẫn đến mất nhiều thời gian, công sức cho việc giao nhận”.(6)

Vì vậy, theo chúng tôi, cần phải bổ sung quy định cho phép các đương sự được yêu cầu thừa phát lại tống đạt giấy tờ của toà án và cơ quan thi hành án dân

sự cho các cá nhân, tổ chức có liên quan để thực hiện việc thi hành án dân sự Bên cạnh

đó, để giảm tải công việc cho các toà án, cơ quan thi hành án dân sự, nâng cao được hiệu quả thi hành án dân sự cần phải sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP theo hướng cho phép một cơ quan thi hành án dân sự, một toà án được kí hợp đồng với một hoặc nhiều văn phòng thừa phát lại và ngược lại đồng thời phải quy định

cụ thể trình tự, thủ tục giao nhận văn bản tống đạt giữa toà án, cơ quan thi hành án dân sự với văn phòng thừa phát lại

Thứ ba, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP chưa

quy định rõ đối với những việc người được thi hành án đã yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành thì sau đó có được rút đơn yêu cầu để yêu cầu văn phòng thừa phát lại thi hành hay không Thực tế đã xảy ra trường

hợp, “có một số người dân trước đây đã nhờ

cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án nhưng không hiệu quả nay muốn qua nhờ thừa phát lại thi hành án cũng không được

Trang 4

Vì theo quy định hiện nay nếu rút đơn yêu cầu

thi hành án thì cơ quan thi hành án sẽ ra

quyết định đình chỉ và không được yêu cầu thi

hành án lại Như vậy, người được thi hành án

đành phải chịu trận chứ không có lựa chọn

nào khác”.(7) Mặt khác, pháp luật thi hành án

dân sự hiện hành cũng không quy định việc

uỷ thác thi hành án giữa các văn phòng thừa

phát lại và giữa văn phòng thừa phát lại với

cơ quan thi hành án dân sự nên chưa tạo được

thuận lợi trong tổ chức thi hành án dân sự Để

đẩy mạnh việc xã hội hoá thi hành án dân sự

cần quy định cơ chế thi hành án dân sự linh

hoạt, trong đó có sự chuyển đổi và phối hợp

chặt chẽ giữa cơ quan thi hành án dân sự của

Nhà nước với các tổ chức thi hành án tư nhân

Đối với những vụ việc đương sự đã yêu cầu cơ

quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì

sau đó họ vẫn có quyền rút yêu cầu để yêu cầu

tổ chức thi hành án tư nhân thi hành và ngược

lại Đồng thời, phải quy định các cơ quan thi

hành án dân sự của Nhà nước và các tổ chức

thi hành án tư nhân có quyền và nghĩa vụ phối

hợp với nhau trong việc thi hành một vụ việc

và có thể uỷ thác cho nhau thực hiện những

công việc liên quan đến thi hành án dân sự

Thứ tư, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP

quy định thừa phát lại có quyền xác minh

điều kiện thi hành án theo yêu cầu của

đương sự Để thừa phát lại thực hiện quyền

này, người được thi hành án, người phải thi

hành án, người có quyền, lợi ích liên quan

đến việc thi hành án phải thoả thuận với

trưởng văn phòng thừa phát lại về việc xác

minh điều kiện thi hành án Theo Điều 31

Nghị định này, việc xác minh điều kiện thi

hành án được tiến hành bằng văn bản yêu

cầu hoặc trực tiếp xác minh; trong trường hợp cần thiết, thừa phát lại có quyền mời cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh Việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự dưới hình thức bằng văn bản yêu cầu cần phải có sự hợp tác chặt chẽ của cá nhân, cơ quan, tổ chức được yêu cầu mới có hiệu quả nhưng trên thực tế không phải bao giờ việc xác minh bằng văn bản cũng được các cá nhân, cơ quan, tổ chức ủng hộ Vì vậy, có quan điểm cho rằng:

“Nên hạn chế tối đa việc xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản, chỉ cho phép xác minh bằng văn bản khi không trực tiếp xác minh Bởi vì, nếu cho phép xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản một cách tràn lan có thể dẫn đến tình trạng các văn phòng thừa phát lại sẽ lạm dụng và đùn đẩy trách nhiệm cho các cơ quan được yêu cầu vì Nghị định này quy định các cơ quan này phải chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp, do đó văn phòng thừa phát lại vẫn thu phí xác minh, nhưng khi xảy ra lỗi, thì bên cung cấp thông tin phải chịu trách nhiệm còn thừa phát lại thì không”.(8)

Theo chúng tôi, không nên vì

lo ngại các văn phòng thừa phát lại sẽ lạm dụng và đùn đẩy trách nhiệm cho các cơ quan được yêu cầu mà hạn chế việc xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản Vì xác minh điều kiện thi hành án bằng văn bản tạo thuận lợi cho thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Về nguyên tắc, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của thừa phát lại và chịu trách nhiệm

về nội dung thông tin đã cung cấp Nếu vì lí

do nào đó mà họ không thực hiện yêu cầu thì

Trang 5

thừa phát lại phải áp dụng biện pháp khác để

xác minh điều kiện thi hành án theo đúng

thoả thuận giữa văn phòng thừa phát lại với

đương sự Khi việc xác minh điều kiện thi

hành án chưa thực hiện đúng theo sự thoả

thuận với đương sự thì văn phòng thừa phát

lại không thể thu phí của họ Tuy nhiên, việc

xác minh điều kiện thi hành án rất phức tạp,

trong khi đó quy định về thủ tục xác minh

điều kiện thi hành án còn quá chung chung

nên thừa phát lại rất khó thực hiện Vì vậy,

phải quy định cụ thể hơn thủ tục xác minh

điều kiện thi hành án mà thừa phát lại được

thực hiện theo hướng như thủ tục xác minh

điều kiện thi hành án mà chấp hành viên thực

hiện thì việc xác minh mới có hiệu quả Mặt

khác, theo Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP

thì thừa phát lại xác minh thi hành án theo

yêu cầu của đương sự và theo Điều 7 Luật thi

hành án dân sự năm 2008 thì người được thi

hành án, người phải thi hành án đều có quyền

yêu cầu thi hành án nên Điều 32 Nghị định số

61/2009/NĐ-CP chỉ quy định người được thi

hành án có quyền dùng kết quả xác minh điều

kiện thi hành án của thừa phát lại để yêu cầu

thi hành án là chưa đầy đủ Vì thế, cần quy

định cả người được thi hành án và người phải

thi hành án đều có quyền dùng kết quả xác

minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại

để yêu cầu thi hành án

Thứ năm, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP

quy định chưa thực sự bình đẳng về địa vị

pháp lí giữa cơ quan thi hành án dân sự với

văn phòng thừa phát lại và giữa chấp hành

viên với thừa phát lại trong khi họ cùng thực

hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự là

chưa hợp lí Theo quy định tại Điều 5 và Điều

39 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, thừa phát lại có quyền như chấp hành viên quy định tại Điều 20 Luật thi hành án dân sự, trừ việc được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; trong trường hợp cưỡng chế thi hành

án cần huy động lực lượng bảo vệ, văn phòng thừa phát lại phải lập kế hoạch cưỡng chế và

có văn bản gửi thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, kèm theo hồ

sơ thi hành án để thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh xem xét,

ra quyết định cưỡng chế thi hành án và phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án Quy định của pháp luật cho thấy văn phòng thừa phát lại cũng thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án như cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước; thừa phát lại cũng giống chấp hành viên về tiêu chuẩn bổ nhiệm, thẩm quyền bổ nhiệm, nhiệm vụ thi hành án và trách nhiệm đối với các hoạt động thi hành án đã thực hiện trước pháp luật như chấp hành viên, vậy tại sao quyền hạn của họ trong thi hành án dân

sự lại không được pháp luật quy định như nhau? Điều này vô hình trung đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người cùng làm một công việc, tạo ra sự chênh lệch về địa vị pháp

lí giữa họ, không nâng cao được địa vị pháp lí của thừa phát lại trong tổ chức thi hành án dân sự để việc tổ chức thi hành án dân sự của

họ có hiệu quả Vì vậy, một mặt cần sửa đổi Điều 39 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP theo hướng quy định rõ trách nhiệm của văn phòng thừa phát lại và thừa phát lại trước Nhà nước, trước các đương sự và những người

Trang 6

liên quan đến thi hành án dân sự, mặt khác

cũng phải quy định cho văn phòng thừa phát

lại, thừa phát lại được bình đẳng về địa vị pháp

lí với cơ quan thi hành án dân sự của Nhà

nước, với chấp hành viên trong việc tổ chức

thi hành án Nghĩa là trong tổ chức thi hành án,

văn phòng thừa phát lại, thừa phát lại cũng có

quyền và nghĩa vụ như cơ quan thi hành án và

chấp hành viên, trừ quyền xử phạt vi phạm

hành chính trong thi hành án, để tạo sự thuận

lợi cho họ tổ chức thi hành án và tạo ra sự

cạnh tranh lành mạnh giữa cơ quan thi hành án

dân sự của Nhà nước với tổ chức thi hành án

tư nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự

Thứ sáu, thừa phát lại tuy làm dịch vụ thi

hành án dân sự nhưng mục đích cũng là bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân,

tổ chức Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay

nhiều người vẫn chưa hiểu đầy đủ về văn

phòng thừa phát lại và thừa phát lại nên còn

có sự phân biệt đối xử, thiếu sự hợp tác ủng

hộ họ trong việc tổ chức thi hành án dân sự:

“Các văn phòng thừa phát lại phải tự "bơi",

tự quảng bá và bước đầu xây dựng niềm tin

đối với khách hàng bằng chính hiệu quả

công việc mới mẻ của thừa phát lại đem đến

cho người dân Tuy nhiên, để đạt được hiệu

quả cao hơn và để thừa phát lại thực sự là

những người “chia lửa” cho ngành thi hành

án, thiết nghĩ cần có những bước phối hợp

thiết thực và đồng bộ giữa nhiều cơ quan

hữu quan”.(9)

Vì vậy, cần phải đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật để

mọi người hiểu được quy định của pháp luật

về thi hành án dân sự, đặc biệt hiểu được chủ

trương xã hội hoá thi hành án dân sự thông

qua việc thực hiện chế định thừa phát lại,

khắc phục tình trạng phân biệt đối xử và thiếu

sự phối hợp với văn phòng thừa phát lại, thừa phát lại trong thi hành án dân sự

Ngoài ra, so với hoạt động công chứng thì hoạt động tổ chức thi hành án dân sự phức tạp hơn và ít lợi nhuận Trên thực tế, không nhiều người tích cực đầu tư tiền của, công sức vào lĩnh vực thừa phát lại như lĩnh vực công chứng Vì vậy, để khuyến khích tổ chức này hoạt động, đáp ứng được yêu cầu của xã hội về thi hành án dân sự cần phải có chính sách hỗ trợ như cấp hoặc cho các văn phòng thừa phát lại thuê đất làm trụ sở, miễn thuế một thời gian v.v /

(1) Nguồn: http://phapluattp.vn/ ngày 30/08/2010 (2) Nguồn: http://vietpress.vn/20120417101730331 p32c77/hoat-dong-thi-diem-thua-phat-lai-nguoi-dan-va-nha nuoc

(3).Xem: ThS Lê Xuân Hồng, “Từ nhu cầu xã hội đến chủ trương và kết quả bước đầu của việc thực

hiện thí điểm thừa phát lại”, Tạp chí dân chủ và pháp

luật, số 11/2011, tr 13

(4) Báo cáo của Bộ tư pháp s ố 133/BC-BTP ngày 15/08/2011 về kết quả Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị định số của Chính phủ 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009

về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh

(5) Nguồn: http://phapluattp.vn/20100811101155319p0 c1063/thua-phat-lai-kho-khan-ngon-ngang.htm (6).Xem: ThS Trần Văn Bảy, “Thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh và

một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số

11/2011, tr 18

(7) Nguồn: http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/im%20 ti n%20bo%20ch/View_Detail.aspx? Ite mID=736 (8).Xem: ThS Vũ Hoài Nam, “Bàn thêm về các công việc thừa phát lại được làm khi thực hiện thí điểm tại

thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí dân chủ và pháp

luật, số 12/2011, tr 51

(9) Nguồn: http://www.baomoi.com/Thua-phat-lai-khong-chi-lap-vi-bang/144/5211002.epi

Ngày đăng: 14/03/2018, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w