Câu 1 THỰC CHẤT CUỘC CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN THỰC HIỆN?Triết học của C.Mác (1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (1820 – 1895) là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho đến cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, là kết quả của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và sự phát triển của khoa học trong điều kiện kinh tế xã hội của thế kỷ XIX và cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ra mạnh mẽ trong thời kỳ đó.Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng. Thể hiện ở chỗ:Về điều kiện kinh tế xã hội: Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong cách mạng công nghiệp. Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị xã hội độc lập, không chỉ phát triển về số lượng mà cả về chất lượng, trực tiếp chống lại giai cấp tư sản, đấu tranh cho dân chủ và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy đã đặt ra nhu cầu về một lý luận có khả năng dẫn đường cho thực tiễn cách mạng.Về tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng ra đời trên cơ sở kế thừa toàn bộ những tư tưởng trong lịch sử nhân loại, nhưng cơ bản nhất và trực tiếp nhất đó là: Triết học cổ điển Đức, với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen (17701831) và Phoiơbắc (18041872). Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh với những lý luận kinh tế quan trọng của A.Xmít (17231790) và Đ.Ricácđô (1772 – 1823). Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như Xanh Ximông (1760 1825) và Sáclơ Phuriê (1772 –1837).Về tiền đề khoa học tự nhiên: Những luận điểm của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng đã được những phát minh khoa học tự nhiên thời đó làm cơ sở chứng minh, đó là: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Mikhail Vasilyevich Lomonosov (1711 – 1765) và Antoine Lavoisier (1743 – 1794). Thuyết tế bào của Theodor Schwann (1810 1882) và Matthias Schleiden (18041881). Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1809 – 1882). Chính những thành tựu khoa học đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những dạng tồn tại khác nhau, các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới, vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển của nó. Triết học Mác cũng như chủ nghĩa Mác
Trang 1Câu 1 (tổ 1) THỰC CHẤT CUỘC CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN THỰC HIỆN?
Triết học của C.Mác (1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (1820 – 1895) là sự
kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho đến cuốithế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, là kết quả của sự phát triển lịch sử tư tưởng triếthọc và sự phát triển của khoa học trong điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷXIX và cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ramạnh mẽ trong thời kỳ đó
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ,tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung, triếthọc Mác nói riêng Thể hiện ở chỗ:
Về điều kiện kinh tế - xã hội: Sự phát triển của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa trong cách mạng công nghiệp Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũđài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị- xã hội độc lập, không chỉ pháttriển về số lượng mà cả về chất lượng, trực tiếp chống lại giai cấp tư sản, đấutranh cho dân chủ và tiến bộ xã hội Chính vì vậy đã đặt ra nhu cầu về một lýluận có khả năng dẫn đường cho thực tiễn cách mạng
Về tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng
ra đời trên cơ sở kế thừa toàn bộ những tư tưởng trong lịch sử nhân loại, nhưng
cơ bản nhất và trực tiếp nhất đó là: Triết học cổ điển Đức, với hai nhà triết họctiêu biểu là Hê-ghen (1770-1831) và Phoiơbắc (1804-1872) Kinh tế chính trịhọc tư sản cổ điển Anh với những lý luận kinh tế quan trọng của A.X-mít(1723-1790) và Đ.Ri-các-đô (1772 – 1823) Chủ nghĩa xã hội không tưởng Phápvới những đại biểu nổi tiếng như Xanh Ximông (1760 - 1825) và Sáclơ Phuriê(1772 –1837)
Về tiền đề khoa học tự nhiên: Những luận điểm của chủ nghĩa Mác nói
chung và triết học Mác nói riêng đã được những phát minh khoa học tự nhiênthời đó làm cơ sở chứng minh, đó là: Định luật bảo toàn và chuyển hóa nănglượng của Mikhail Vasilyevich Lomonosov (1711 – 1765) và Antoine Lavoisier(1743 – 1794) Thuyết tế bào của Theodor Schwann (1810 - 1882) và MatthiasSchleiden (1804-1881) Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1809 – 1882).Chính những thành tựu khoa học đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa nhữngdạng tồn tại khác nhau, các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhấtvật chất của thế giới, vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển của
nó
Triết học Mác cũng như chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sửkhông những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấpcông nhân đòi hỏi phải có lý luận mới soi đường mà còn vì những tiền đề cho
sự ra đời lý luận mới đã được nhân loại tạo ra
Trang 2Sự ra đời của triết học Mác không những là một tất yếu lịch sử mà còntạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại
1 Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học.
Sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng to lớn trong lịch sửtriết học, thực chất của cuộc cách mạng ấy được thể hiện:
1.1 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghiã duy vật lịch sử là biểu hiện vĩ đại nhất trong cuộc cách mạng trong triết học do Mác
và Ăngghen thực hiện.
• Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong
sự phát triển của xã hội, của khoa học và triết học Tuy nhiên, đó là chủ nghĩaduy vật chưa triệt để, nghĩa là mới duy vật trong giải thích tự nhiên, nhưng cònduy tâm trong giải thích lĩnh vực lịch sử, xã hội, tinh thần Cho nên chưa thểđuổi được chủ nghĩa duy tâm ra khỏi “nơi ẩn chứa cuối cùng của nó” là lĩnh vực
xã hội
• Triết học của Mác đã giải thích không chỉ thế giới tự nhiên mà cả lĩnhvực lịch sử, xã hội, tư tưởng Do vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học củanhân loại, với quan điểm duy vật lịch sử, triết học Mác đã chấm dứt toàn bộ cáinhìn duy tâm, phiến diện về xã hội Xã hội, lịch sử, tư tưởng lần đầu tiên tronglịch sử đã được giải thích một cách khách quan, khoa học Vì vậy, V.I.Lênin đãkhẳng định, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu khoa học vĩ đại nhấtcủa khoa học, cũng vì vậy, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng là biểuhiện vĩ đại nhất trong lịch sử triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
1.2 Khắc phục sự đối lập giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học, tạo nên sự thống nhất hữu cơ không thể tách rời là chủ nghĩa duy vật biện chứng Trước khi triết học Mác ra đời thì nhìn chung luôn có sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng:
• Thời kỳ Hy Lạp cổ đại đã có sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật
và phép biện chứng, điển hình trong triết học của Hêraclít, nhưng nhìn chungcòn ở trình độ thấp Cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều còn thô sơ,chất phác
• Thời Phục hưng đến Cận đại, các nhà duy vật đã có nhiều công laotrong việc giải thích tự nhiên, xã hội, tư duy, nhưng chủ nghĩa duy của họ vẫnmang tính siêu hình, máy móc Như vậy, thế giới quan duy vật vẫn tách rời khỏiphép biện chứng
• Triết học cổ điển Đức, Hêghen đã đối lập phép biện chứng với phươngpháp siêu hình, nhưng phép biện chứng của Hêghen lại dựa trên nền thế giớiquan duy tâm, nghĩa là thế giới quan duy vật vẫn tách rời khỏi phép biện chứng
• Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật nhânbản của Phoiơbắc, nhưng đó cũng là chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc,nghĩa là thế giới quan duy vật này vẫn tách rời khỏi phép biện chứng
Trang 3Trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật thống nhất hữu cơ với phép biệnchứng, còn phép biện chứng được đặt trên nền thế giới quan duy vật Do vậy,chủ nghĩa duy vật của Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biệnchứng trong triết học là biện chứng duy vật Đồng thời cả chủ nghĩa duy vật vàphép biện chứng trong triết học Mác đều được Mác nâng lên một trình độ mới
về chất với các giai đoạn trước kia
1.3 Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học và hoạt động thực tiễn của con người.
• Triết học trước Mác nói chung, triết học duy vật trước Mác nói riêng,nhìn chung đều chỉ là giải thích thế giới mà chưa đề ra được con đường, biệnpháp đúng đắn để cải tạo thế giới Các đại biểu triết học muốn cải tạo thế giớinhưng lại muốn nhờ vào các lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc ý thức, tinhthần Chưa một đại biểu nào hiểu được vai trò của thực tiễn đối với hoạt độngcải tạo thế giới
• Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà quan trọng hơn là còn đề
ra con đường, biện pháp, cách thức để cải tạo thế giới Đặc biệt, triết học Mácchỉ ra rằng con người muốn cải tạo thế giới phải bằng và thông qua hoạt độngthực tiễn Và lần đầu tiên trong lịch sử triết học, triết học Mác đã gắn bó mậtthiết với hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người; còn hoạt động thựctiễn cải tạo thế giới của con người là cơ sở, động lực, mục đích của triết họcMác
1.4 Với sự ra đời của triết học Mác đã làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có căn cứ khoa học để trở thành thực sự khoa học
Sự ra đời của triết học Mác đã làm cho giai cấp công nhân có được lýluận khoa học, cách mạng dẫn dắt trong đấu tranh giải phóng bản thân và giảiphóng nhân loại
Phong trào công nhân đã tìm thấy ở triết học Mác vũ khí tinh thần củamình, còn triết học Mác tìm thấy ở phong trào công nhân vũ khí vật chất củamình
1.5 Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể.
• Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là bao trùm lên cáckhoa học hoặc bị hòa tan vào khoa học hoặc một ngành học khoa nào đó Chẳnghạn:
- Ở triết học phương Đông cổ, trung đại, triết học thường ẩn giấu đằng sau cáchọc thuyết về xã hội, thế giới, con người, chính trị, đạo đức
- Thời Hy Lạp cổ đại, triết học được coi là khoa học của các khoa học
- Thời Trung cổ ở châu Âu, triết học được coi là bộ môn của Thần học, cónhiệm vụ chứng minh cho sự tồn tại của Chúa trời, Thượng đế
Trang 4- Thời Cận đại phương Tây, triết học được coi là Mêtaphisica – cái nềncủa “cây thế giới quan” (thể hiện trong triết học của Đềcáctơ).
- Triết học Cổ điển Đức là quay trở lại quan điểm cho rằng triết học làkhoa học của các khoa học
• Quan hệ giữa triết học và khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng tácđộng lẫn nhau
- Triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhấtcho các khoa học cụ thể, còn các khoa học cụ thể cung cấp vật liệu, tài liệu,thông số khoa học cho triết học khái quát Ngay tiền đề khoa học tự nhiên cho
sự ra đời của triết học Mác đã chứng minh cho mối quan hệ biện chứng này
- Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác và Ăngghen đã luận giải đúngđắn vấn đề thực tiễn và đưa phạm trù thực tiễn là lý luận nhận thức; khẳng địnhthực tiễn không chỉ là cơ sở, động lực của nhận thức, mục đích của nhận thức
mà còn là tiêu chuẩn của chân lý Đặt cơ sở khoa học để xây dựng lý luận nhậnthức duy vật biện chứng, cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học đểcải tạo thế giới Đồng thời, đặt ra cơ sở khoa học cho các môn khoa học cụ thể
ra đời và phát triển
2 Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen
thực hiện.
Chính sự ra đời của triết học Mác mà vai trò xã hội của triết học cũng như
vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học đã thay đổi về căn bản:
2.1 Cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện đã làmcho triết học thay đổi vị trí, vai trò, chức năng trong mối quan hệ với thực tiễncải tạo thế giới của con người, cũng như trong mối quan hệ với các khoa học cụthể khác Triết học Mác đã trở thành thế giới quan khoa học của giai cấp côngnhân Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nóiriêng với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phongtrào từ trình độ tự phát lên tự giác
2.2 Cuộc cách mạng trong triết học Mác và Ăngghen thực hiện đã tạo ra
cơ sở khoa học cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở thành khoa học Bởichủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ rõ cơ sở cho tồn tại và phát triển của lịch sử xãhội là tồn tại xã hội, cái cơ bản quyết định sự vận động và phát triển của xã hội
đó chính là sản xuất vật chất, mặt khác chủ thể của quá trình sản xuất đó chính
là giai cấp công nhân – “lực lượng vật chất của triết học Mác”
2.3 Với sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xãhội mà triết học Mác lại trở thành thế giới quan, phương pháp luận chung, cầnthiết cho sự phát triển tiếp tục của các khoa học, cho hoạt động thực tiễn cải tạothế giới của con người, đặc biệt là giai cấp công nhân, cho lực lượng tiến bộ củanhân loại trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, xã hội, con người
Trang 52.4 Triết học mác-xít là cơ sở lý luận khoa học cho chiến lược và sáchlược cách mạng của giai cấp vô sản, là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống lại hệ
tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xét lại, cơ hội, giáo điều
Vì vậy, có thể thấy rằng, lịch sử triết học Mác đã chứng minh toàn bộquan điểm của Mác và Ăngghen là kết quả nghiên cứu trung thực của nhiềunăm; tính chân lý và cách mạng của nó Triết học Mác, ngay từ khi mới ra đời,
đã biểu hiện ra không phải là những điều cứng nhắc, mà là kim chỉ nam chohành động Đó là một học thuyết sinh động, luôn luôn phát triển một cách sángtạo trong mối liên hệ hữu cơ với thực tiễn và các khoa học khác
Câu 2 (tổ 1) TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI VỚI TỒN TẠI XÃ
HỘI? Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN?
Để nghiên cứu tính độc lập tương đối của ý thức xã hội với tồn tại xã hội
và ý nghĩa phương pháp luận Trước hết chúng ta phải biết rằng: tồn tại xã hội
là gì?, ý thức xã hội là gì? Vậy, tồn tại xã hội là toàn bộ những yếu tố vật chất
mà xã hội phải dựa vào để tồn tại và pháp triển Nó tồn tại khách quan ngoài ýthức xã hội và quyết định ý thức xã hội Tồn tại xã hội bao gồm phương thứcsản xuất, điều kiện tự nhiên, dân số, trong phương thức sản xuất vật chất là yếu
tố cơ bản nhất quy định và cho phối 2 yếu tố kia Còn ý thức xã hội là mặt tinhthần của đời sống xã hội bao gồm tình cảm, tập quán , truyền thống, quan điểm,
tư tưởng, lí luận v v phản ảnh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triểnnhất định
Như vậy tính độc lập tương đối của ý thức xã hội với tồn tại xã hội là khikhẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, chủ nghĩaduy vật lịch sử không xem ý thức xã hội như một yếu tố thụ động, tiêu cực, màtrái lại có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với tồn tại xã hội, có tácdụng tích cực đén đời sống kinh tế xã hội Mà tính độc lập thể hiện những điểmnhư:
Thứ nhất đó là, ý thức xã hội thường lạc hậu hơi so với tồn tại xã hội bởi
lẽ lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi xã hội mất đi, thậm chí đã mất đi rất lâu,nhưng ý thức xã hội do xã hội đó sinh ra vẫn còn tồn tại Tính độc lập tương đốinày đặc biệt rõ trong lĩnh vực tâm lí xã hội như truyền thống, tập quán,…, và LêNin cho rằng “ sức mạnh của tâm lí sản xuất nhỏ được tạo ra qua nhiều thế kỉ làsức mạnh ghê gớm nhất” Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
là do những nguyên nhân sau:
Một là, do bản thân ý thức vốn là cái phản ảnh tồn tại xã hội Sự biến đổi
của tồn tại xã hội thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội phản ánhkịp và trở nên lạc hậu Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ảnh tồn tại xã hội chonên nó chỉ biến đổi sau khi tồn tại xã hội đã biến đổi
Trang 6Hai là, do tính chất bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội cụ thể và
những tư tưởng chứa đựng trong các hình thái đó ( ví dụ: những tư tưởng tôngiáo những quan điểm và chuẩn mực đạo đức, những tập tục,…)
Ba là, ý thưc xã hội luôn gắn với lợi ý của những nhóm, những tập đoàn
người, những giai cấp nhất định trong xã hội Vì vậy, những tư tưởng củ, lạchậu thường được các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằmchống lại các lực lượng xã hội tiến bộ
Thứ hai Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại
xã hội, triết học C.Mác đồng thời thừa nhận rằng trong những điệu kiện nhấtđịnh, tư tưởng của con người, đặc điểm là những tư tưởng tiến tiến có thể đóngvai trò tiên phong, vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo đượctương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người,hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triểnmuồi của đời sống vật chất của xã hội đặc ra
Chủ nghĩa C.Mác – V I Lê Nin tuy ra đời vào thế kỷ XIX nhưng nhữngquy luật vận động của xã hội loài người do nó chỉ ra đã được thực tiễn thế kỷ
XX xác nhận và vẫn đang là vũ khí lí luận sét bén để giai cấp công nhân giảiphóng mình và giải phóng nhân dân lao động, xây dựng một xã hội mới tốt đẹphơn
Khi khăng định tư tưởng tiên tiến có thể dự báo trước những vấn đề của
sự phát triển xã hội thì điều đó không có nghĩa là ý thức xã hội trong trường hợpnày đã không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa Vấn đề là ở chỗ ý thức xã hội
đã phát triển ra khuynh hướng phát triển của tồn tại xã hội và phản ánh ít nhiềuchính xác các khuynh hướng đó Sự tiên đoán các khuynh hướng phát triển đãđem lại khả năng sử dụng sức mạnh cải tạo của những tư tưởng xã hội tiên tiến,phát huy được vai trò tích cực của chúng trong sự phát triển của xã hội
Thứ ba Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển
Lịch sự phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng hững quanđiểm lí luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không màđược tạo ra trên cơ sở kế thừa những thành tựu lí luận của các thời đại trước.Thí dụ: chủ nghĩa C.Mác đã kế thừa và phát triển những tinh hoa tư tưởng củaloài người, mà trực tiếp là nền triết học cổ điển Đức, tinh tế học cổ điển Anh vàchủ nghĩa xã hội Pháp
Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, cho nên sẽ không thể giảithích được một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có,
mà không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước Lịch sử phát triểncủa tư tưởng cho thất những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của nó nhiều khikhông trùng hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh của nền kinh tế.Tính chất kế thừa trong sự phát triển của tư tưởng là một trong những nguyênnhân nói rõ vì sao một nước có trình độ phát triển kém về kinh tế nhưng tưtưởng lại ở trình độ phát triển cao Thí dụ, nước Pháp ở thế kỷ XVIII có nênkinh tế phát triển kém nước Anh, nhưng tư tưởng lại tiên tiến hơn nước Anh;
Trang 7nước Đức nữa đầu thế kỷ XIX lạc hậu về kinh tế, nhưng lại đứng ở trình độ cao
về triết học so với nước Pháp và nước Anh
Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắng với tínhchất giai cấp của nó Những giai cấp khác nhau thì kế thừa những nội dung ýthức khác nhau của các thời đại trước các giai cấp tiên tiến thì tiếp nhận những
di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại
Ngược lại, những giai cấp lỗi thời và các nhà tư tưởng của nó thì tiếp thu,khôi phục những tư tưởng, những lý thuyết xã hội phản tiến bộ của những thời
kỳ lịch sử trước Quan điểm của triết học mác- Lê Nin về tính kế thừa của ýthức xã hội có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tinh thầncủa xã hội, và Lê Nin còn viết: “ văn học vô sản phải là sự phát triển lô gics củatổng số kiến thức mà loài người đã tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội
tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu” Chúng ta khẳngđịnh: trong điều kiện kinh tế thị thường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặcbiệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huytruyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc, tiếp thu tinh hoacác dân tộc trên thế giới, làm đẹp thêm nề văn hóa Việt Nam
Thứ tư là, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự
phát triển của chúng Sự tác động của tồn tại xã hội, xét đến cùng, là nguyên
nhân làm hình thành và phát triển ý thức xã hội, nhưng trong lịch sử phát triểncủa mình, các hình thái ý thức xã hội cũng tác động lẫn nhau Đây là một qyuluật phát triển của ý thức xã hội làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có nhữngmặt, những tính chất không thể giải thích được một cách trực tiếp bằng toonft ại
xã hội hay bằng các điều kiện vật chất lịch sử phát triển của ý thức xã hội chothấy, ở mỗi thời đại, tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thường cónhững hìn mthais ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh đến các hìnhthái ý thức khác, Ví dụ, ở Hy Lạp cổ đại, triết học và nghệ thuật đóng vai tròđặc biệt to lớn; còn ở Tây Âu Trung cổ thì tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đếnmọi mặt tinh thần của xã hội Ở giai đoạn lịch sử sau này thì ý thức chính trị lạiđóng vai trò to lớn tác động mạnh đến các hình thái ý thức xã hội khác Nhưvậy, khi phân tích một hình thái ý thức xã hội nào đó thì không nên chỉ chú ýđến các điều kiện kinh tế, xã hội đã sinh ra nó và những yếu tố nó kế thừa đượctrong ý thức của các thời đại trước mà còn phải chú ý đến ự tác động lên nó củacác hình thái ý thức khác Tuy nhiên tính độc lập của ý thức xã hội ở đây cũngchỉ là tương đối, vì bản thân sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hộixét đến cùng vẫn là do những nhân tố vaatn chất khách quan quyết định
Thứ năm là, ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâmtuyện đối hóa vai trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầmthường, chủ nghĩa duy kinh tế,… là những quan điểm không thấy hoặc phủnhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội Ph.Ăngghen viết
“ Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ
Trang 8thuật,v v đều dựa trên sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnhhưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế”.
Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội diễn ra vớinhiều khuynh hướng: nó có thể thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển phù hợp vớiquy luật, mang tính tích cực, nhanh hơn và ngược lại Xu hướng, phạm vi, cấp
độ và hiệu quả tác động của ý thức xã hội với tồn tại xã hội phụ thuộc vào nhiềuyếu tố Trong đó có nhũng yếu tố cơ bản như:
Một là trình độ phản ánh cuae ý thức xã hội đói với tồn tại xã hội
Khi ý thức xã hội phản ánh đúng đắn quy luật vận động của tồn tại xã hội,phản ánh đúng đắn nhu cầu phát triển của tồn tịa xã hội khi ý thức xã hội mangtính khoa học, tiến bộ sẽ góp phần thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển và ngượclại Cũng do đó, ở đây cần phân biệt vai trò của ý thức tư tưởng tiến bộ và ýthức tư tưởng phản tiến bộ đối với sự phát triển xã hội
Hai là, vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng
Sự phát triển của xã hội phụ thuộc vào nhận thức và hành động của conngười trong đó giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng ( giai cấp giữ vai trò là chủ thểlãnh đạo xã hội ) giữ vai trò quan trọng Nó thể hiện trong việc xây dựng, địnhhướng quan niệm, tư tưởng, giá trị,…cho cộng đồng; trong việc tuyên truyền,giáo dục, quảng bá ý thức xã hội; trong việc vận dụng, phát huy vai trò ý thức
xã hội
Ba là, mức độ ảnh hưởng của ý thức xã hội trong quảng đại quần chúng
Ý thức xã hội chỉ có thể phát huy vai trò, sức mạnh của nó khi chi phốinhận thức, hành động vủa con người, của quảng đại quần chúng C.Mác nhấnmạnh:”… lý luận cũng sẽ trở thàng lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhậmvào quần chúng”
Ngoài ra, xu hướng, pham vi, cấp độ và hiệu quả tác động của ý thức xãhội với tồn tại xã hội còn phụ thuộc vào mức độ tương tác qua lại giữa các yếuttos tham gia vào quá trình đó
Ý nghĩa phương pháp luận
Tồn tịa xã hội và ý thức xã hội là hai mặt thống nhất biện chứng của đờisống xã hội Do vậy, công cuộc cải tạo xã họi cũ, xây dựng xã hội mới phảiđược tiến hành trên cả hai phương tiện này của đời sống xã hội Đồng thời, cầnphải thấy rằng, thay đổi tốn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức
xã hội; rằng, không chỉ những biến đổi trong đời sống tinh thần xã hội, mà cảnhững tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định,cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận này trong công cuộc đổi mới đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, một mặt, chúng ta
phải ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, coi trọng cuộc đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng – chính trị, pháthuy vai trò tác động tích cực của đời sống xã hội đối với quá trình xây dựng vàphát triern nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; mặc khác, phải tránh tái sai lầm chủ quan
Trang 9duy ý chí trong xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng và phát triển conngười Việt Nam Đồng thời, chúng ta cần thấy rằng, chỉ có thể thật sự tạo dựngđược đời sống tinh thần của xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thực hiện thành công sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Câu 3 (tổ 1) ĐỒNG CHÍ HÃY PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM
NÀY?
A Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện:
Phép biện chứng duy vật là phương pháp triết học duy vật biện chứng vàcác khoa học nói chung Là cơ sở của nhận thức lý luận tự giác, phép biệnchứng duy vật là phương pháp dùng để nghiên cứu toàn diện và sâu sắc nhữngmâu thuẫn trong sự phát triển của hiện thực, đưa lại chìa khoáđể nghiên cứutổng thể những quá trình phức tạp của tự nhiên, xã hội và tư duy Vì vậy, phépbiện chứng duy vật được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực và có vai trò quyếtđịnh trong sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duy vật không chỉđưa ra hướngnghiên cứu chung, đưa ra các nguyên tắc tiếp cận sự vật, hiện tượng nghiên cứumàđồng thời còn làđiểm xuất phát đểđánh giá những kết quảđạt được
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổbiến - một trong hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng Đây là mộtphạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để chỉ sự quy định, tác động qualại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của một
sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Triết học Mác khẳng định: Cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiệntượng là thuộc tính thống nhất vật chất của thế giới Các sự vật, hiện tượng dùđadạng và khác nhau đến mấy thì chúng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau củamột thế giới duy nhất là vật chất mà thôi Ngay bản thân ý thức vốn không phải
là vật chát nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc tính, củamột dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộóc con người, nội dung của ý thức cómối liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài
Theo triết học Mác, mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là khách quanvốn có của bản thân chúng, đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến vàtính phổ biến ấy được thể hiện ở những vấn đề sau đây:
- Xét về mặt không gian, mỗi sự vật hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt,song chúng tồn tại không phải trong trạng biệt lập tách rời tuyệt đối với các sựvật hiện tượng khác Ngược lại, trong sự tồn tại của mình thì chúng tác động lẫn
Trang 10nhau và nhận sự tác động của các sự vật hiện tượng khác Chúng vừa phụ thuộcnhau, chếước nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại và phát triển Đó chính là haimặt của quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng
Trong đời sống xã hội ngày nay không có một quốc gia, dân tộc nào màkhông có mối quan hệ, liên hệ với quốc gia, dân tộc khác về mọi mặt của đờisống xã hội Đây chính là sự tồn tại, phát triển cho mỗi quốc gia, dân tộc Trênthế giới đã vàđang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt củađời sống xã hội Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tác độnglẫn nhau trên con đường phát triển của mình
- Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của sự vật hiện tượng thì mỗi sựvật hiện tượng đều được tạo thành bởi nhiều nhân tố, nhiều bộ phận khác nhau
và các nhân tố, bộ phận đó không tồn tại riêng lẻ mà chúng được tổ chức sắpxếp theo một lôgíc nhất định, trật tự nhất định để tạo thành chỉnh thể Mỗi biệnpháp, yếu tố trong đó mà có vai trò vị trí riêng của mình, lại vừa tạo điều kiệncho các bộ phận, yếu tố khác Nghĩa là giữa chúng có sựảnh hưởng, ràng buộctác động lẫn nhau, sự biến đổi bộ phận nào đó trong cấu trúc của sự vật hiệntượng sẽảnh hưởng đến bộ phận khác vàđối với cả chỉnh thể sự vật, hiện tượng
- Xét về mặt thời gian, mỗi một sự vật hiện tượng nói riêng và cả thếgiới nói chung trong sự tồn tại, phát triển của mình đều phải trải qua các giaiđoạn, các thời kỳ khác nhau và các giai đoạn đó không tách rời nhau, có liên hệlàm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này làm mởđầu cho giai đoạnkhác tiếp theo Điều này thể hiện rõ trong mối liên hệ giữa quá khứ - hiện tại -tương lai (hiện tại chẳng qua là bước tiếp theo của quá khứ và là bàn đạp chotương lai)
- Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính kháchquan, tính phổ biến vốn có của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quátrình mà nó còn nêu rõ tính phong phú, đa dạng và phức tạp của mối liên hệ qualại đó Khi nghiên cứu hiện thực khách quan có thể phân chia mối liên hệ thànhtừng loại khác nhau tuỳ tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp,trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp… khái quát lại có nhữngmối liên hệ sau đây: mối liên hệ bên trong - bên ngoài, chủ yếu - thứ yếu, chung
- riêng, trực tiếp - gián tiếp, bản chất - không bản chất, ngẫu nhiên- tất nhiên.Trong đó có những mối liên hệ bên trong, trực tiếp, chủ yếu, bản chất và tấtnhiên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng, quyết định cho sự tồn tại và pháttriển của sự vật, hiện tượng
2 Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng chúng ta rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự vật hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn.
- Về mặt nhận thức, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải đặt nó trongmối liên hệ tác động qua lại với những sự vật, hiện tượng khác và cần phải phát
Trang 11hiện ra những mối liên hệ giữa các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính, các giai đoạnkhác nhau của bản thân sự vật
Lênin đã khẳng định: "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn baoquát và nghiên cứu tất cả các mặt của mối liên hệ và quan hệ của sự vật đó" Đểnhận thức đúng được sự vật, hiện tượng cần phải xem xét nó trong mối liên hệvới nhu cầu thực tiễn, ứng với mỗi thời kỳ, giai đoạn, thế hệ thì con người baogiờ cũng chỉ phản ánh được số lượng hữu hạn các mối liên hệ Vì vậy tri thức vềcác sự vật, hiện tượng chỉ là tương đối, không đầy đủ và cần phải được hỏichúng ta phải phát hiện ra không chỉ là mối liên hệ của nó mà còn phải biết xácđịnh phân loại tính chất, vai trò, vị trí của mỗi loại liên hệđối với sự phát triểncủa sự vật Cần chống cả lại khuynh hướng sai lầm phiến diện một chiều, cũngnhưđánh giá ngang bằng vị trí của các loại quan hệ
-Về mặt thực tiễn, quan điểm toàn diện đòi hỏi để cải tạo sự vật, hiệntượng cần làm thay đổi mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng cũng nhưmối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác Muốn vậy,cần phải xác định, sử dụng đồng bộ các phương pháp, các biện pháp, phươngtiện để giải quyết sự vật Mặt khác, quan điểm toàn diện đòi hỏi trong hoạt độngthực tiễn cần phải kết hợp chính sách dàn đều và chính sách có trọng tâm, trọngđiểm Vừa chúý giải quyết về mặt tổng thể vừa biết lựa chọn những vấn đềtrọng tâm để tập trung giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc giải quyết những vấn
đề khác
Đối lập với quan điểm biện chứng toàn diện thì quan điểm siêu hìnhxemxét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện Nó không xem xét tất cả cácmặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia,
sự vật này tách rời sự vật khác
Quan điểm toàn diện cũng khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵbiện Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợpnhững mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp đượcvới nhau Thuật nguỵ biện cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặtthứ yếu làm mặt chủ yếu
Trong thời kỳđẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới của cách mạng ViệtNam hiện nay, nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ, tác động sẽkhông đánh giáđúng tình hình nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong từng giaiđoạn cụ thể và do vậy không đánh giá hết những khó khăn, những thuận lợitrong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Nhận thức và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổimới của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cần phải đổi mới toàndiện các lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng tăng trưởng kinh tếđi liền vớithực hiện công bằng xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội, đẩy mạnh côngnghiệp hoá - hiện đại hoá, đi tới bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa chủđộng
Trang 12hội nhập kinh tế quốc tế, vừa giương cao ngọn cờđộc lập tự chủ, an ninh quốcphòng… trong đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm.
Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, cáclĩnh vực của quá trình đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảngcũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội
là khâu đột phá, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh
tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm Có thểkhẳng định đây là sự vận động và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo
sự nghiệp đổi mới vàđem lại những thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đổi mới củacách mạng Việt Nam Đất nước ta trong giai đoạn quáđộđi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa với nền sản xuất nhỏ, điều kiện kinh tế cònrất nhiều khó khăn Để lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng
ta đã kết hợp chặt chẽ giữa "chính sách dàn đều" và"chính sách trọng điểm",trong đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm
Thực tiễn những năm đổi mới ở nước ta mang lại nhiều bằng chứng xácnhận tính đúng đắn của những quan điểm trên Khi đề cập tới những vấn đề này,Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xét trên tổngthể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từđổi mới về tư duy chính trị trong việchoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối ngoại Không có sựđổi mới đóthì không có mọi sựđổi mới khác Song, Đảng ta đãđúng khi tập trung trước hếtvào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụđổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảngkinh tế - xã hội, tạo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổnđịnh chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi đểđổimới các mặt khác nhau của đời sống xã hội"
Chúng ta có thể thấy sự ổn định, đứng vững và từng bước phát triển củađất nước trước những biến cố của thế giới đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô vàcác nước Đông Âu để thể hiện rõ sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta tronglãnh dạo sự nghiệp đổi mới Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu
bị sụp đổ đó là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, baocấp, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội với tư cách là một xã hội cao hơn chủnghĩa tư bản Nước ta đã có một thời kỳ chìm sâu trong cơ chế tập trung, quanliêu, bao cấp và một loạt những điều chỉnh trong thời kỳ đổi mới của Đảng vàNhà nước đã đưa đất nước dần thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đời sống củangười dân được nâng cao
Quan điểm toàn diện còn được Đảng ta nhận thức và quán triệt ngay trongchính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Đó là việc Đảng và Nhà nước vẫn thừa nhận vaitrò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũng như thừa nhận sự tồn tại củahình thức sở hữu tư nhân Tuy nhiên, trong đó Đảng ta vẫn đặc biệt nhấn mạnh
và coi trọng hình thức sở hữu công cộng với vai trò chủ đạo là thành phần kinh
tế quốc doanh trong cơ chế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện nước
Trang 13ta đã trở thành thành viên chính thức của WTO, đây là một thách thức rất lớnđối với một nước có thể nói là chậm phát triển, lạc hậu như Việt Nam chúng ta.
Và như thế, việc nhận thức và quán triệt tốt nguyên tắc toàn diện của Đảng có ýnghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta trong thời gian tới ViệtNam sẽ là nơi thu hút rất lớn vốn đầu tư của nước ngoài cũng như chúng ta sẽtrở thành đối tác của rất nhiều quốc gia kể từ khi gia nhập WTO, điều đó cónghĩa việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa, Dảng và Nhà nước phải có chính sách,đường lối phù hợp để thành phần kinh tế quốc doanh vẫn giữ được vai trò chủđạo, tạo đà cho sự phát triển của đất nước, đồng thời, bên cạnh đó với việc đầu
tư của các tập đoàn tư bản nước ngoài vào Việt Nam thì việc đưa ra nhữngchính sách điều chỉnh nhằm ổn định, phát triển kinh tế đất nước là nhiệm vụquan trọng đặt ra trước mắt chúng ta Việc kết hợp chặt chẽ "chính sách dànđều" và "chính sách trọng điểm" có ý nghĩa rất quan trọng trong lãnh đạo sựnghiệp đổi mới của Đảng ta thời gian tới
Từ những điểm trình bày trên đây có thể rút ra kết luận rằng, quá trình hìnhthành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương phápluận để nhận thức sự vật và sự vận dụng, quán triệt nguyên tắc trên của Đảngtrong sự nghiệp đổi mới đất nước đã đem lại rất nhiều thành công, đưa đất nướcphát triển đi lên với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh"
B Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm này:
1) Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên
hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật vàtrong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệtrực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng
về sự vật
Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức của khoa học triết học,chúng ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức triết học với tri thức khoa họckhác, với tri thức cuộc sống và ngược lại, vì tri thức triết học được khái quát từtri thức của các khoa học khác và hoạt động của con người, nhất là tri thứcchuyên môn được chúng ta lĩnh hội Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏichúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệbên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên đểhiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lạihiệu quả cao nhất trong sự phát triển của bản thân Đương nhiên, trong nhậnthức và hành động, chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mốiliên hệ ở những điều kiện xác định Trong quan hệ giữa con người với conngười, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp với từng con người Ngay cảquan hệ với một con người nhất định ở những không gian khác nhau hoặc thời
Trang 14gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan hệ phù hợp nhưông cha đã kết luận: “đối nhân xử thế”.
2) Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự
vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó màcòn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồngthời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khácnhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Để thực hiện mục tiêu : “dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng ta phảiphát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt quathử thách do xu hướng quốc tế hoá mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầuhoá kinh tế đưa lại Từ quan điểm toàn diện trong sự xem xét chúng ta đi đếnnguyên tắc đồng bộ trong hành động thực tiễn: để cải tạo một sự vât bao giờchúng ta cũng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống những biện pháp nhất định.Tuy nhiên cũng như đã nói ở trên, đồng bộ không có nghĩa là dàn đều, bìnhquân mà trong từng buớc, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu then chốt Thựchiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện, một chiều chỉthấy một mặt mà không thấy nhiều mặt hoặc có khi tuy có chú ý đến nhiều mặtnhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật Quan điểm toàn diệncũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn
3) Quan điểm toàn diện còn có ý nghĩa trong việc Khắc phục những điểm
đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát đẻ rút
ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó + Khắc phục tình trạng nguỵ biện (biến cái không cơ bản thành cơ bản); Thuật ngụy biện cũng để ý tới những mặt,những mối liên hệ khác nhaunhau của sự vật,nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản,cái không cóbản chất thành cái bản chất
+ Khắc phục tình trạng chiết trung (gắn kết những nhân tố không có liên hệnội tại với nhau thành một chỉnh thể)
Tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau,nhưng lại kết hợp một cách
vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về
sự vật.Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất,mối liên hệ căn bản
Trang 15cho nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắccác mốiliên hệ khácnhau, do đó, hoàntoàn bất lực khi cầnphải có quyết sáchđúng đắn.
Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta
phải bằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của
sự vật cũng như những mối lên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác
Muốn vậy, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng.
Trong cải tạo thế giới: việc quán triệt quan điểm toàn diện sẽ giúp cho việcđánh giá, nhận xét, nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách hệ thống đồng bộ,đồng thời nắm vững bối cảnh, quá trình biến đổi của sự vật hiện tượng và xuhướng phát triển của sự vật hiện tượng, từ đó có hệ thống các chính sách, biệnpháp, phương tiện tác động phù hợp, trong đó có những khâu đột phá, trọngtâm, trọng điểm; đồng thời có tính mềm dẻo, linh hoạt khi tình hình thay đổi
Câu 4 (tổ 1) QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI? Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON
NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?
Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người gồm nhữngnội dung cơ bản sau:
a Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học
và yếu tố xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của thếgiới tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học,tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồntại của con người Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” Conngười là một bộ phận của tự nhiên
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tốduy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa conngười với thế giới loài vật là mặt xã hội Trong lịch sử đã có những quan niệmkhác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng
Trang 16công cụ lao động Là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con người động vật có
tư duy
Những quan niệm nêu trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khíacạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồngốc của bản chất xã hội ấy
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề conngười một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, màtrước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệgiữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên củacon người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loàivật Nhu cầu sinh học phải được nhân hoá để mang giá trị văn minh của conngười, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhucầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạothành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội
b Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con ngườivượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tựnhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mốiquan hệ đó, suy đến cùng đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữangười với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác vàmọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người
Điều cần lưu ý là khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhậnmặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sựphân biệt giữa con người và thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội vàđấy cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác khôngthấy được bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa làcái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là duy cái duy nhất Do đócần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cánhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội
c Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài củagiới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn là chủ thểcủa lịch sử - xã hội
Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực màchúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề
Trang 17biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xacon vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mìnhlàm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận độngphát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵncủa tự nhiên Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình đểlàm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mụcđích của mình Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sửcủa mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ralịch sử của chính bản thân con người Không có hoạt động của con người thìcũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộlịch sử xã hội loài người Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụthể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phảilàm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính
là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynhhướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩađịnh hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cáchtích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạtđộng thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chấttrí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạtđộng vật chất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnhtrong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người
Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức
Ở nước ta, từ đại hội Đảng lần thứ III đến nay Đảng ta luôn xác định côngnghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Muốn thoát khỏi tình trạngnghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân thì không còn con đường nàokhác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa Đểlàm được như vậy thì một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề pháttriển lực lượng sản xuất, nâng cao kỹ thuật, công nghệ, và trong đó đặc biệt làphát triển nguồn nhân lực
2 Việc xây dựng và phát huy vai trò và nhân tố con người ở nước ta hiện nay
a Những đặc trưng cơ bản của con người mới XHCN
Quán triệt những quan điểm của CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM về vấn đềcon người, Đảng ta luôn coi con người là mục tiêu, là nhân tố quyết định củacông cuộc CNH – HĐH đất nước Con người XHCN là sản phẩm của mối quan
hệ kinh tế - xã hội của xã hội XHCN, nó từng bước hình thành trong mọi lĩnh
Trang 18vực của đời sống xã hội cùng với quá trình phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội.Bác Hồ nói: muốn xây dựng CNXH trước hết cần có con người XHCN Đó làcon người có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, con người XHCN là con người có ý thức, có trình độ, năng lực làm
chủ và đồng thời được tạo điều kiện để thực hiện năng lực làm chủ của mình
Hai là, con người XHCN là con người lao động kiểu mới, am hiểu công
việc của mình làm, có sức khỏe, lao động có kỷ thuật, có kỷ luật đồng thời cótrách nhiệm trong công việc của mình làm, biết hưởng thụ và biết gắn lợi ích cánhân với lợi ích tập thể và lợi ích XH
Ba là, con người XHCN là con người có lối sống VH và tình nghĩa
Bốn là, con người XHCN là con người có lòng yêu nước, yêu CNXH, có
tình thương yêu giai cấp, tình yêu thương đồng loại, có tinh thần quốc tế chânchính của giai cấp công nhân
b Nhân tố con người
Trong Chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2010, Đảng ta xác định phát huy nhân tố con người có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất Nhân tố con
người là tổng thể các yếu tố thuộc về thể chất và tinh thần, về trình độ chuyênmôn, về tay nghề, về phẩm chất đạo đức, về vị thế xã hội … tạo nên năng lựccủa con người mà năng lực đó nếu biết phát huy sử dụng tốt, nó sẽ trở thànhđộng lực to lớn thúc đẩy xã hội phát triển Thực chất của việc phát huy nhân tốcon người ở nước ta hiện nay là nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người
và phát huy vai trò của nó cho sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước
c Những phương hướng chủ yếu phát huy vai trò nhân tố con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay:
Nước ta hiện nay đang trong thời kỳ chuyển mình sang phát triển nền KThàng hóa nhiều thành phần, vấn đề con người luôn được Đảng và Nhà nước taquan tâm phát triển Song trong thực tế vẫn còn một số vấn đề về con người ở
từng nơi, từng lúc có những tình trạng cần phải quan tâm khắc phục, để phát huy vai trò nhân tố con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đã
đề ra một số phương hướng chủ yếu sau:
- Một là, xây dựng và thực hiện một chính sách XH đúng đắn và phù hợp vì
lợi ích của con người, do con người hay vì hạnh phúc con người
- Hai là, Phát triển nền KT hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN, nền KT đó phải đảm bảo vừa là phươngthức nền tảng để phát huy vai trò khai thác nhân tố con người có hiệu quả nhất,vừa là điều kiện để mỗi cá nhân bộc lộ những khả năng, năng khiếu của mình
- Ba là, Xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh, bảo đảm cuộc sống an
toàn cho mọi người và an ninh cho xã hội Ngăn chặn và trừng trị có hiệu quảnhững hành vi xâm phạm đến tài sản, phẩm giá của từng cá nhân trong cộng
Trang 19đồng; bảo vệ người lao động, trừng trị những người vì lợi ích trước mắt của cánhân mình mà làm tổn hại đến sức khỏe người khác;.
- Bốn là, Thực hiện cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực văn hóa tinh thần,
tạo điều kiện xây dựng cho người lao động có một đời sống tinh thần lànhmạnh, phong phú
- Năm là, xây dựng và thực hiện giá trị, thang bậc giá trị của người lao động
trong đời sống xã hội để khuyến khích các cá nhân hoạt động tích cực, sáng tạo;nhằm thực hiện việc phân phối một cách tốt nhất, hạn chế thái độ ỷ lại, trôngchờ hay lao động không chân chính
Tóm lại, trên cơ sở lý luận của CN Mác-Lênin về con người, trong tiến trình
cách mạng Đảng ta đã từng bước đề ra mục tiêu xây dựng con người XHCN ởnước ta Các Văn kiện Đại hội IV, V và VI của Đảng ta đã xác định những đặctrưng cơ bản của con người mới XHCN là: con người lao động kiểu mẫu, cótinh thần và năng lực làm chủ, có tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vôsản, có lối sống lành mạnh, trong sáng, văn minh
Câu 5 (tổ 2)ĐỒNG CHÍ HÃY PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁTTRIỂN Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM NÀY?
1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển
Sự vận động và sự phát triển
- Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận độngđược hiểu như sự thay đổi nói chung “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất,tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữucủa vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong
vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
- Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, do mâu thuẫn trong bản thân
sự vật gây ra Phát triển là một khuynh hướng vận động tổng hợp của hệ thống
sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quy định về chất (thay đổi kếtcấu – tổ chức) của hệ thống sự vật theo khuynh hướng tiến bộ giữ vai trò chủđạo; còn sự vận động có thay đổi những quy định về chất của sự vật theo xuhướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những quy định về lượng của sựvật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạotrên
+ “Hai quan điểm cơ bản…về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như
Trang 20là giảm đi và tăng lên, như lập lại; và sự phát triển coi như sự thống nhất củacác mặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quanđiểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ 2 mới cho ta chìa khóa của “sựvận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có nó mới cho ta chìa khóacủa những “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sựchuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cáimới”
- Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng; giữacái cũ và cái mới; giữa cái riêng và cái chung; giữa nguyên nhân và kết quả;giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiện tượng; giữa tất nhiên và ngẫunhiên; giữa khả năng và hiện thực
- Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổbiến và đa dạng: phát triển trong giới tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tựnhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triển trong tư duy, tinh thần
Nội dung nguyên lý:
- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và pháttriển
- Phát triển mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổnghợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đếnhoàn thiện hơn của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thựchiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định
2 Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm phát triển:
Quan điểm phát triển cũng là một trong những nội dung của phép biệnchứng duy vật, đồng thời là cơ sở lý luận của quan điểm phát triển, một quanđiểm khoa học đóng vai trò phương pháp luận trong việc nhận thức và cải tạo xãhội
Trong hoạt động nhận thức yêu cầu chủ thể phải:
- phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển khôngngừng
- Phát hiện những xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại củabản thân sự vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó;
- Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu hướng,
Trang 21những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát triển(bản chất) của sự vật
Trong hoạt động thực tiễn yêu cầu chủ thể phải:
- Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng…tồn tại của sự vật để nhận định đúngcác xu hướng, những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó;
- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện phápthích hợp (mà trước hết là công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổinhững điều kiện, phát huy hay hạn chế những khả năng…tồn tại của sự vậtnhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợi chochúng ta
- phát triển không phải bao giờ cũng theo đường thẳng, mà theo conđường “xoắn ốc”, vì vậy đứng trước khó khăn, thử thách chúng ta không đượcnản chí
- Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, chốnglại tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không chịu đổi mới Xem xét sự vật hiện tượngtrong trạng thái ngưng đọng Thoả mãn với những cái đã có, an bài với trật tựhiện có, không muốn xáo trộn, đổi mới Thấy được tính phức tạp của đổi mới,khắc phục những giản đơn siêu hình và sự phát triển Có thái độ kiên quyết triệt
để trọng đổi mới (đối với cái cũ và cái mới ) tránh nữa vời ( kinh tế thị trườngđầy đủ, hiện đại) Giám chấp nhập “ bước lùi ”, “ Trả giá ” để có sự phát triển.Đổi mới phải đảm bảo tính đồng bộ, có bước đi vững chắc và tránh cực đoan “
tả hoặc” , “hữu huynh” Tránh nôn nóng đốt cháy giai đoạn ( ít chú ý sự biếnđổi về lượng) , hoặc bảo thủ trì trệ ( không chú ý tổ chức bước nhảy) Cảnh giácvới sự biến đổi về lượng Phân biệt cái mới với cái mang tính hữu huynh, cáimới được cái cũ khoát áo cái mới
Nghiên cứu khuynh hướng của sự vận động, phát triển đòi hỏi chúng taphải biết phát hiện cái mới và nhân rộng cái mới lên Lúc đầu cái mới có thể còn
“non yếu”, nhưng theo quy luật chung cái mới nhất định sẻ chiến thắng cái cũ,cái lạc hậu; phủ định biện chứng mang tính kế thừa, do đó trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội cần phải biết kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốtđẹp của dân tộc cũng như của nhân loại (nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế hiện nay) để thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Mặc khác, phải chống
tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không chịu đổi mới trong nhận thức và trong hoạt độngthực tiễn cũng như tư tưởng “hư vô chủ nghĩa”; tư tưởng “phủ định sạch trơn”,
tư tưởng chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn
Câu 6 (tổ 2)
TỪ BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, ĐỒNG CHÍ HÃY
Trang 22LÝ GIẢI VÌ SAO ĐỀ RA BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?
Nói về nguồn gốc trực tiếp của sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước,V.I.LêNin viết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giaicấp không thể điều hòa được Bất cứ nơi đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, vềmặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhànước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng mâu thuẫngiai cấp là không thể điều hòa được”
Nhà nước về bản chất là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về mặtkinh tế nhằm duy trì trật tự xã hội hiện hành, bảo vệ lợi tích của giai cấp thốngtrị, trấn áp sự phản kháng của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác Khi nghiêncứu nguồn gốc nhà nước ta thấy rằng nhà nước xuất hiện do 2 nguyên nhân:nguyên nhân kinh tế (sự xuất hiện chế độ tư hữu) và nguyên nhân xã hội (sựxuất hiện của giai cấp và mâu thuẫn giai cấp) Căn cứ vào đó có thể thấy bảnchất nhà nước được thể hiện ở hai mặt, đó là tính giai cấp của nhà nước và vaitrò xã hội
a)Tính giai cấp:
Trong xã hội có hai giai cấp cơ bản là giai cấp thống trị và giai cấp bịtrị.Để thực hiện sự thống trị của mình, giai cấp thống trị phải tổ chức và sự dụngnhà nước, củng cố và duy trì quyền lực về chính trị, kinh tế, tư tưởng đối vớitoàn xã hội.Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thốngtrị về chính trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thểhiện ý chí của mình qua nhà nước Qua đó, ý chí của giai cấp thống trị trở thành
ý chí của nhà nước, mọi thành viên trong xã hội buộc phải tuân theo, hoạt độngtrong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị
Như vậy, Nhà nước do giai cấp thống trị lập ra, là một bộ máy cưỡng chế đặcbiệt, là công cụ duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị, đàn áp giai cấp bị trị,bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị Đó chính là tính giai cấp của nhànước
b)Tính xã hội:
Trong nhà nước, giai cấp thống trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cáctầng lớp giai cấp khác Do vậy, ngoài tư cách là công cụ để duy trì sự thống trị,nhà nước còn là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội Nhà nướckhông chỉ quan tâm đến lợi ích của giai cấp thống trị mà còn quan tâm đến lợiích của các tầng lớp khác.Giá trị xã hội mà nhước bảo vệ được thể hiện ngaytrong Hiến Pháp Nhà nước ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết,điều phối các chính sách kinh tế - xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.Nhà nước đầu tư, cung cấp hàng hóa dịch vụ xã hội cơ bản như: cấp phép, kiểmdịch, kiểm định, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực Nhà nước giữ vai trò là ngườibảo vệ những nhóm người yếu thế và dễ bị tổn thương trong xã hội như: ngườigià, trẻ em, người tàn tật…Nhà nước còn hoạt động trong các lĩnh vực bảo vệmôi trường, giao thông, phòng chống thiên tai, bão lụt…
Trang 23*Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Nhà nước XHCNViệt Nam ra đời không phải bằng cách “đập tan” nhànước cũ, mà trên cơ sở chuyển biến “từ nhà nước dân chủ nhân dân từng bướctiến dần lên kiểu nhà nước XHCN” Nhà nước dân chủ nhân dân và nhà nướcXHCN không đối lập nhau, về bản chất đều là nhà nước của dân, do dân và vìdân, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nôngdân và tầng lớp trí thức do Đảng cộng sản lãnh đạo Nhân dân là chủ thể tối caocủa quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước không nằm trong tay 1 cá nhânhay 1 nhóm người nào trong xã hội Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nướcdưới nhiều hình thức, hình thức cơ bản nhất là thông qua Quốc hội và hội đồngnhân dân các cấp do nhân dân trực tiếp bẩu ra
Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của tất cả các dân tộc sống trênlãnh thổ Việt Nam.Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắcbình đẳng trong mối quan hệ giữa công dân với nhà nước.Nhà nước ta là nhànước dân chủ rộng rãi và thực sự.Dân chủ xã hội vừa là mục tiêu vừa là độnglực của Cách mạng xã hộiCN, là thuộc tính của nhà nước xã hộiCN
Xuất phát từ bản chất của nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước củadân, do dân, vì dân dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó để xâydựng nhà nước Việt Nam thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải dựatrên ba nguyên tắc cơ bản đó là:
Một là: Xây dựng nhà nước dưới hình thức nhà nước pháp quyền Để thể
hiện và thực hiện đầy đủ bản chất quyền lực của mình, nhà nước XHCN phảitồn tại dưới hình thức chế độ dân chủ.Hình thức chế độ dân chủ là hình thức bắtbuộc đối với nhà nước XHCN.Xây dựng nhà nước XHCN, chế độ dân chủXHCN ở nước ta là một quá trình lâu dài
Bước vào đổi mới, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngàycàng đầy đủ hơn, rã ràng và cụ thể hơn và quyết tâm xây dựng nhà nước XHCNdưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn Đặc trung cơ bảncủa nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta đó là:
- Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân;
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểmsoát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp
- Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật
và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong việc điềuchỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nângcao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồngthời tăng cường kỷ cương, kỷ luật;
Trang 24- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dó Đảng Cộng sản Việt Namlãnh đạo, đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân
Hai là: Xậy dựng nhà nước Việt nam phải phát huy được chức năng xã
hội trên cơ sở đảm bảo sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội của nhànước
Xét về bản chất, sứ mệnh của nhà nước XHCN là nhà nước có khả năngthực hiện tốt các chức năng xã hội của mình.Nhà nước XHCN trong quá trìnhthực hiện chức năng xã hội vượt qua được những trở ngại mà bất kể một nhànước bóc lột nào cũng không thể vượt qua được, trở ngại về sự đối kháng lợiích, mà trước hết là lợi ích kinh tế giữa giai cấp thống trị với quần chúng laođộng Đảng ta luôn kiên trì quan điểm giai cấp trong xây dựng và đổi mới nhànước đồng tghowif chú trọng cải cách bộ máy nhà nước, đổi mới phương thứchoạt động của nhà nước cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong điều kiện nước ta hiện nay, để phát huy chức năng xã hội của Nhànước, Nhà nước điều hành nền kinh kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch
và cấc công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường Xây dựngđồng bộ, nâng cao chất lượng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống phápluật, thể chế và các chính sách phát triển kinh tế xã hội Tập trung xây dựng nềnhành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, đảm bảo quản lý thống nhất, thôngsuốt, hiệu lực, hiệu quả…
Ba là: Xây dựng Nhà nước gắn liền với cuộc đấu tranh ngăn ngùa và
Nói về quyết tâm trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, Vănkiện Đại hội X chỉ rõ: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tyham nhũng,lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằmxây dụng một bộ máy lãnh đạo, quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục mộttrong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta” Tuy nhiên đến Đạihội XI, Đảng vẫn thấy rằng: “Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêmtrọng, với biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bứcxúc xã hội” và khẳng định phải tiếp tục đẩy mạnh chống quan liêu, tham nhũng
Câu 7 (tổ 2) NỘI DUNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
Trang 25THỰC TIỄN? Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG VIỆC KHẮC PHỤC BỆNH KINH NGHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CỦA
NƯỚC TA HIỆN NAY?
1 Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin:
- Thực tiễn và lý luận
Về hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Con ngườinhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình màcải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới Trongqúa trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứhai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiệnmới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên
Vì vậy, không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thểtồn tại và phát triển được Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của conngười và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa conngười và thế giới
Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằngthực tiễn Chính từ trong qúa trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhậnthức của con người được hình thành, phát triển Thông qua hoạt động thực tiễncon người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộ lộ ra những thuộc tính,những tính quy luật để con người nhận thức chúng Thoát ly thực tiễn, nhậnthức đã thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực nuôi dưỡng nó phát triển vì thế khôngthể đem lại những tri thức sâu sắc, xác thực, đúng đắn về sự vật, sẽ không cókhoa học, không có lý luận
Trong qúa trình hoạt động cải biến thế giới, con người cũng biến đổi luôn
cả bản thân mình, thực tiễn rèn luyện các giác quan của con người làm chochúng tinh tế hơn, trên cơ sở đó phát triển tốt hơn Nhờ đó con người ngày càng
đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của nó, làm phong phú vàsâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn còn đề ra những nhu cầu, nhiệm
vụ, phương hướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đờicủa các ngành khoa học
- Về Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thựckhách quan Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quyluật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trìnhnhận thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng nhận thức
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận làtri thức khái quát tri thức kinh nghiệm Lý luận được hình thành trên cơ sở tổngkết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinhnghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện
Trang 26kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinhnghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên
nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiệntượng khách quan Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vậnđộng bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự
- Mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận
Chủ nghĩa Mac-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sựthống nhấtbiện chứng Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh thần,nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý luận
Tính phổ biến của thực tiễn đối với lý luận thể hiện ở chỗ, thực tiễn làkhâu quyết định đối với hoạt động nhận thức Một lý luận được áp dụng trongthời gian càng dài, không gian càng rộng thì hiệu qủa đạt được càng cao, càngkhẳng định tính chân lý của thực tiễn Như vậy, chỉ có qua hoạt động thực tiễnthì lý luận mới có giá trị tham gia vào qúa trình biến đổi hiện thực
Hoạt động lý luận là hoạt động đặc biệt nó thống nhất hữu cơ với hoạtđộng thực tiễn Vì vậy, khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với lý luận, chủnghĩa Mac-Lênin cũng khẳng đinh tính tích cực của sự tác động trở lại của lýluận đối với thực tiễn Lênin khẳng định: “không có lý luận cách mạng thìkhông có phong trào cách mạng” Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động thựctiễn
Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ranhững phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn Lý luận khoa học làmcho con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng “mò mẫm”, tự phát
Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt
mà đi”
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng caotrong sự phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trởthành ảo tưởng Vì thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt kháckhông được xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn
- Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng.
Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac-Lênin, sự thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại Nguyêntắc này có ý nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiềuhình thức và trình độ biểu hiện khác nhau Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phảnánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động Nhưng thước đo tính caothấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng
Trang 27hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triểncủa thực tiễn đặt ra, và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển,bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thểbiến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tựthân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệtđược thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêuchuẩn của chân lý (lý luận) Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắtnguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ởnhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận Thực tiễnbiến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thựctiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn
2 Ý nghĩa của nguyên tắc này trong việc khắc phục bệnh kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên của nước ta hiện nay
- Về bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa
Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa được đề cập ở đây là muốn nói đến những sai lầmtrong phương pháp tư duy cũng như trong cải tạo thực tiễn Thực chất của bệnhkinh nghiệm chủ nghĩa là sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm coikinh nghiệm là "chìa khoá vạn năng" trong việc giải quyết những vấn đề củacuộc sống đặt ra Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm là đề caokinh nghiệm cảm tính coi thường tri thức lý luận tri thức khoa học vận dụngkinh nghiệm để giải mã những vấn đề thực tiễn một cách máy móc dẫn đến tìnhtrạng áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Vậy
họ lấy những kinh nghiệm đó ở đâu? Về đại thể đó là sự từng trải của bản thânkinh nghiệm của người khác kinh nghiệm của địa phương này hay địa phương
nọ kinh nghiệm của nước này hay nước khác kinh nghiệm của các thế hệtrước… Tuy nhiên trong số nguồn kinh nghiệm đó thì xu hướng chủ yếu là tuyệtđối hoá kinh nghiệm bản thân
Những người mắc bệnh kinh nghiệm không hiểu được rằng:
Thứ nhất những kinh nghiệm của bản thân họ chỉ mang tính chất cục bộ chứkhông phải là cái phổ biến và càng không phải là tri thức kinh nghiệm phổ biếntheo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ hai những kinh nghiệm này họ vay mượn của người khác hoặc của quá khứchưa hẳn đã là những kinh nghiệm được bảo tồn và phát triển theo "quan điểmchọn lọc" Hơn nữa những tri thức kinh nghiệm mới chỉ là sự khái quát từ mộtthực tiễn một hoàn cảnh cục bộ riêng biệt và trong nhiều trường hợp chúng chỉmới phản ánh được cái bề ngoài ngẫu nhiên nhưng trong thực tế cụ thể sự việc
đã diễn ra một cách khác mà chúng ta đã không thể (và bất cứ ai cũng không cóthể) dự đoán được nó đã diễn ra một cách độc đáo hơn và phức tạp hơn nhiều.Thứ ba "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng
Trang 28minh được đầy đủ tính tất yếu.
Con người Việt Nam vốn mang đậm nét "tư duy kinh nghiệm" Vì vậy mặc dù
đã được trang bị chủ nghĩa Mác -Lênin đặc biệt là phép biện chứng duy vậtnhưng ở một số nhà quản lý của chúng ta ít nhiều vẫn mắc bệnh kinh nghiệmchủ nghĩa Với căn bệnh này trong hoạt động thực tiễn họ đã rơi vào tình trạng
mò mẫm sự vụ tuỳ tiện tự ti không nhất quán trong việc thi hành các chủ trươngchính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xãhội và bản thân họ cũng trở nên bảo thủ lạc hậu và trì trệ bởi phương pháp hànhđộng cũ kỹ Hậu quả đó sẽ trở lên nghiêm trọng hơn khi bệnh kinh nghiệm chủnghĩa đan kết chặt chẽ với bệnh chủ quan duy ý chí
- vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc khắc phụcbệnh kinh nghiệm
Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải nắm vững phép biện chứng duy vậtphải thấy được mối quan hệ qua lại và sự thống nhất biện chứng giữa kinhnghiệm và lý luận Phải bám sát thực tiễn khái quát thực tiễn khái quát lý luậnxây dựng được chiến lược phát triển đúng đắn phù hợp với từng thời kỳ lịch sử
Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốnkinh nghiệm quý báu đó Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãnvới vốn kinh nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinhnghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lýluận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lốisuy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính
hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng
bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy đễ rơi vào bệnh kinh nghiệm chủnghiã
Thực chất những sai lầm của bệnh kinh nghiệm là vi phạm nguyên tắcthống nhất giữa lý luận và thực tiễn Để ngăn ngữa, khắc phục có hiệu qủa cănbệnh trên phải coi trọng cả lý luận và thực tiễn
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với đảng viên nước ta hiện nay, lý luận Mac – Lênin trong sự thống nhất caovới thực tiễn phải thể hiện vai trò hướng dẫn, chỉ đạo trong công việc, giải quyếtnhững vấn đề cấp bách và trọng đại do cuộc sống hiện thực đặt ra cho chúng tatrong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay Nhữngthành qủa mà chúng ta có được ngày hôm nay là kết qủa của sự năng động, sángtạo của Đảng, Nhà nước ta trong qúa trình vận dụng nguyên tắc thông nhất giữa
lý luận và thực tiễn vào hoàn cảnh lịch sử Việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội
Câu 8 (tổ 3) VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM MÁC XÍT VỀ MỐI QUAN HỆ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TA TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trang 29Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai cấp và dân tộc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh là mối quan hệ cơ bản và có tác động mạnh mẽ đối với công cuộcgiải phóng dân tộc cũng như sự phát triển của toàn xã hội Vì vậy, trong quátrình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu vấn đề giai cấp, dân tộc vàmối quan hệ giữa chúng là điều hết sức cần thiết Nhìn lại lịch sử dân tộc tatrong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển mau lẹ và phức tạp của tìnhhình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ ChíMinh về vấn đề dân tộc và giai cấp Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực
tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó kh ăn của hoà bình xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng khi nào và ởđâu, vấn đề giai cấp và dân tộc không được kết hợp một cách đúng đắn; quanđiểm giai cấp và dân tộc được vận dụng một cách cứng nhắc, giáo điều hoặc bịcoi nhẹ thì ở đó cách mạng sẽ không chỉ gặp khó khăn mà thậm chí còn bị tổnthất nặng nề Qua đó, chúng ta có thể rút ra được bài học trong việc vận dụngxem xét vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp và mối quan hệ của chúng với vấn
đề dân tộc trong tình hình hiện nay và trong giai đoạn sắp tới của thời kì quá độkhi mà nền kinh tế nước nhà phát triển mạnh mẽ theo hướng thị trường và hộinhập quốc tế, sự phát triển chắc chắn sẽ đem lại cho chúng ta nhiều cơ hộinhưng cũng kéo theo không ít những nguy cơ, thách thức cũng như muôn vànkhó khăn
1 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp
1.1 Khái niệm giai cấp Lênin định nghĩa: Người ta gọi là giai cấp, nhữngtập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thốngsản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối vớinhững tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và nhưvậy là khác nhau về cách hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít nhiều mà họđược hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếmđoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhautrong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
1.2 Đặc trưng của giai cấp Mỗi giai cấp có những đặc trưng riêng, giaicấp không phải là sản phẩm của sản xuất nói chung mà là sản phẩm của hệthống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử Đặc trưng cơ bản của giai cấp làkhác nhau về việc nắm giữ tư liệu sản xuất trong cùng xã hội, khác nhau về vaitrò quản lý, phân công lao động xã hội, khác nhau về phân phối sản phẩm, khácnhau về địa vị trong nền sản xuất Như vậy giai cấp không phải là phạm trù xãhội thông thường mà là phạm trù kinh tế - xã hội có tính chất lịch sử
Giai cấp được hình thành từ hai nguồn gốc Nguồn gốc trực tiếp của sựhình thành giai cấp là sự ra đời của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất Về sâu xa, đó là do sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ nhấtđịnh
Trang 301.3 Đấu tranh giai cấp: Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấutranh giai cấp Lênin định nghĩa đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh của quầnchúng bị tước đoạt hết quyền, bị áp bức và lao động chống bọn có đặc quyền,đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhânlàm thuê hay những người vô sản chống lại những người hữu sản hay giai cấp
tư sản Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của cácgiai cấp và tầng lớp bị trị không chỉ về lợi ích kinh tế mà còn về chính trị, tinhthần Lợi ích của giai cấp bị trị hoàn toàn đối lập với lợi ích của giai cấp thốngtrị Có áp bức thì tất có đấu tranh chống áp bức Vì vậy đấu tranh giai cấp không
do một lý thuyết xã hội nào tạo ra mà là động lực phát triển và là hiện tượng tấtyếu không thể thiếu được trong xã hội có áp bức
2 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc: Khái niệm dân
tộc được dung để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân mộtnước có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có ý thức về
sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi những quyền lợi về chính trị, kinh
tế, truyền thống, văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trìnhdựng nước và bảo vệ đất nước
Dân tộc có tính thống nhất cao thể hiện ở sự cộng đồng về lãnh thổ, vềkinh tế, về ngôn ngữ và về văn hóa Dân tộc có tính ổn định, bền vững, đảm bảobởi nguyên tắc pháp lý cao, tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc Dân tộc
là một vấn đề rất rộng lớn mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã không đi sâu giải quyết
vì thời đó ở Tây Âu, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản.Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một
bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, Lênin có c ơ sở thực tiễn để phát triểnvấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận Tuy cả C.Mác,Ph.Ăngghen và Lênin đã nêu lên những quan điểm cơ bản về mối quan hệ biệnchứng giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc nhưng từ thực tiễn cách mạng vôsản ở Châu Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề giai cấp Điều kiệnnhững năm đầu thế kỉ XX trở đi đặt ra yêu cầu vận dụng và phát triển sang tạo
lý luận Mác-Lênin cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa Chính HồChí Minh là người đã đáp ứng được yêu cầu đó
3 Vấn đề gia cấp - dân tộc trong thực tiễn Việt Nam hiện nay:
Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCNhiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh về mốiquan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng hết sức cấp thiết Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khitriển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóngvội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đềdân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội,dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hàihoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ
Trang 31yếu nhất Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả vềphương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đềnày.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đếnnay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàndiện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đềgiai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta
Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “Mối quan hệgiữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội
bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổquốc được sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợiích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội” Điều này đã thể hiẹn rõ quan điểm biện chứng về sự thống nhất giữavấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc , giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc Mụctiêu này vừa thể hiện vừa đáp ứng nguyện vọng của toàn thể dân tộc, của cácgiai cấp và của mỗi người dân yêu nước Mặc dù tình hình đã có nhiều thay đổi
so với trước đây nhưng cả hiện nay và trong giai đoạn sắp tới của thời kỳ quá độkhông thể chỉ chú ý đến lợi ích của một giai cấp riêng biệt nào đó, kể cả lợi íchcủa giai cấp công nhân ra khỏi lợi ích của toàn thể dân tộc
Tuy nhiên không thể không nhận thấy rằng trong bối cảnh hiện nay củađất nước và thế giới, nội dung, tính chất và mức độ của cuộc đấu tranh này trênđất nước ta không hoàn toàn giống như trước đây Không thể để lặp lại mộtquan niệm sai lầm cho rằng khi đã có độc lập dân tộc hoàn toàn rồi thì chỉ cầntập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn giai cấp Nhận thức được điều đó chúng
ta sẽ thấy được sự cần thiết phải tập trung toàn bộ sức mạnh của các thành phầnkinh tế, của các giai cấp và của toàn dân tộc vào nhiêm vụ trung tâm của cả thời
kỳ quá độ là nhanh chóng phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện thắng lợi sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực hiện được nhiệm vụ pháttriển kinh tế không chỉ là hiện thực hóa nội dung của con đường xã hội chủnghĩa mang tính giai cấp công nhân sâu sắc mà còn là hiện thực hóa nội dungmang tính dân tộc, là nhiệm vụ cơ bản của toàn dân tộc, của mọi thành phầnkinh tế Lúc này đây, cả giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam không
có nhiệm vụ nào quan trọng hơn nhiệm vụ từng bước thực hiện thành công sựnghiệp công nghiêpk hóa, hiện đại hóa giống như trước đây cả dân tộc đã tậptrung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Chính vì lẽ đó mà trong nhiệm vụ phát triển đất nước, tính giai cấp vàtính dân tộc hòa quyện vào nhau Đảng ta cũng đã chỉ rõ trong quá trình thựchiện chính sách dân tộc cần nhận thức và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữacái chung và cái riêng, giữa cái thống nhất và cái đa dạng, giữ gìn và phát huytruyền thống của dân tộc cũng như tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại
Trang 32Nghiên cứu vấn đề giai cấp và dân tộc giúp chúng ta hiểu rõ về nguồngốc, quá trình tồn tại và xu hướng phát triển của cộng đồng các dân tộc trên thếgiới, đồng thời tìm hiểu bản chất căn nguyên của sự biến đổi và phát triển thôngqua việc tìm hiểu về quan hệ giai cấp nội tại trong mỗi quốc gia, dân tộc Qua
đó ta nhận thấy mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết giữa giai cấp và dântộc
Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và pháttriển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn,sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp Vấn đề đó đãđược kiểm nghiệm bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó
kh ăn của hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, tư tưởng Hồ ChíMinh đang thể hiện giá trị trường tồn nhất là trong bối cảnh các dân tộc đangđứng trước những thách thức cực kì nguy hiểm khi các thế lực hiếu chiến dựavào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến tranh xâm lược những nước cóchủ quyền, bất chấp luật pháp Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tụcnghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giaicấp trong tình hình mới, làm cơ sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổchức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc
ta vượt qua mọi thử thách, vững bước trong quá trình xây dựng một đất nước vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Câu 9 (tổ 3) NỘI DUNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN? Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG VIỆC GIÁO DỤC BỆNH GIÁO ĐIỀU CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở NƯỚC TA
- Thực tiễn là cơ sở của lý luận:
Đối với chủ nghĩa Mác, thực tiễn trước hết là sự hoạt động sản xuất vậtchất, nó là cơ sở sinh sống của con người , nó quyết định sự sinh tồn của xã hội
Lý luận xuất hiện trên cơ sở của thực tiễn, nó là kết quả tổng kết kinh nghiệmthực tiễn của con người Không cóthực tiễn thì không có lý luận khoa học Thựctiễn đề ra những vấn đề mà lý luận cần phải làm sáng tỏ,cần phải giải đáp Chỉ
Trang 33có lý luận nào gắn với thực tiễn, phục vụ cho nhu cầu thực tiễn và được thựctiễnkiểm tra thì mới có lý do để tồn tại lâu dài.
Chính trong quá trình cải tạo thế giới mà nhận thức, lý luận ở con ngườimới được hìnhthành và phát triển Thực tế lịch sử cho thấy, con người quan hệvới thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn Trong quá trìnhnày, con người sử dụng các công cụ, phương tiện tác độngvào các sự vật, hiệntượng, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính và tính quy luật, nhờ đó màconngười có được những hiểu biết về thế giới khách quan Ban đầu con ngườithu nhận những tài liệu cảmtính, những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh,phân tích, tổng hợp, trừu tượg hóa, khái quát hóa để xây dựng thành lý luận
Do đó, có thể nói, thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, cholýluận Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có lí lý luận Nhữngtri thức mà chúng ta cóđược cho đến hôm nay hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đềunảy sinh từ hoạt động thực tiễn.Quá trình cải tạo thế giới bằng hoạt động thựctiễn cũng chính là quá trình hoàn thiện bản thâncon người
- Thực tiễn là động lực của lý luận:
Hoạt động thực tiễn góp phần làm hoàn thiện các mối quan hệcủa conngười với tự nhiên, với xã hội Thực tiễn mà trước hết là thực tiễn sản xuất vậtchất đã thúc đẩycác ngành khoa học ra đời, các lý luận phát triển
- Thực tiễn là mục đích của lý luận:
Mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt độngcủa conngười trong thế giới hiện thực khách quan để đem lại cho con người ngày càngnhiều lợi íchnhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng, để đáp ứng nhucầu đó phải thông qua hoạt độngthực tiễn, hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tựnhiên và xã hội theo mục đích của con người Lý luận quayvề xâm nhập vàothực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, làm cho thực tiễn ngày càng hiệu quảhơn
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển,được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học Nhưng bản thân lý luậnkhông có mục đích tự thân Lý luận khoa học ra đời vì chúng cần thiết cho hoạtđộng cải tạo tự nhiên và xã hội Hay nói một cách khác, thực tiễn là mục đíchcủa nhận thức, lý luận Lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn,hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn của quầnchúng Lý luận chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn,đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn.Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hộitheo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang đặt ra nhiềuvấn đề mới mẻ vàphức tạp, đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để dáp ứng những yêu cầuđó.Chẳng hạn, đó là những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên ởnước ta, ;về kinh tế thị trường,về hoàn chỉnh hệ thống quan điểm đổi mới, v.v Qua việc làm sáng tỏ những vấn đề trên, chắc chắn lýluận sẽ góp phần đắc lựcvào sự nghiệp đổi mới đất nước
- Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận:
Trang 34Lý luận chỉ được coi là chân lý khi nó phù hợp vớihiện thực khách quan
mà nó phản ánh, và nó được thực tiễn kiểm nghiệm Thừa nhận thực tiễn là tiêuchuẩn chân lý của lý luận, cần chú ý những vấn đề sau: Thực tiễn chỉ là tiêuchuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó; thực tiễn
có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạnnào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn
Ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những tiêu chuẩn khác như: tiêuchuẩn logic, tiêu chuẩn giá trị…Qua đó, yêu cầu xây dựng lý luận phải xuấtphát từ thực tế, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vàothực tiễn Nếu xa rời thựctiên sẽ dẫn đến các sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, quanliêu,…tức lý luận suông
Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được tri thức đạt được làđúng hay sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ nghiêm khắc chứng minhchân lý, bác bỏ sai lầm Tuy nhiên, cần phải hiểu tiêu chuẩn thực tiễn một cáchbiện chứng: tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối.Tínhtuyệt đối là ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm nghiệmchân lý, thực tiễn ở mỗi gia đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý Nhưngtiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn không đứng im một chỗ màbiến đổi và phát triển; thực tiễn là một qúa trình và được thực hiện bởi conngười nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan
b Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận khoa học; lý luận phải đượckiểm nghiệm, được bổ sung và phát triển trong thực tiễn; lý luận đề ra mục tiêu,phương hướng, biện pháp chothực tiễn;
Hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soiđường: Chính nhờ có lý luận soi đường, hoạt động thực tiễn của con người mới
có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn.Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi
lý luận vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, vạch racác phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng pháttriển các mối quan hệ thực tiễn, dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, nhữnghạn chế, thất bại có thể có trong quá trình hoạt động
Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn cần lưu ý:
- Phân tích một cách cụ thể mỗi tình hình Nếu vận dụng lý luận một cáchmáy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận màcòn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch thống nhất tất yếu giữa lý luận
và thực tiễn
- Từ lý luận chúng ta cần xây dựng các mô hình dành cho hoạt động thựctiễn hướng theo những mục khác nhau Cần đưa ra những dự báo về các diễnbiến, các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quátrình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cựcnhằm đạt kết quả cao
- Phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sungnhững khiếm khuyết của lý luận, hoặc thay đổi lý luận cho phù hợp với thựctiễn