Tổng hợp tất cả những câu hỏi tự luận trong Triết học MácLieenin có đầy đủ lời giải chi tiết , tổng hợp những câu hỏi và câu trả lời bám sát theo lộ trình học , tài liệu triết học MácLenin của trường đại học tài chính marketing
Trang 1Câu 1 Vấn đề cơ bản của triết học
+ Khái niệm vấn đề cơ bản của triết học: Theo Ph.Angghen viết: “Vấn đề cơ
bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”2.
Vấn đề cơ bản của triết học, chỉ có một vấn đề là: mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức Vấn đề này, gồm hai mặt, trả lời hai câu hỏi lớn
Một là, Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nòa quyết định cái nào?
Hai là, Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Thứ nhất, giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm giác là cái có trước giới tự nhiên
* Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Đại diện của chủ nghĩa duy tâm khách
quan Platon, Hêghen, tư tưởng của một số tôn giáo, đặc biệt thiên chúa giáo.
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan về thế giới: thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng coi đó là thứ tinh thần khách quan có trước, tồn tại độc lập với con người và sự sáng tạo của một lực lượng siêu nhiên nào đó đối với toàn
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật cho rằng: trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất - giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người Học
thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật, giải thích mọi hiện tượng của thế giới này bằng các nguyên nhân vật chất - nguyên nhân tận cùng của mọi vận động của thế giới này là nguyên nhân vật chất
- Những hình thức của Chủ nghĩa duy vật: Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật
đã được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản:
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác: Các nhà duy vật thời cổ đại nhận thức về
nguồn gốc của vật chất mang tính trực quan Các nhà duy vật thời kỳ này thừa
nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng đồng nhất vật chất với một hay một số chất
cụ thể và đưa ra những kết luận, về sau người ta thấy mang nặng tính trực quan, chất phác
Trang 2+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai trong lịch sử của
chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
và điển hình là ở thế kỷ thứ XVII, XVIII
Đây là thời kỳ cơ học cổ điển đạt được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, cơ giới - phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ, mỗi bộ phận tạo nên thế giới
đó về cơ bản ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại Tuy không phản ánh đúng hiện
thực trong toàn cục nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy lùi thế giới quan duy tâm, tôn giáo, đặc biệt ở thời kỳ chuyển tiếp từ đêm trường Trung cổ sang thời Phục hưng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng giải thích nguồn gốc của thế giới từ vật chất, thế giới vật chất vô cùng, vô tận, không tự sinh ra, không tự mất đi, luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau cùng vận động và phát triển
Thứ hai, Về mặt nhận thức luận
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng: ý thức không phải là ý thức của con người mà là ý thức của thượng đế, thượng đế quy định nhận thức của con người Nhận thức của con người là sự mặc khải của thượng đế, hoặc bản tính của con người do trời sinh ra (cha, mẹ sinh con, trời sinh tính)
Sai lầm của CNDTKQ cố ý của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem
xét phiến điện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan: thừa nhận tính thứ nhất của
ỷ thức con người Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan
Nhận thức: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp của những cảm giác con người.
Sai lầm: tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, không thấy được tính quyết định của hiện thực khách quan.
Với câu hỏi “Con người có thể nhận thức được thế giới hay không?”, tuyệt đại đa số các nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) trả lời một cách khẳng định: thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người, những người này itheo thuyết “khả tri” còn những người không thừa nhận khả năng nhận thức của con người là những người theo thuyết “bất khả tri”.
+ Thuyết khả tri
Những người theo thuyết “khả tri” khẳng định con người về nguyên tắc có thể hiểu được bản chất của sự vật, hay nói cách khác con người có khả năng nhận thức được thế giới, mặc dù thế giới vật chất vô cùng, vô tận, cho du vật chất có
biến đổi đến mức độ nào đi nữa thì con người vẫn có thể nhận được, nhận thức
Trang 3được chỉ có cái con người chưa nhận thức được chứ không phải không nhận thức được Tri thức của con người ngày càng phát triển, con người sẽ từng bước khám phá và nhận thức về thế giới ngày càng sâu sắc hơn.
- Thuyết không thể biết (Agnosticism), nghĩa là con người không nhận thức
được thế giới
Theo thuyết này, con người, về nguyên tắc, không thể hiểu được bản chất của đối tượng Kết quả nhận thức mà loài người có được, theo thuyết này, chỉ là hình thức bề ngoài, hạn hẹp và cắt xén về đối tượng, hoặc nhận thức của con người chỉ đuổi theo sự vật, hiện tượng chứ không thể nhận đúng về bản thân chúng
* Đại biểu điển hình cho những nhà triết học bất khả tri cũng chính là trào lưu hoài nghi luận từ triết học Hy Lạp cổ đại và Hium và Cantơ
Thuyết hoài nghi: nghi ngờ về khả năng nhận thức chân lý của con người.
Câu hỏi liệu các tri thức và nhận thức có đúng hay không và liệu người ta có thể
có tri thức thực sự hay không "Trong khi tìm kiếm con đường thẳng đi đến chân
lý, chúng ta không cần phải quan tâm tới những gì mà chúng ta không thể thấu đáo một cách chắc chắn như việc chứng minh bằng đại số và hình học" Theo quan điểm của đề các tơ "không điều gì được xem là đúng cho đến khi nền tảng để tin rằng nó đúng được thiết lập" Sự chắc chắn duy nhất làm điểm xuất phát cho các nghiên cứu của ông được ông bày tỏ bằng câu nói nổi tiếng " "Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại".
Câu 2 Siêu hình và biện chứng
- K/n: Phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức của con người,
nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi mối quan hệ của chúng, quan sát đối tượng trong trạng thái tĩnh tại.
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đổi tượng ra khỏi các quan hệ được xem xét và coi các mặt đối lập với nhau có một ranh giới tuyệt đối.
Ví dụ: cái cây ở trong rừng và con người ở thành phố không có mối liên hệ với nhau, hoặc là giữa năm 2019, 2020, 2021 không có mối liên hệ với nhau.
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh; đồng nhất đối tượng với trạng thái tĩnh nhất thời đó Thừa nhận sự biến đổi chỉ là sự biến đổi về so lượng, ve các hiện tượng bề ngoài Nguyên nhân của sự biến đổi coi là nằm ở bên ngoài đối tượng.
Ví dụ, cái cột điện ở ngoài đường nó đứng im, không có sự vận động, biến đổi.
Phương pháp biện chứng
- Phương pháp biện chứng là cách thức nhận thức của con người về các sự
vật, hiện tượng trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, vận động và phát triển theo quy luật của nó.
+ Một là, nhận thức các hiện tượng, sự vật trong trạng thái mối liên hệ phổ biến vốn có của nó Không có một sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách cô lập,
Trang 4tách rời mà chúng luôn trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng nhau, ràng buộc, lương tựa nhau, quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề của nhau.
+ Hai là, nhận thức đối tượng ở trạng thái luôn vận động biến đổi không ngừng, nằm trong khuynh hướng phổ quát là phát triển Quá trình vận động này thay đổi cả về lượng và cả về chất của các sự vật, hiện tượng Nguồn gốc của sự vận động, thay đổi đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập của mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật.
Các hình thức cơ bản của phép biện chứng.
+ Phép biện chứng tự phát thời cổ đại:
Phép biện chứng tự phát là phép biện chứng chưa thành hệ thống, chưa chỉ
ra nguồn gốc vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng, chưa lý giải mối liên
hệ, sự vận động và phát triển của vật hiện tượng dưới dạng các nguyên lý, các quy luật, các cặp phạm trù.
Thời kỳ này các nhà triết học lý giải về mối liên hệ, sự vận động, phát triển theo cách nhìn trực quan của mình, họ chưa giải thích được nguồn gốc của vận động và phát triển.
Tóm lại, các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời cổ đại đã
thấy được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ vận động trong sự sinh thành, biên hóa vô cùng vô tận Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng thời đó thấy được chỉ
là trực kiến, chưa có các kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học minh chứng.
+ Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: Phép biện chứng duy tâm được
khởi đầu từ Cantơ hoàn thiện ở Hêghen Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại Hêghen đã hệ thống phép biện chứng dưới dạng các nguyên lý, các cặp phạm trù Tuy nhiên thế giới quan của Hêghen là thế giới quan duy tâm.
Quan điểm của Hêghen về “ý niệm tuyệt đối” là khởi đầu của tồn tại tự
“tha hoá” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần
“Tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực là một bản sao chép của ý niệm”1.
chúng duy vật với tính cách là học thuyết vê mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất Công lao của Mác và Ph.Ăngghcn còn ở chỗ tạo
được sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng trong lịch sử phát
Trang 5triển triết học nhân loại, làm cho phép biện chứng trở thành phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng
Câu 3: Quan điểm của triết học Mác Lênin về vật chất
Quan điểm của Mác – Ăngghen về vật chất
- Mác và Ph Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật - siêu hình, máy móc đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trọng về vật chất Theo Ph.Ảngghen, để cổ một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chât với tính cách
là một phạm trù của triết học,
- Ph Ăngghen chỉ rõ, các sự vật, hiện tượng của thế giới dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất - tính tồn tạỉ, độc lập không lệ thuộc vào ý thức
- Định nghĩa vật chất của Lênin
Kế thừa tư tưởng thiên tai của Mác và Ăngghen, tổng kết thành quả của khoa học tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy
tâm bảo vệ chủ nghĩa duy vật Lênin đã đưa ra định nghĩa vật chất.
“ Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, mang lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” 4.
- Những nội dung cơ bản của định nghĩa.
Thứ nhất, Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học là kết quả khái
quát hóa, trừu tượng hóa của tư duy con người nhằm phản ánh về những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của sự vật hiện tượng Tư duy con con người đã hình thành lên phạm trù triết học với tư cách là khái niệm có ngoại diên rộng nhất
để chỉ cái cái nằm ngoài tư duy, không phụ thuộc vào tư duy là “vật chất” - cái vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi
+ Thứ hai: vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý
thức và không lệ thuộc vào ý thức.
* Đặc trưng quan trong nhất của vật chất là thuộc tính khách quan là cái tồn tại ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức, (con người có muốn hay không muốn; con người có nhận thức được hay không nhận thức được thì vật chất vẫn tồn tại) Trong thế giới vật chất vô cùng vô tận, từ thế giới vĩ mô, đến thế giới vi
mô, dù tồn tại ở dạng hạt hay sóng, ở dạng nào đi nữa, và có khác nhau đến đâu thì giữa chúng vẫn có một điểm giống nhau là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào cảm giác con người
+ Thứ ba: vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì
đem lại cho con người cảm giác
Lênin khảng định vật chất là cái tác động, ý thức (cảm giác) là cái nhận sự tác động – lưu gữ thông tin của cái tác động dưới dạng cảm giác, tinh thần (cái
Trang 6tác động là cái có trước, cái nhận sự tác động là cái có sau) Vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của các sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là lụôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng các thực thể
+ Thứ tư, vật chất là cái tác động vào cảm giác, gây nên cảm giác ở con
người, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh ánh nó.
Vật chất là cải mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó ý thức phản ánh vật chất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Con người nhận thức về vật chất từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhận thức cảm tính, đến nhận thức lý tính Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Trong thế giới ấy, theo quy luật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện tượng - hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần
- Ý nghĩa của định nghĩa
+ Định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã giải quyết được cả hai mặt cùa vấn đề
cơ bản của triết học Mặt thứ nhất, đã được V.I Lênin khẳng định rõ, vật chất thực tại khách quan là có trước; cảm giác, ý thức của con người là có sau (chép lại, chụp lại - nghĩa là có sau vật chất) Mặt thứ hai, được V.I Lênin khẳng định cảm giác của con người chép lại được, chụp lại được, phản ánh lại được thực tại khách quan Nghĩa làj ý thức có thể phản ánh, nhận thức được vật chất Trên cơ
-sở đó, củng cố, khẳng định thế giới quan duy vật biện chứng.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin đã chống lại được cả quan niệm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, cả quan niệm của chủ nghĩa duy tâm khách quan về vật chất, về vấn đề cơ bản của triết học, góp phần trực tiếp củng cố thế giới quan duy vật biện chửng.
+ Định nghĩa vật chất cùa Lênin đã khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất của các nhà duy vật cũ Đồng thời đã thể hiện được sự kế thừa, phát triển sâu sắc những tư tưởng của C Mác, nhất là của
Ph Ăngghen về vật chất.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin đã trở thành cơ sở khoa học cho các nhà khoa học tự nhiên nghiên cứu thế giới tự nhiên, cung cấp cho họ một thế giới quan duy vật để họ tiếp cận, nghiên cứu
+ Định nghĩa vât chất của Lênin đã trở thành cơ sở khoa hoc cho việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng trong lĩnh vực lịch sử, xã hội Bởi lẽ, định nghĩa này đã bao quát toàn bộ hiện thực cả trong tự nhiên, cả trong xã hội, nhất
là trong lĩnh vực xã hội, giúp hiểu đúng vật chất xã hội là dạng vật chất không tồn tại dưới dạng vật thể Làm cho thế giới quan duy vật biện chứng có cơ sở khoa học trở thành duy vật triệt để khoa học.
Câu 4 Các hình thức tồn tại của vật chất
Trang 7- K/n vận động
Ph Ăngghen viết "Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất ( ) bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy".
Khi định nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung, thì vận động "là thuộc tính
cố hữu của vật chất", "là phương thức tồn tại của vật chất".
Nguồn gốc sinh ra vận động là sự thống nhất và đấu tranh của của các mặt đối lập Tự bản thân vận chất đã tồn tại những mặt đối lập, những mặt đối lạp này vừa đấu tranh vừa thống nhất với nhau tạo ra vận động
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất: điều này có nghĩa là vật
chất tồn tại bằng vận động Cách thức tồn tại của vật chất là vận động, thông qua vận động mà các dạng vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình (Trong thực tiễn
không có một sự vật hiện tượng nào tồn tại mà không phải là vật chất, không có một dạng vật chất nào tồn tại lại không vận động).
- Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất
+ Vận động gắn liền với vật chất, không tách rời khỏi vật chất và ngược lại Vận động là tự thân vận động của vật chất, được tạo nên từ sự tác động lân nhau của chính những thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất Nguồn gốc của vận động
là sự đấu tranh, thống nhất của các mặt đối lập.
+ Vật chất tồn tại vĩnh viễn không ai có thể sáng tạo ra, không thể tiêu diệt vận động cũng thế Qúa trình vận động làm cho vật chất chuyển hoá từ dạng này
sang dạng khác.
+ Vận động được bảo toàn về cả chất và lượng, các hình thức của vận động
có sự chuyển hoá lẫn nhau.
Vận động bên trong là vận động giữa các thuộc tính của một kết cấu vật chất nhất định
Vận động bên ngoài là sự vận động do sự tác động giữa kết cấu vật chất này với kết cấu vật chất khác
- Những hình thức cơ bản vận động của vật chất
+ Thứ nhất: Vận động cơ học là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong
không gian Ví dụ: ta thả mội hòn đá rơi tự do suống đất.
+ Thứ hai: Vận động vật lý là vận động của các nguyên tử, của các hạt cơ
bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt điện.Ví dụ: các điện tử quay quanh hạt nhân trong một nguyên tử.
+ Thứ ba: Vận động hoá học là vận động của các nguyên tử, các quá trình
hoá hợp và phân giải chất Ví dụ: 2AL + 6HCL = 2ALCL3 + 2H3
Thứ tư: Vận động sinh học là vận động của quá trình trao đổi chất giữa cơ thể
sống với môi trường Ví dụ cây hút nước và ôxy để sống
Trang 8Thứ năm: Vận động xã hội là sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của
hình thái kinh tế - xã hội Ví dụ: đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản.
Vận động xã hội bao gồm tất của các hình thức vận động khác
Vận động cơ học là cái cơ bản nhất
+ Đứng im tương đối chỉ xảy ra trong một quan hệ nhất định, chứ không phải mọi quan hệ cùng một lúc
+ Khi nhìn sự vật, hiện tượng đứng im là đặt sự vật, hiện tượng ấy trong hệ quy chiếu Không có đứng im tuyệt đối mà chỉ có vận động là tuyệt đối.
Ph.Ăngghen chỉ rõ "vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt" và "mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời''
Câu 5: Không gian và thời gian
Khái niệm không gian: “Bất kỳ một khách thể chất nào cũng chiếm một vị
trí nhất định, có một kích thước nhất định, ở một khung cảnh nhất định trong mối tương quan với khách thể khác Các hình thức tồn tại như vậy của khách thể gọi là không gian”1
+ Không gian tồn tại khách quan: vật chất tồn tại khách quan, không gian gắn niền với với vật chất, không gian cũng tồn tại khách quan
+Không gian có 3 chiều thuận nghịch : rộng, dài, cao
+Thời gian chỉ có 1 chiều không thuận nghịch : đó là từ quá khứ đến tương lai
+Không gian hữu hạn và không gian vô hạn Không gian gắn gắn liền với
sự vật cụ thể là không gian hữu hạn, sự vật cụ thể có giới hạn, giới hạn cả về kích thước, vị trí và giới hạn tồn tại của nó (sự vật cụ thể nào cũng có sinh và có chuyển hóa) Không gian vật chất - vũ trụ là không gian vô hạn Vật chất vô hạn không gian cũng vô hạn, vũ trụ vô tận, không gian cũng vô tận.
* Không gian của vật chất cụ thể mang tính đa dạng: Vật chất có vô vàn
dạng thì không gian cũng vô vàn rạng
+ Khái niệm thời gian: “sự tồn tại của các khách thể vật chất tồn tại nâu
dài hay mau chóng ở sự kế tiếp trước hay sau của các giai đoạn vận động, các hình thức tồn tại như vậy gọi là thời gian”2
Trang 9* Thời gian hữu hạn và thời gian vô hạn: thời gian gắn liền với sự vật hiện
tượng cụ thể là thời gian hữu hạn (ví dụ thời gian của 1 đời người cụ thể)
* Thời gian vô hạn là thời gian gắn với vật chất - vũ trụ: Vũ trụ không có
điểm khởi đầu và không có điểm kết thúc thời gian cũng vậy Vật chất vô hạn, thì thời gian cũng vô hạn x
Không gian và thời gian của vật chất nói chung là vô tận, xét về cả phạm vi
lẫn tính chất Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng trong thế giới không ở đâu có
tận cùng về không gian, cũng như không ở đâu có ngưng đọng không biến đổi hoặc không có sự tiếp nối của các quá trình.
Không gian, thời gian mang tính khách quan Vì, vật chất tồn tại khách quan
mà vật chất gắn niền với không gian, thời gian Ph.Ăngghen viết: "Các hình thức
cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian".
* Không gian và thời gian đều là hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất Do vậy, không có vật không tồn tại không có không gian, thời gian.
Câu 6: Tính thống nhất vật chất của thế giới
1.5.1 Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới
Trong quan niệm về sự thống nhất của thế giới phải lấy việc thừa nhận sự tồn tại của nó làm tiền đề Không thừa nhận sự tồn tại của thế giới thì không thể nói tới việc nhận thức thế giới.
Thế giới thống nhất ở tính vật chất
- Thứ nhất, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất, là thế giới vật chất
tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người, được ý thức của con người phản ánh.
- Thứ hai, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất
với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất.
- Thứ ba, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được
sinh ra và không tự mất đi; chúng luôn vận động, biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau,
là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
Thứ tư, tính vật chất của thế giới được biểu hiện cụ thể trong đời sống hiện
thực của con người Con người không thể sáng tạo ra vật chất, con người chỉ có thể
tìm ra những thuộc tính, những quy luật vận động của vật chất và tổ chức chúng lại, để tạo ra những sự vật, hiện tượng mà trong giới tự nhiên chưa có để phục vụ mục đích của con người.
Câu 7: Nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Trang 10+ Ý thức có nguồn gốc từ bộ não người
Bộ não người phải là bộ não sống, bộ não đang hoạt động bình thường, bộ não không bị tổn thương ở bất kỳ chức năng thần kinh nào Bộ não con người cùng với hệ thần kinh trung ương là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là một
dạng thuộc tính của vật chất có tổ chức cao nhất là bộ não con người, là chức năng của bộ não, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não (bộ não phải là bộ não sống, bộ não đang hoạt động bình thường) Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì bộ não con người có khoảng 14 -15 tỷ nơ ron thần kinh, các nơ ron thần kinh có sự kích thích, cảm ứng Bộ não của con người phải có quá trình hoạt động, tác động vào thế giới khách quan thì mới hình thành lên sự phản ánh của ý thức.
Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
+ Sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não của con người thông qua hoạt động của các giác quan, hình thành nên quá trình phản ánh.
Bộ não con người cùng với thế giới khách quan tác động vào bộ não con người, bộ não con người thu nhận thông tin và phản ánh những thông tin từ thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật
chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
Ý thức của con người là cái phản ánh, thế giới khách quan là cái được phản ánh Sự tác động qua lại giữa cái phản ánh và cái được phản ánh, cái phản ánh mang tính chủ quan - là ý thức, cái được phản ánh là sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, cái phản ánh tác động lên cái được phản ánh (là vật chất), cái được phản ánh tác động trở lại đối với cái phản ánh (là ý thức), cái phản ánh lưu giữ thông tin của cái được phản ánh (là vật chất), cái phản ánh xử lý thông tin đó theo quan điểm chủ quan của mình Nghĩa là ý thức là “cái nhận thức”, thế giới khách quan là “cái được nhận thức” “Cái nhận thức” không phản ánh “cái được nhận thức” một cách thụ động mà “cái nhận thức” lưu giữ thông tin và xử lý thông tin
của “cái được nhận thức” theo quan điểm chủ quan của mình.
Ý thức là quá trình phản ánh, là quá trình phản ánh cao nhất, nó bao hàm trong nó tất cả các hình thức phản ánh.
+ Các hình thức của phản ánh.
* Phản ánh vật lý là phản ánh giữa các vật thể với nhau, phản ánh giữa các hạt, trường, sóng điện từ
* Phản ánh hoá học là phản ảnh phản ứng hóa học giữa các chất.
* Phản ánh sinh học là phản có sự trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường là phản ánh giữa đồng hóa và dị hóa
* Phản ánh tâm lý: là phản ánh của động vật có hệ tần kinh trung ương
Trang 11* Phản ánh năng động sáng tạo: là phản ánh của xã hội loài người Đây là
hình thức cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện dưới dạng vật chất phát triển cao là bộ óc người Ví dụ: con người sáng tạo ra công cụ lao động…
Việc phân chia các hình thức của phản ánh, khác nhau về chất, hay nói cách khác khác nhau về trình độ mà trình độ cao nhất của các hình thức phản ánh là phản ánh năng động sáng tạo.
Sự ra đời của ý thức không phải chỉ có nguồn gốc tự nhiên mà còn do nguồn gốc xã hội Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ra tiền đề vật chất có năng lực phản ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức Hoạt động thực tiên của loài người mới là nguôn gôc trực tỉêp quyết định sư ra đời của ý thức c Mác và Ph Ăngghen khăng định: “Con người cũng có cả “ý thức” nữa Song, đó không phải
là một ý thức bẩm sinh sinh ra đã là ý thức “thuần tuý” Do đó, ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” Sự hình thành, phát triển của ý thức là một quá trình thống nhất không tách rời giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình, C Mác và Ph Ăngghen đã nhiều lần chỉ rõ rang, ý thức không những có nguồn gốc tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội và là một hiện tượng mang bản chất xã hội.
- Nguồn gốc xã hội của ý thức
+ Lao động
K/n: Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động
và giới tự nhiên, nhằm cải biện giới tự nhiên phục vụ mục đích của con người.
Ăng ghen viết: “Với quá trình phát triển của bàn tay- và với quá trình lao động, con người bắt đầu thống trị tự nhiên và cứ mỗi lần sự thống trị đó tiến lên một bước, là mỗi lần nó mở rộng thêm tầm mắt của con người”6
Nhờ kết quả lao động cơ thể của con người, đặc biệt là bộ óc và các giác
quan ngày càng hoàn thiện dần cả về cấu tạo và chức năng.
Nhờ có lao động mà con người đã dần chuyển hóa từ vượn thành người; nhờ có lao động con người đã thoát khỏi cuộc sống bầy đàn, đi tới khẳng định mình và từng bước trinh phục giới tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ mục đích của mình; nhờ có lao động mà tri thức của con người ngày càng hoàn thiện, con người ngày càng phát hiện ra các thuộc tính mới của vật chất và các quy luật của
tự nhiên, đồng thời con người chế tạo ra các công cụ mới giúp con người nối dài bàn tay của mình để trinh phục và từng bước tiến tới làm chủ tự nhiên; nhờ có lao động đã làm cho thân thể con người đẹp hơn và bộ não của con người ngày càng
có khả năng sáng tạo hơn, lao động chính là một trong những nguồn gốc xã hội để hoàn thiện ý thức của con người.
- Ngôn ngữ
Trang 12Nhờ có lao động mà ngôn ngữ được hình thành Khi đề cập đến vấn đề này,
Ph Ăngghen viết: “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”.
Trong hoạt động lao động và sản xuất, để săn bắn, hái lượm đạt kết quả tốt nhất, con người cần phải quan hệ với nhau, phối hợp với nhau, trao đổi thông tin cho nhau, nhu cầu ấy ngay càng phát triển, “Phát triển đến mức là họ thấy cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”9 Như vậy, nhu cầu đó dẫn đến xuất hiện ngôn ngữ
Khái niệm Ngôn ngữ: Là toàn bộ những ký hiệu, ký tự, chữ viết tiếng nói,
nhằm trao đổi thông tin giữa con người với con người trong quá trình sống.
Tóm lại, nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội là hai điều kiện cần và đủ cho sự ra đời của ý thức Nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì con người không thể có ý thức Xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức cho thấy, ý thức xuất hiện la két quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết qụả trực tiếp của thực tiễn xã hội - lịch
sử của con người
Nguồn gốc xã hội quyết định ý thức
Câu 8 Bản chất của ý thức
- Thứ nhất: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Ý thức không phải là bản sao đơn giản, thụ động, máy móc của sự vật mà ý thức là sự phản ánh có tính năng động, sáng tạo thế giới vật chất vào bộ não người qua hoạt động thực tiễn.
+ Với tư cách là hình ảnh chủ quan: ý thức là cái phản ánh, cái phản ánh
mang tính chủ quan Ý thức là của con người, thuộc về con người, do con người suy nghĩ Con người nhận thức về thế giới, phản ánh thế giới theo cách của riêng
mình Cách nhận thức, cách hiểu của mỗi con người cụ thể về thế giới không giống nhau Vì vậy, ý thức thuộc về chủ thể nhận thức, do chủ thể nhận thức quy định Ý thức của con người chỉ đạo nhận thức của con người đó về thế giới có thể đúng, hoặc sai, đây là quan điểm chủ quan của mỗi người Cái chủ quan và cái khách quan là hai mặt đối lập cần phải phân biệt rõ.
+ Với tư cách ý thức là của thế giới khách quan được hiểu, nguồn gốc của ý
thức và đối tượng phản ánh của ý thức thuộc về thế giới khách quan Do vậy, cái
chủ quan và cái khách quan đều tồn tại trong một cấu trúc, cái chủ quan bị thế giới khách quan quy định Nói rõ hơn, bộ não của con người và đối tượng nhận thức của con người quy định sự suy nghĩ của con người Bộ não con người mà bộ não của con người thuộc về thế giới khách quan vừa là nguồn gốc tự nhiên của ý thức, vừa là đối tượng phản ánh của ý thức Đối tượng phản ánh của ý thức là thế giới khách quan Ý thức phụ thuộc vào thế giới khách quan, thế giới khách quan quy
Trang 13định sự nhận thức của ý thức, thế giới khách quan như thế nào thì nhận thức của người như vậy, thế giới khách quan thay đổi thì ý thức con người cũng thay đổi theo.
Ý thức là cái phản ánh, ý thức mang tính chủ quan, thế giới khách quan là cái được phản ánh Cái phản ánh (cái chủ quan) bị cái được phản ánh (cái khách quan) quy định nên nó không có tính vật chất, không được lẫn lộn đồng nhất vật chất với ý thức.
+ Thứ hai: Ý thức phản ánh thế giới khách quan một các năng động sáng tạo
Để hiểu vấn đề này trước hết chúng ta cần phải thừa nhận cả vật chất và ý thức mang tính đối lập, "sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối"1
Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh, vật chất là cái được phản ánh - tồn tại khách quan bên ngoài và độc lập với cái phản ánh là ý thức - cái chủ quan Khác với động vật, sự phản ánh của ý thức con người khi tiếp nhận thông tin, không tiếp nhận một cách thụ động, mà mô hình hóa đối tượng trong tư duy của mình, tìm ra những thuộc tính và những quy luật vốn có của cái được phản ánh tức vật chất, từ
đó, tổ chức lại lại các lực lượng vật chất, để phục vụ mục đích của chính mình Khi
đề cập đến vấn đề này Mác cho rằng: “Con nhện làm động tác giống như động tác của người thợ dệt,con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng nó trong đầu óc của mình rồi”1 Ở đây chúng ta nhận thấy tính mục đích của sự phản ánh của ý thức vượt trước hiện thực, hướng dân hoạt động của con người cải tạo thế giới xung quanh
Tính năng động, sáng tạo hiện thực theo nhu cầu thực tiễn của xã hội được thống nhất trên 3 mặt:
+ Trao đổi thông tin hai chiều theo cách chọn lọc.
+ Mô hình hóa các đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần, tìm
ra các thuộc tính, các quy luật vốn có của đối tương nhận thức.
+ Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan.
* Ý thức có khả năng tập hợp các quy luật, các thuộc tính của các dạng vật chất, tổ chức chúng lại – thông qua hoạt động thực tiễn của con người để tạo ra những thứ mà trong tự nhiên không có
* Ý thức có khả năng tạo ra đời sông tinh thần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người
Trang 14Từ những phân tích trên cho thấy: sự phát triển của bộ não con người, làm duy khoa học của ý thức con người sẽ tiếp tục phát triển và chính những tư duy khoa học là “chiếc mai” đào mồ chôn những tư duy thần thoại, hoang đường
Tóm lại, từ kết quả nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của ý thức cho thấy: ý
thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội lịch sử.
Nguồn gốc xã hội quyết định ý thức
Câu 9: Kết cấu của ý thức
- Các lớp cấu trúc của ý thức:
+ Tri thức: là kết quả của quá trình nhận thức, sự hiểu biết của con người
về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng nhưng thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ, hoặc các hệ thống ký hiệu khác Theo Mác “Phương thức mà theo đó ý thức tồn tại mà theo đó một cái
gì tồn tại đối với ý thức là tri thức Tri thức là hành vi duy nhất của ý thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đời với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó”1
+ Tình cảm là cảm động của con người trong quan hệ của mình với thực tại
xung quanh và đối với bản thân mình.
Tình cảm có thể mang tính chất chủ động chứa đựng hai sắc thái gồm: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực Tình cảm mang tính tích cực là một trong những động lực nâng cao năng lực hoạt động sống của con người Tri thức kết hợp với tình cảm tạo nên niềm tin, nâng cao ý chí tích cực biến thành hành động thực tế mới phát huy được sức mạnh của mình.
+ Ý chí: Để đạt đến trình độ cao của nhận thức, con đường đi lên chiếm lĩnh
đỉnh cao ấy không bằng phẳng mà nó vô cùng khó khăn để đến được đỉnh cao ấy đòi hỏi con người phải có ý chí
Ý chí là sự quyết tâm, cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềm năng để đạt tới mục đích của con người trong hoạt động thực tiễn.
Ý chí thể hiện là lòng tin, lòng quả cảm, sự quyết đoán, quyết tâm, dũng cảm
sự định hướng rõ ràng mục tiêu phấn đấu.
- Cấp độ của ý thức
+ Tự ý thức: Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người
đồng thời cũng tự nhận thức bản thân mình Đó chính là tự ý thức Như vậy, tự ý thức cũng là ý thức, là một thành tố quan trọng của ý thức, nhưng đây là ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài
+ Tiềm thức: Là những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm
soát của chủ thể, song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra dưới sự kiểm soát của chủ thể ấy Về thực chất, tiềm thức là những tri thức
Trang 15mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã gần như trở thành bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng
+ Vô thức:Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy
nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí.
+ Vấn đề “trí tuệ nhân tạo: Trí tuệ nhân tạo là bộ não do con người sản
xuất ra bằng hệ thống các vi mạch (chất bán dẫn – vật liệu thông minh…), tích hợp những phần mềm được con người lập trình dựa trên các hoạt động của bộ não con người, có khả năng nhận thức, tự động xử lý những vấn đề gần giống với con người, chịu sự điều khiển của con người.
Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội có ý thức, chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Khẳng định vai trò to lớn của ý thức trong đời sống hiện thực của con người về thực chất là khẳng định vai trò của con người - chủ thể mang ý thức đó Cần có thái độ đúng đối với con người, quan tâm, chăm lo phát triển con người toàn diện
- Thứ nhất: Vật chất quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức.
Có thế giới vật chất mới sản sinh ra vũ trụ, trái đất và con người, mới có ý thức của con người
Vật chất “sinh” ra ý thức, vì: ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người cách đây từ 3 đến 7 triệu năm, mà con người là kết quả của một quá trinh phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất
Ý thức có nguồn gốc từ bộ não con người, bộ não con người là một dạng thuộc tính của vật chất, bộ não con người là tập hợp của các tế bào, nơ ron thần kinh, các tế bào, nơ ron thần kinh đều là những thuộc tính của vật chất sự kích thích của các nơ ron thần kinh, kích hoạt một loại vật chất đặc biệt, sự hoạt động này là là nguồn gốc của ý thức
- Thứ hai: Vật chất là nội dung phản ánh của ý thức
Ý thức dưới bất kỳ hình thức nào, suy cho cùng, đều là phản ánh hiện thực khách quan Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người Hay nói cách khác, có thế
giới vật chất, ý thức mới có cái để phản ánh Thế giới khách quan là cái nằm ngoài
ý thức, không phụ thuộc vào ý thức, tác động vào ý thức, ý thức chỉ là sự chụp lại,
Trang 16chép lại, phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người, nội dung thế giới khách quan như thế nào thì ý thức sẽ chụp lại, chép lại, phản ánh như thế
- Thứ ba: Vật chất quyết định bản chất của ý thức
Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Nhưng sự phản ánh của con người không phải là “soi gương”, “chụp ảnh” hoặc là “phản ánh tâm lý” như con vật mà là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn
Tự bản thân vật chất đã chứa trong nó những thuộc tính, những quy luật, do nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người đã kích thích sự sáng tạo của ý thức,
sự sáng tạo ấy không phải ý thức sáng tạo ra vật chất mà ý thức chỉ có công phát hiện ra nó, tổ chức nó thành một cái khác với bản thân nó Hoạt động thực tiễn quy định sự sáng tạo của ý thức.
- Thứ tư: Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
+ Khi điều kiện vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức của con người cũng phải thay đổi theo Vật chất không bao giờ đứng im để cho con người nhận thức mà nó luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng, sự biến đổi của nó tuân thủ theo những quy luật, mỗi lần biến đổi, nó bộc lộ ra những quy luật, những thuộc tính mới
Vai trò của ý thức đối với vật chất
Ý thức chỉ có vai trò tác động trở lại đối với vật chất, chứ ý thức không thể quyết định định được vật chất "Trong công việc sản xuất của mình, con người chỉ
có thể hành động như bản thân thiên nhiên đã làm, nghĩa là chỉ có thể làm thay đổi hình thái của vật chất mà thôi"1
- Thứ nhất: Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất góp
phần cải biến thế giới khách quan Tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở
chỗ, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào bộ não của con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất, nó có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất có thể nhanh hay chậm, có thể phát triển hoặc thoái triển, nhưng nhìn chung thường thay đổi chận so với sự biến đổi của thế giới vật chất.
- Thứ hai, Sự tác động của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động của
con người Nhờ họat đông thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện,
hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc
sống của con người Con người dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan từ đó đề ra mục tiêu phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu ấy Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức
có thể tìm ra quy luật, các thuộc tính của vật chất, tổ chức, kết hợp các lực lượng vật chất làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra
Trang 17“thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của con người Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định
- Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động
của con người; nó có thể làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác quy luật vận động của hiện thực khách quan, từ đó có thể hình thành nên những lý luận, xây dựng kế hoạch, định hướng đúng đắn và hành động đúng đắn Ngược lại, một khi ý thức phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực khách quan thì nó sẽ chỉ đạo hành động của con người phá hoại chính bản thân và đồng loại của mình.
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là
trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Một phát minh khoa học vĩ đại đem ứng dụng vào thực
tiễn, nó có thể tạo ra một lượng của cải vật chất khổng lồ cho nhân loại, một tư tưởng chỉ đạo đúng đắn có thể làm thay đổi bộ mặt của một dân tộc hơn nữa ngày nay những ý tường khoa học có thể trở thành hàng hóa đem lại giá trị kinh tế lớn Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của tri thức khoa học, của tư tưởng chính trị,
tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng.
Tóm lại, mặc dù tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng
nó không thể vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào các điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động Nếu quên điều đó chúng ta sẽ lại rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm, duy ý chí, phiêu lưu và tất nhiên không tránh khỏi thất bại trong hoạt động thực tiễn.
Câu 11: Ý nghĩa phương pháp luận
- Vật chất quyết định ý thức.
+ Khi vạch ra kế hoạch, đường lối phải xuất phát từ lực lượng vật chất, phải chỉ được ra các lực lượng vật chất Phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng các quy luật khách quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở Chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí
Nguồn gốc của bệnh chủ quan duy ý chí
Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ trình độ thấp kém, thói quen của các tập tục lạc hậu Bệnh chủ quan, duy ý chí.
Biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí trong đời sống xã hội là: Tuyệt đối hóa vai trò của ý thức; coi thường lý luận khoa học; coi thường hiện thực khách quan.
Trang 18Khi xây dựng đường lối chính sách không tuân thủ nguyên tắc khách quan mà lại xuất phát từ ý muốn chủ quan.
Biện pháp chữa bệnh chủ quan duy ý chí.
Không ngừng học tập nâng cao trình độ khoa học; nâng cao trình độ cho cán
bộ và toàn thể nhân dân.
Loại bỏ những thói quen và những tập tục lạc hậu Khắc phục những tình trạng sản xuất nhỏ manh mún.
+ Khi xây dựng các đường lối, chính sách phải tuân thủ quy luật khách quan,
từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có Phải tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan, nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả tai hại khôn lường Nhận thức sự vật hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, trách tô hồng hoặc bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tượng cái mà nó không có Văn kiện Đại hội XII chủ trương phải nhìn thăng vào sự thật, phản ánh
đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Nhận thức, cải tạo sự vật hiện tượng, nhìn chung, phải xuất từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vôn có của nó cần phải tránh chủ nghĩa chủ quan, bệnh chủ quan duy ý chí; chủ nghĩa duy vật tam thường, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa khách quan.
- Ý thức tác động trở lại đối với vật chất
+ Thứ nhất: Ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo vì vậy trong hoạt động
thực tiễn phải phát huy các nhân tố chủ quan, phát huy tính năng động sáng tạo của
ý thức bằng cách tích cực học tập, nghiên cứu không ngừng tìm tri thức mới
Chống lại tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều, ỷ lại, trông chờ.
+ Thứ hai: ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào óc con người, giúp con
người hiểu được bản chất, quy luật vật động và phát triển của sự vật, hiện tượng Trên cơ sở đó hình thành phương hướng mục tiêu và những phương pháp, cách thức thực hiện phương hướng mục tiêu đó.
Trong hoạt động thực tiễn, sự vật bao giờ cũng bộc lộ nhiều khả năng Nhờ đó
ý thức, con người biết lựa chọn những khả năng thực tế, phù hợp mà thúc đẩy sự việc phát triển, đi lên.
Nói đến vai trò của ý thức đối với vật chất thực chất là nói tới vai trò hoạt động thực tiễn của con người, vì ý thức “ tự nó “ không thể thực hiện được gì hết Mác nói “Ý thức không thể tự đưa người ta ra khỏi trật tự, xã hội cũ”1, ý thức chỉ
có tác dụng đối với hiện thực trong thực tiễn, thông qua hoạt động thực tiễn.
+ Thứ ba: Ý thức chỉ có thể tác động đối với vật chất khi nó được thực hiện
thông qua hoạt động thực tiễn của con người Trong hoạt động thực tiễn phái đánh giá cao vai trò của con người, phát huy khả năng sáng tạo của con người Do
vậy, phải giáo dục nâng cao trình độ nhận thức khoa học cho con người
Câu 12 Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan( chương 2 )
Trang 19- Biện chứng khách quan
K/n: Biện chứng khách quan là biện chứng chứng của thế giới vật chất Thế
giới vật chất muôn hình, muôn vẻ, tự nó đã có sự tác động qua lại lẫn nhau cùng vận động và phát triển, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được, hay không nhận thức được thì tự bản thân thế giới đã có mối liên hệ, quy định nhau, giàng buộc nhau và tự nó vận động và phát triển không ngừng.
Từ phân tích trên có thể nhận thấy: thế giới vật chất, tự nó không tồn tại độc lập, không tĩnh tại Con người có muốn hay không muốn, có nhận thức được hay không nhận thức được thì mối liên hệ và sự vận động vẫn là thuộc tính cố hữu của vật chất Do vậy, với phương thức tồn tại này của vật chất người ta gọi nó là biện chững khách quan.
Trong quá trình nhận thức con người đã tìm ra những phương pháp của mình
để nhận thức, trong đó con người đã sử dụng phương pháp biện chứng để nhận thức thế giới Con người nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng, nhận thức chúng trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau cùng vận động và phát triển, cách nhận thức như vậy gọi là biện chứng chủ quan Biên chứng chủ quan là biện chứng của phương pháp tư duy con người về thế giới vật chất Biện chứng chủ quan là sự nhận thức của con người phù hợp với biện chứng khách quan.
Phép biện chứng với tư cách là sản phẩm của tư duy con người, do con người tìm ra và sử dụng nó để nhận thức thế giới, thì phép biện chứng mang tính chủ quan.
Tóm lại: Khi phân tích về biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Ăngnghen viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ phản ánh chi phối toàn bộ giới tự nhiên”1
Câu 13: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
- Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
K/n: Mối liên hệ phổ biến là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định sự
tác động qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
Quan điểm siwwu hình cho rằng: sự vật tồn tại trong trạng thái cô lập tách rời, ngược lại chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Trong thế giới muôn hình,
Trang 20muôn vẻ không có một sự vật hiện tượng nào tồn tại cô lập, tác rời mà chúng luôn tồn tại trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, quy định nhau.
- Những tính chất của mối liên hệ
+ Tính khách quan của mối liên hệ
Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, là cái vốn có của mọi
sự vật hiện tượng chúng không phụ thuộc vào cảm giác của con người Con người
có muốn hay không muốn thì các sự vật, hiện tượng vẫn cứ liên hệ với nhau Tự bản thân sự vật, hiện tượng đã có mối liên hệ.
Sự vật hiện tượng có sự khách quan mà sự vật hiện tượng gắn liền với mối liên hệ nên mối liên hệ có sự khách quan.
+ Mối liên hệ mang tính phổ biến:
Bất cứ sự vật hiện tượng nào củng có cấu trúc của nó, có không gian, thời gian của nó, ngoài việc việc liên hệ với nội tại với bản thân nó, nó còn liên hệ với
sự vật hiện tượng khác
+ Mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú:
Mỗi sự vật, hiện tượng đều có không gian khác nhau, thời gian khác nhau vì vậy, chúng có mối liên hệ khác nhau, không có mối liên hệ nào trùng khít, hoặc giống hệt mối liên hệ nào vật chất muôn hình vạn trạng khác nhau, thì mối liên hệ
cung muôn hình vạn trạng khác nhau Chính điều này đã tạo lên sự muôn hình, muôn vè của mối liên hệ.
Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp:
Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu.
Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản.
Mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên.
Mối liên hệ chung và mối liên hệ riêng
Mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất
Mối liên hệ nền tảng và mối liên hệ phái sinh
Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động của chính các sự vật
Ví dụ: nếu xem xét các doanh nghiệp tồn tại với tư cách là các đơn vị độc lập thì mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ bên ngoài
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Mối liên hệ mang tính khách quan Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn khi
tìm hiểu mối liên hệ thì tìm ngay chính bản thân sự vật Không đi đi tìm mối liên hệ
ở các hiện tượng duy tâm (đặc biệt là duy tâm khách quan)
+ Mối liên hệ mang tính phổ biến, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện.
Trang 21* Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên
hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật Chúng ta càng biết được nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng thì trong hoạt động thực tiễn chúng ta càng tránh sự thất bại bấy nhiêu
Quan điểm toàn diện còn đòi hỏi trong quá trình nhận thức phải xem xét mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Xuất phát từ nhu cầu khác nhau phải có cách thức giải quyết khác nhau Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên Trong giải quyết các vấn đề xã hội cần phải hiểu thật sâu sắc về bản chất con người thông qua mối liên hệ kinh tế, bởi chỉ trong mối liên hệ kinh tế bản chất con người mới phơi bày một cách rõ nét nhất
vị trí cụ thể của mối liên hệ để giải quyết cho đúng đắn.
* Quan điểm lịch sử cũng cho chúng ta hiểu, mối liên hệ theo không gian, thời gian và mối liên hệ cũng không ngừng biến đổi Do vây, trong hoạt động thực tiễn phải biết chớp thời cơ
Câu 14: Nguyên lý về sự phát triển
+ Quan điểm biện chứng: Xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ
thấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời nhưng vẫn nằm trong khuynh hướng của sự phát triển
K/n: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
Trang 22+ Phát triển từ thập đến cao dùng để chỉ về trình độ thấp, cao của sự vật,
hiện tượng Cần phân phân biệt thấp - cao khác với dài ngắn Cao ở đây là trình độ
đi lên
+ Từ đơn giản đến phức tạp, nghĩa là nói đến quy mô rộng hẹp, đồ sộ
-thô sơ, sâu sắc – nông cạn Từ đơn giản đến phức tạp nghĩa là làm cho sự vật đi từ hẹp đến rộng, từ thô sơ đến đồ sộ, từ nông cạn đến sâu sắc.
+ Từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện được hiểu: làm cho sự vật hiện tượng
khắc phục những khuyết điểm, bổ xung váo đó những yế tố tích cực làm cho sự vật, hiện tượng tiến bộ dần đến sự hoàn chỉnh, chỉnh chu
- Tính chất của sự phát triển
+ Sự phát triển mang tính khách quan: Theo quan điểm duy vật biện
chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển
Phát triển là sự phát triển tự bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức con người Con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát triển theo khuynh hướng chung nhất của nó.
+ Sự phát triển mang tính phổ biến: vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự
nhiên, xã hội và tư duy Ở bất cứ sự vật hiện tượng nào, ở vào không gian nào, thời gian nào cũng nằm trong khuynh hướng của sự phát triển Ngay cả các khái
niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của tư duy cũng luôn phát triển
+ Phát triển có tính kế thừa: phát triển là trên nền tảng của cái cũ, tìm ra
những khiếm khuyết, những yếu tố chưa hoàn thiện, bổ sung vào sự vật cho hoàn thiện hơn Sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng cũ Sự
vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ, chứ không phải ra đời từ hư
vô, vì vậy trong sự vật, hiện tượng mới còn giữ lại, có chọn lọc và cải tạo các yếu
tố còn tác dụng, còn thích hợp với chúng, trong khi vẫn gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản trở sự vật mới tiếp tục phát triển
+ Sự phát triển còn có tính đa dạng phong phú: Khuynh hướng phát triển
là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Các sự vật, hiện tường tồn tại
ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, cấu trúc của chúng khác nhau, không sự vật hiện tượng nào trùng khít nên sự vật hiện tượng nào vì vậy các dạng phát triển của chúng mang tính khác nhau.
- Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của từng dạng vật chất
Trang 23+ Sự phát triển của giới vô cơ thể hiện ở dạng biến đổi các yếu tố và hệ
thống vật chất, sự tác động qua lại giữa chúng và trong các điều kiện nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chất phức tạp Từ đó cũng làm xuất hiện các hợp chất hữu
cơ ban đầu - tiền đề của sự sống
+ Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên và cải
biến xã hội cũng như bản thân con người Sự phát triển của mỗi con người biểu hiện ở khả năng tự hoàn thiện mình cả về thể chất và tinh thần, phù hợp với sự vận động và phát triển của môi trường trong đó có con người sinh sống.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện
xu hướng biến đổi của nó để không chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại, mà còn
dự báo được khuynh hướng phát triển của nó tronx`g tượng lại Điều đó có nghĩa
là khi xem xét bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận
động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng
+ Thứ hai, cần nhận thức, phát triển là quá trình trải qua đoạn, mỗi giai
đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kim hãm sự phát triển đó.
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại
ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật Từ đó đưa ra những kế hoạch có tín chất chất đón đầu.
+ Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo
điều kiện cho nó phát triển; chông lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến
Mỗi khi một cá nhân nào đó đưa ra quan điểm mới, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, xem quan điểm đó có khoa học hay không, khi thấy quan điểm nào đó khoa học thì phải dũng cảm ủng hộ Không được đố kỵ, rèm pha những quan điểm mới.
+ Thứ tư, trong quá trình thay thế đối tượng cũ băng đôi tượng mới phải
biết kế thừa các yểu tố tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới
+Thứ năm, xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân
chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn
Tóm lại, sự vận dụng nội dung của hai nguyên lý biện chứng duy vật nêu trên vào hoạt động nhận thức và thực tiễn can tuân theo nguyên tắc lịch sử cụ thể xuất phát đồng thời từ chúng Nói cách khác, cơ sờ lý luận của nguyên tắc này là đồng thời nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển
Nội dung nguyên lý :
Trang 24Các sự vật hiện tượng các quá trình khác nhau của thế giới không những tồn tại riêng biệt mà còn có sự liên hệ với nhau , nghĩa là tác động qua lai quy định chuyển hóa lẫn nhau
Câu 15: Cái chung và cái riêng
- Cái riêng là phạm trù triết học, dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một
quá trình nhất định.
Ví dụ: cái bàn, cái ghế, cái bảng, bạn A, bạn B là những cái riêng cụ thể Những cái riêng cụ thể này khác nhau về không gian và thời gian, tính chất…
- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ
vốn có ở một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác
Thí dụ: vân ngón tay của mỗi người, AND của mỗi người là cái đơn nhất Thí dụ khác: Trên thế giới năm 1917 duy nhất có cuộc cách mạng vô sản tháng 10 Nga.
- Cái chung: là phạm trù triết học, dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
giống nhau, được lặp lại trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng, nhiều quá trình riêng lẻ
Ví dụ: cái bàn, cái ghế, cái bảng, bạn A, bạn B Trong các sự vật riêng lẻ này chúng có điểm chung là đều tồn tại khách quan, điểm chung đó là cái chung Ví dụ khác: Bạn A, bạn B, bạn C là những cái riêng Bạn A, bạn B, bạn C đều là dân tộc kinh, đều máu đỏ, da vàng là cái chung
- Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
+ Thứ nhất, “cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng”1.
Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng chứ không tồn tại biệt lập, lơ lửng ở đâu đó bên cạnh cái riêng Trong sự vật, hiện tượng tồn tại cả hai loại thuộc tính, thuộc tính chung và thuộc tính riêng ngoài những thuộc tính quy đinh cái riêng thì có những thuộc tính quy định cái chung
Ví dụ khác: Bạn A, bạn B, bạn C là những cái riêng nhưng giữa Bạn A, bạn
B, bạn C lại có điểm chung là các bạn đều có mái tóc….) Mái tóc chỉ là một bộ phận của bạn A hoặc bạn B cụ thể.
+ Thứ hai, “cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, đưa tới cái chung”1 Tại sao vậy? Vì, bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ nào
không bao giờ tồn tại một cách biệt lập mà không đưa đến một cái chung nào đó.
Thậm chí có cái ta tưởng nó hết sức sa lạ, nhưng giữa chúng vẫn có sự ảnh hưởng nhau, và đưa đến một cái chung
Ví dụ: cái cây ở trong rừng với con người ở thành phố, chúng ta cứ tưởng rằng giữa chúng không có điểm chung, nhưng thực chất chúng có rất nhiều điểm chung, chúng đều xuất phát từ tế bào, các tế bào của chúng đều giống nhau về hình
Trang 25thức có vỏ, mang, nhân tế bào đề có sự tác động của môi trường, đều chung một hệ sinh thái, đều tồn tại chung một sinh quyển
Ví dụ của Lênin: Ivan là người, Ivan là “cái riêng”, người là “cái chung”
+ Thứ ba, Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn Cái chung Cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn Cái riêng.
Cái chung tồn tại trong cái riêng có những trường hợp cụ thể nhất định, cái chung và cái riêng không có sự mâu thuẫn Thí dụ: Con người cụ thể là cái riêng, con người ai cũng có mái tóc, mái tóc là cái chung, mái tóc và con người cụ thể không có sự mâu thuẫn.
Cái chung là cái bộ phận, nhưng sắc hơn cái riêng: Ví dụ: Bạn A, bạn B, bạn
C là những cái riêng Bạn A, bạn B, bạn C đều có lòng yêu nước là cái chung Tuy nhiên, việc tìm ra thuộc tính yêu nước trong cả 3 bạn không đơn giản Trong thực tiễn, những người có tài tổ chức là những những người có khả năng tìm ra được cái chung trong vô vàn cái riêng của mỗi con người, có tìm được cái chung mới quy tụ được nhân tâm về một mối Năm 1945 Hồ Chí Minh tìm được cái chung của toàn thể dân tộc Việt Nam là ai cũng cần cơm no, áo ấm, độc lập, tự do Vì vậy, Người mới quy tụ được nhân tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam, lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chính quyền Việc nhìn thấy mỗi con người cụ thể thì đơn giản, nhưng việc tìm thấy điểm suy nghĩ giống nhau trong hàng triệu con người thì không đơn giản giản Do vậy, phải có người có tư duy thật sâu sắc mới tìm ra được cái chung trong hàng triệu triệu cái riêng Vấn đề đoàn kết dân tộc chính là đoàn kết hàng triệu con người có chung lý trưởng, chung trí hướng thống nhất với nhau cùng xây dựng đất nước.
+ Thứ tư, Cái đơn nhất và Cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau, trong quá trình phát triển của sự vật Cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung:
có những sự vật, hiện tượng mới đầu xuất hiện là cái đơn nhất, cái cá biệt Nhưng
theo quy luật cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở thành hoàn thiện, tiến tới hoàn toàn chiến thắng cái cũ và trở thành cái chung
Ví dụ: năm 1920 trên thế giới chỉ có duy nhất 1 người Việt Nam là đảng viên Đảng Cộng sản là Hồ Chí Minh (cái đặc thù) Bởi vì, lúc bấy giờ hơn 20 triệu người Việt Nam chỉ có 1 người duy nhất là đảng viên, Đảng cộng sản Nhưng sau
100 năm đến năm 2020 Việt Nam có gần 5 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Thời điểm hiện nay, đảng viên Đảng Cộng sản không còn là cái đặc thù nữa mà là cái chung của gần 5 triệu người.
Cái chung có thể chuyển hóa thành cái đơn nhất: trong thực tiễn có những
cái cũ ngày càng mất dần đi và từ chỗ là cái chung, nó biến dần thành cái đơn nhất:
Ví dụ: cách đây 50 năm, cái cối xay là cái chung phổ biến trong mỗi gia đình của người Việt Nam, nhưng đến nay chỉ duy nhất ở viện bảo tàng dân tộc học mới có.
Trang 26Lưu ý: Cái đơn nhất không thể chuyển hóa thành cái riêng, cái chung không thể chuyển hóa thành cái riêng
- Ý nghĩa phương pháp luận
Cái chung chỉ tồn tại trong những Cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện mình, nên muốn phát hiện Cái chung của chúng, phải thông qua việc nghiên cứu nhiều Cái riêng cụ thể (Muốn khái quát thành lý luận (cái chung), phải đúc
kết từ các kinh nghiệm trong nhiều trường hợp cụ thể).
Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất, chi phối Cái riêng, nên trước khi nghiên cứu cụ thể Cái riêng nào đó, cần nắm bắt Cái chung trước, để khỏi mất phương hướng
- Cái chung chỉ tồn tại trong những Cái riêng khác nhau, dưới dạng đã bị cải biến (do có sự tác động một cách khách quan giữa“cái chung” với “cái đơn nhất” trong cái riêng đó), nên khi vận dụng Cái chung vào Cái riêng cần phải được “cá biệt hoá” cho thích hợp
Không được tuyệt đối hóa mặt nào Nếu tuyệt đối hóa Cái chung sẽ rơi vào giáo điều, rập khuôn, kinh viện, “tả khuynh” Nếu tuyệt đối hóa Cái riêng sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, và về tư tưởng là xét lại, hữu khuynh.
- Vì Cái đơn nhất và Cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau, nên trong thực tiễn, cần tạo điều kiện cho Cái đơn nhất trở thành Cái chung, nếu điều đó có lợi cho con người Và làm cho Cái chung bất lợi trở thành Cái đơn nhất.
B,Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Câu 16: Nguyên nhân và kết quả
- K/n: nguyên nhân là một phạm trù triết học sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hay giữa các sự vật với nhau, khiến gây ra những biến đổi nhất định.
+ Theo chủ nghĩa Mác để gọi là nguyên nhân thì phải có sự tương tác, để có
sự tương tác thì ít nhất phải có hai sự vật, hiên tượng tham gia tác động
+ Lưu ý 1, cần phải phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, vấn đề này chỉ xảy
ra trong lĩnh vực xã hội Nguyên cơ là sự xuyên tạc, bịa đặt mối quan hệ tương tác Nguyên cớ mang tính chủ quan, không phải tự bản thân, sự vật, hiện tượng xuất hiện; nguyên cơ là do sự bịa đặt của con người để phục vụ mục đích không đúng đắn con người sẵn sàng tạo cớ.
+ Lưu ý 2: Phân biệt nguyên nhân và điều kiện: Nguyên nhân là sự tác động
qua lại lấn nhau giữa các mặt trong một sự vật hay giữa các sự vật với nhau gây ra,
nhưng nguyên cớ chỉ có một bên tác động Điều kiện là môi trường, chất xúc tác
để cho sự tác động lẫn nhau ấy tạo ra kết quả.
- Khái niệm kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau
giữa các mặt trong một sự vật hay giữa các sự vật với nhau gây ra (thí dụ trong tự nhiên, xã hội, tư duy).
Trang 27- Các loại nguyên nhân
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu: Nguyên nhân chủ yếu là
những tương tác giữa vai trò trọng tâm, quyết định để gây ra sự biến đổi nhất định của các sự vật, hiện tượng Nguyên nhân thứ yếu là những tương tác hỗ trợ không đóng vai trò trọng tâm của sự biến đổi ấy
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; Nguyên nhân bên
trong là sự tương tác giữa các thành tố bên trong của một sự vật, hiện tượng gây
ra sự biến đổi Nguyên nhân bên ngoài là sự tương tác giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác (sự vật hiện tượng khác nhau) gây ra sự biến đổi.
Nguyên nhân bên trong bao giờ củng quyết định sự hình thành, tồn tại và phát triển của các kết cấu vật chất
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan; Nguyên nhân khách
quan là những tương tác gây ra sự biến đối không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Nguyên nhân chủ quan là sự tương tác do yếu tố chủ quan của ý thức con người gây ra sự biến đổi
+ Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản; Nguyên nhân cơ bản
là nguyen nhân đóng vai trò nền tảng, mang tính trụ cột quyết định Nguyên nhân không cơ bản là nguyên nhân không đóng vai trò quyết định
Ví dụ: Một sinh viên học giỏi thì nguyên nhân cơ bản là sự quyết tâm, lỗ lực của chính bản thân sinh viên ấy Nguyên nhân không cơ bản là có sự giúp đỡ của bạn bè, gia đình, môi trường học tập
+ Nguyên nhân tác động cùng chiều và nguyên nhân tác động ngược chiều: Nguyên nhân tác động cùng chiều là sự tương tác thuận theo khuynh hướng
vận động của các sự vật, hiện tượng Nguyên nhân tác động ngược chiều là những tương tác trái ngược với khuynh hướng vận động của các sự vật hiện tượng.
- Tính chất của mối liên hệ nhân quả
+ Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là tính vốn có của sự vật, hiện
tượng, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người trong thế vĩ mô lẫn thế giới vi mô, luôn luôn có sự tương tác, nghĩa là tự bản thân các sự vật đã có sự tương tác, sự tương tác ấy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
+ Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân nhất định gây
ra, không có sự vật hiện tượng nào mà không có nguyên nhân, chỉ có nguyên nhân
ấy đã được phát hiện hay chưa? Có sự vật, hiện tượng con người biết được nguyên nhân và có sự vật, hiện tượng con người chưa biết nguyên nhân
Từ phân tích trên có thể hiểu, nguyên nhân và kết quả diễn ra trong tất cả các
sự vật hiện tượng trong mọi không gian thì ở không gian.
+ Tính tất yếu cùng một nguyên nhân, trong những điều kiện giống nhau, sẽ
cho ra kết quả như nhau:
Trang 28Thực tiễn cho thấy rằng, một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định Điều đó chứng tỏ mối liên hệ nhân
quả trong những điều kiện nhất định có tính tất yếu Ví dụ, vật trong chân không luôn rơi với gia tốc 9,8 m/s2 Nước ở áp suất 1 atphotphet luôn luôn sôi ở 100°c, v.v Chính nhờ có tính tất yếu này của mối liên hệ nhân quả mà hoạt động thực tiễn của con người mới có thể tiến hành được.
- Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả
Nguyên nhân dược sinh ra trước, còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên
nhân xuất hiện và bắt đầu tác động Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong
thời gian của các hiện tượng cũng đều biểu hiện mối liên hệ nhân quả Ví dụ, ngày luôn luôn "đến sau" đêm, nhưng không phải là nguyên nhân của đêm.
- Nguyên nhân sinh ra kết quả như thế nào? Có các khả năng sau:
+ 1 nguyên nhân sinh ra 1 kết quả Ví dụ: 1 phôi trứng gà, ấp nở ra 1 gà con.
Một phôi chứng nếu không đảm bảo môi trường, nhiệt độ phù hợp thì không thể nở
ra con gà Rõ ràng: chứng gà phải có sự tương tác của môi trường.
+ 1 nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả Ví dụ: 1 thầy dạy, kết quả thi của s/v
khác nhau Một thầy giáo tương tác với nhiều học sinh Mỗi học sinh có cơ thể sống khác nhau, có tính cách khác nhau và khả năng nhận thức khác nhau Do vậy, kết quả học tập của học sinh khác nhau.
+ Nhiều nguyên nhân sinh ra 1 kết quả Ví dụ: việc thu hoạch trong nông
nghiệp phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân trong đó có: nước, phân, cần, giống, môi trường tự nhiên…Để có một kết quả được mùa thì trước đó phải có nhiều sự tương tác.
+ Nhiều nguyên nhân sinh ra nhiều kết qủa Ví dụ: sự hoạt động đồng bộ và
có hiệu quả của 5 thành phân kinh tế ở nước ta làm cho sản xuất phát triển, kinh tế tăng trưởng, xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được bảo đảm, chế độ chính trị được giữ vững
- Kết quả tác động trở lại với nguyên nhân
+ Nguyên nhân sản sinh ra kết quả Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ động đối với nguyên nhân, trái lại, nó lại tác động tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân
+ Kết quả tác động trở lại với nguyên nhân theo chiều hướng tích cực, hoặc tiêu cực tùy thuộc vào điều kiện và sự biến đổi của kết quả đó Trong đời sống xã hội nó còn phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của con người
- Nguyên nhân và kết quả có thể hoán đổi vị trí cho nhau: trong mối quan
hệ này nguyên nhân, nhưng ở mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại chuỗi nhân quả vô cùng, vô tận Trong thế giới vật chất, chuỗi quan hệ nhân quả là vô thuỷ vô chung.
Trang 29+ Một hiện tượng nào đó với tính cách là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt mình, lại trở thành nguyên nhân của hiện tượng khác Hiện tượng khác này lại trở thành nguyên nhân của hiện tượng thứ ba v.v và quá trình này cứ thế tiếp tục mãi không bao giò kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận Trong chuỗi đó không có khâu nào có thể trở thành khâu bắt đầu hay khâu cuối cùng
- Một số kết luận về mặt phương pháp luận
+ Vì mối liên hệ nhân quả là khách quan, phổ biến, tất yếu, và nguyên nhân
có trước kết quả, nên khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, phải tìm trong thế giới hiện thực ; và phải tìm trong những sự kiện xẩy ra trước hiện tượng đó.
+ Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó cần loại bỏ nguyên nhân nảy sinh ra
nó Ngược lại, muốn cho hiện tượng ấy xuất hiện cần tạo ra nguyên nhân cùng với những điều kiện cần thiết.
+ Vì có thể có nhiều nguyên nhân với những vai trò khác nhau đối với kết quả, nên cần biết phân biệt các loại nguyên nhân và chiều hướng tác động của chúng Quan tâm đúng mức các nguyên nhân cơ bản, chủ yếu, bên trong Trong lĩnh vực xã hội, cần đặc biệt coi trọng việc phân tích nguyên nhân chủ quan
+ Vì kết quả có tác động trở lại nguyên nhân (tích cực hoặc tiêu cực), nên cần khai thác sự tác động trở lại đó cho phù hợp.
Câu 17: Tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Tất nhiên là phạm trù chỉ mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân cơ bản bên
trong sự vật, hiện tượng quy đinh và trong điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác
+ Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân,
hoàn cảnh bên ngoài quy định nên có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác.
- Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Tất nhiên và Ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, và đều có vai trò nhất định đối với sự phát triển của sự vật
Dù con người có nhận thức được hay chưa, tất nhiên và ngẫu nhiên luôn tồn tại và phát huy vai trò của nó đối với sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Trong quá trình phát triển của sự vật, tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng:
Cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật.
Cái ngẫu nhiên có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của sự vật, có thể
làm cho sự phát triển đó diễn ra nhanh hoặc chậm.
- Tất nhiên và Ngẫu nhiên không tồn tại biệt lập dưới dạng thuần tuý, mà tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất hữu cơ đó thể hiện ở chỗ,
Trang 30cái tất nhiên bao giờ cũng vạc đường đi cho mình xuyên qua vô vàn cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện, đồng thời là cái bổ sung cho cái
ấy mỗi khi bộc lộ mình thì bao giờ cũng phải bộc lộ ra dưới một hình thức ngẫu nhiên nào đó so với chiều hướng chung chứ không có cách bộc lộ nào khác.
+ Bản thân cái tất nhiên chỉ có thể được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên Còn tất cả những gì ta thấy trong hiện thực và cho là ngẫu nhiên thì đều không phải là ngẫu nhiên thuần túy, mà là những ngẫu nhiên đã bao hàm cái tất nhiên,
đã che giấu cái tất nhiên Ăngghen viết: “cái mà người ta quả quyết là tất yếu lại
hoàn toàn do những ngấu nhiên thuần túy cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên, lại là hình thức dưới đó ẩn nấp cái tất nhiên”3
Ví dụ: tai nạn xe cộ là ngẫu nhiên nhưng trước đó đoạn đường này thường xuyên xảy ra tai nạn Nếu vậy thì đăng sau tai nạn chắc chắn phải ẩn dấu một cái tất nhiên nào đó.
+ Tất nhiên và Ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau, tùy theo việc xem xét chúng trong những điều kiện hoặc trong mối quan hệ nào Trong hiện thực, tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ mà thường xuyên thay đổi, và trong những điều kiện nhất định, chúng chuyển hóa lẫn nhau Tức là, tất nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngược lại.
+ Ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có tính tương đối Thông qua những mặt này, hay trong mối quan hệ này, thì biểu hiện là tất nhiên nhiên, nhưng qua những mặt khác, mối quan hệ khác, thì lại là ngẫu nhiên; và ngược lại.
- Một số kết luận về mặt phương pháp luận
+ Trong nhận thức cũng như trong thực tiễn, khi muốn hoạch định và thực thi một công việc nào đó, cần dựa hẳn vào cái tất nhiên (vì sao?): vì, cái tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần túy mà bao giờ cũng biểu hiện ra ngoài thông qua cái ngẫu nhiên, đồng thời phải chú ý đúng mức cái ngẫu nhiên để đề phòng những trường hợp bất trắc
+ Muốn tìm ra cái tất nhiên, phải thông qua việc nghiên cứu, so sánh nhiều cái ngẫu nhiên để tìm cho ra “cái chung” gắn với bản chất của sự vật Vì chính
“cái chung” đó là hình thức thể hiện của “cái tất nhiên” cần tìm.
+ Tóm lại, cần coi trong cả cái tất nhiên lẫn cái ngẫu nhiên, vì trong những điều kiện nhất định hoặc trong những mối quan hệ nhất định, chúng có thể chuyển hóa cho nhau.
Trang 31Câu 17: Nội dung và hình thức
- Nội dung là tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, các quá trình tạo thành sự vật.
- Hình thức là phương thức tồn tại của sự vật; là cách thức tổ chức, sắp xếp các yếu tố cấu thành sự vật (phản ánh mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố đó); là kết cấu của nội dung (bao gồm cả dáng vẻ bên ngoài của sự vật)
- Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
+ Sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Không có một hình thức nào lại không chứa đựng nội dung, cũng như không
có nội dung nào lại không biểu hiện qua hình thức
+ Sự khác biệt: sự thống nhất giữa nội dung và hình thức là sự thống nhất
trong đa dạng, có sự khác biệt, nên: không phải nội dung và hình thức bao giờ
cũng phù hợp với nhau, không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện
ra trong một hình thức nhất định và một hình thức bao giờ cũng chỉ chứa đựng một nội dung nhất định Thực ra không bao giờ có sự phù hợp hoàn toàn, "tuyệt đối" giữa nội dung và hình thức
Một nôi dung có thể, thể hiện bằng nhiều hình thức, ở mỗi một không gian khác nhau, thời gian khác nhau, mặc dù cung một nội dung nhưng có cách thể hiện khác nhau:
Ví dụ cùng là nước XHCN (nội dung), nhưng giữa Việt Nam, Trung quốc,
Cu ba có sự khác nhau về tổ chức bộ máy (hình thức)
Một hình thức, có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau: Ví dụ, một người
thợ làm đồ gốm với hình thức sản xuất thù công nhưng họ có thể tạo ra nhiều sản phẩm với nhiều nội dung khác nhau.
- Nội dung quyết định hình thức
+ Mỗi một sự vật hiện tượng luôn biến đổi không ngừng và nội dung của nó cũng thế Do vậy khi nội dung biến đổi thì hình thức cũng phải biến đổi theo cho phù hợp nội dung phù hợp với hình thức thì sẽ thúc đẩy tiến trình vận động của sự vật, hiện tượng phát triển
Ví dụ: LLSX (nội dung) với công cụ lao động là cái máy dệt bằng tay thì cho
ra đời QHSX là lãnh chúa phong kiến Nhưng đến khi LLSX với công cụ là mày hơi nước thì QHSX là lãnh chúa phong kiến bị phá vỡ mà thay vào đó 1 QHSX mới là quan hệ sản xuất TBCN.
- Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung
Tuy nội dung giữ vai trò quyết định so với hình thức nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là hình thức chỉ là cái bị động, “ ngoan ngoãn" đi theo nội dung + Sự phủ phù hợp giữa nội dung và hình thức thì hình thức sẽ mở đường và thúc đẩy sự phát triển của nội dung.
Trang 32+ Không phù hợp giữa nội dung và hình thức sẽ kìm hãm sự phát triển ấy Lúc đầu những biến đổi diễn ra trong nội dung chưa ảnh hưởng đến hệ thống mối liên hệ tương đôi bền vững của hình thức Nhưng khi những biến đổi đó tiếp tục diễn ra thì tới một lúc nào đó, hệ thống mối liên hệ tương đối bền vững ấy của hình thức bắt đầu trở nên chật hẹp và bắt đầu kìm hãm sự phát triển của nội dung Hình thức không còn phù hợp với nội dung mối nữa Sự không phù hợp ấy tiếp tục phát triển và tới một lúc nào đó thì xảy ra sự xung dột giữa nội dung và hình thức: nội dung mối phá bỏ hình thức cũ và trên cơ sơ của hình thức vừa mới hình thành,
nó tiếp tục biến đổi, phát triển và chuyển sang một trạng thái mới về chất
Thí dụ, trong các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp đối kháng, lúc đầu quan
hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, là hình thức phát triển cửa nó Nhưng
về sau, khi lực lượng sản xuất phát triển lên thì quan hệ sản xuất không còn phù hợp nữa và bắt đầu kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Nếu hình thức không phù hợp với nội dung, nó sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của nội dung Trước sau nó cũng bị nội dung mới phá vỡ hình thức cũ để thiết lập hình thức mới phù hợp
-Ý nghĩa của phương pháp luận
+ Vì nội dung và hình thức không thể tách rời nhau, nên trong nhận thức cũng như trong thực tiễn không được tách rời nội dung và hình thức
Chống lại cả hai thái cực sai lầm: hoặc tuyệt đối hoá mặt hình thức, sẽ sa vào chủ nghĩa hình thức, ngược lại tuyệt đối hoá nội dung, xem thường hình thức Cùng một nội dung phát triển khác nhau, có thể có nhiều hình thức, ngược lại cùng một hình thức, có thể thể hiện nhiều nội dung Trong hoạt động thực tiễn cần phải linh hoạt sáng tạo điều chỉnh kể cả nội dung lẫn hình thức cho phủ hợp.
+ Vì sự thống nhất giữa nội dung và hình thức là sự thống nhất biện chứng (thống nhất trong đa dạng), nên trong thực tiễn, thực hiện một nhiệm vụ nào đó (nội dung), cần sử dụng sáng tạo nhiều hình thức có thể có một cách thích hợp
Chống tư tưởng bảo thủ: khư khư làm theo kiểu (hình thức) cũ đã lỗi thời (thí dụ: yêu cầu sinh viên chủ động, tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu khám phá “chân trời mới” (nội dung), song khi kiểm tra bắt sinh viên phải thuộc lòng bằng cách ra đề đóng (hình thức).
+ Vì cùng một nội dung trong tình hình phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức; và ngược lại, cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau, nên cần sử dụng một cách sáng tạo mọi loại hình thức có thể có, mới cũng như cũ, kể cả việc cải biến những hình thức cũ vốn có, lấy cái này bổ sung, thay thế cho cái kia để phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn
+ Vì nội dung quyết định hình thức nên để xét đoán sự vật nào đấy cần cản cứ trước hết vào nội dung của nó và nếu muốn làm biến đổi sự vật thì cần tác động để
Trang 33thay đổi trước hết nội dung của nó Ngược lại, vì hình thức có tác động ngược trở lại nội dung, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nội dung, cho nên trong hoạt động thực tiễn cần luôn luôn theo dõi mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của sự vật để kịp thòi can thiệp vào tiến trình phát triển của nó, tạo cho hình thức của sự vật một sự phù hợp hay không phù hợp cần thiết với nội dung đang biển đổi của nó nhằm đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển đó, tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn.
Câu 18 Bản chất và hiện tượng
k/n- Bản chất là cái tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên,
tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật.
- Hiện tượng là cái biểu hiện ra bên ngoài của những mặt, những mối liên hệ
ấy (tức của bản chất).
Phạm trù bản chất gắn bó hết sức chặt chẽ với phạm trù cái chung Cái tạo nên bản chất của một lớp nhất định cũng đồng thời là cái chung của các sự vật Thí dụ, bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội Điều đó đúng
với tất cồ mọi con người, không trừ ai Như vậy cái bản chất ở đây cũng đồng thời chung
Thực tế, không phải cái chung nào cũng đều là bản chất Chẳng hạn, ngay
trong thí dụ trên đây thì thuộc tính "có đầu, mình và chân tay là thuộc tính chung của mọi con người, nhưng thuộc tính chung đó, như chúng ta thấy, không tạo nên
bản chất của con người Vậy bản chất không phải là bất kỳ cái chung nào Nó chỉ
là cái chung tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật
Cái bản chất cũng đồng thời là cái có tính quy luật Nói đến bản chất của sự vật tức là nói đến tổ hợp những quy luật quyết định sự vận động và phát triển của
nó Vì vậy, bản chất là phạm trù cùng bậc với phạm trù quỵ luật
Tuy bản chất và quy luật là những phạm trù cùng bậc nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Quy luật là mối liên hệ tất nhiên, phổ biến, lặp đi
lặp lại và ổn định giữa các hiện tượng hay giữa các mặt củ chúng Còn bản chất là tổng hợp tất cả các mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, nghĩa là ngoài những mối liên hệ tất nhiên, phổ biến, chung cho nhiều ' hiện tượng,
nó còn bao gồm cả những mối liên hệ tất nhiên, không phổ biến, cá biệt nữa Như
vậy, phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn phạm trù quy luật.
- Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan
+ Những người duy tâm chủ quan cho rằng, bản chất không tồn tại thực sự Theo họ, bản chất chỉ là một điều bịa đặt, một tên gọi trống rỗng Còn hiện tượng
dù được thừa nhận là có tồn tại, nhưng theo họ đó chỉ là tổng hợp các cảm giác, nghĩa là chỉ tồn tại trong chủ quan của con người
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan không phụ thuộc bào ý thức con người Tại sao vậy? Đó là vì bất kỳ
Trang 34sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định Các yếu tô ấy tham gia vào những mốì liên hệ qua lại đan xen chằng chịt với nhau, trong đó có những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định
- Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
+ Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:
Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Sự thông nhát
đó thể hiện trước hết ở chỗ bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất Không có bản chất nào tồn tại một cách thuần tuý, nghĩa là không cần có hiện tượng; ngược lại cũng không
có hiện tượng nào lại không phải là sự biểu hiện của một bản chất nào đấy
Sự thông nhất còn thể hiện ở chỗ bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ ra qua những hiện tượng tương ứng, và bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó, hoặc nhiều hoặc ít Nói cách khác, bản chất và hiện tượng về căn bản phù hợp với nhau
Bản chất bao giờ cũng tư bôc lộ mình thông qua những hiện tượng nhất định Bản chất khác nhau bộc lộ ra thành những loại hiện tượng khác nhau Khi bản chất thay đổi thi hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo Khi bản chất biến mất thì hiện tượng biểu hiện nó củng biến mất
+ Sự khác biệt, đối lập giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng tuy thống nhất với nhau, nhưng đó là sự thống nhất
biện chứng, nghĩa là trong sự thống nhất ấy đã bao hàm sự khác biệt: hiện tượng
và bản chất tuy thống nhất với nhau, về căn bản phù hợp với nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với nhau hoàn toàn.
(Bảng thể hiện sự khác biệt giữa bản chất và hiện tượng)
Phản ánh cái chung, cái tất yếu,
quyết định sự tồn tại và phát triển
của sự vật Cùng một bản chất, tuỳ
theo điều kiện, hoàn cảnh, có thể biểu
hiện qua vô số hiện tượng khác nhau,
nên bản chất sâu sắc hơn hiện tượng
Phản ánh cái riêng, cái cá biệt, không quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật Trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, hiện tượng biểu hiện ra là khác nhau (do có sự tương tác với ngoại cảnh), nên hiện tượng phong phú hơn bản chất Bản chất là cái tương đối ổn định, ít
biến đổi.
Hiện tượng là cái không ổn định, thường xuyên biến đổi
Bản chất là mặt bên trong, ẩn dấu
sâu xa của hiện thực khách quan (sự
vật) Bản chất biểu hiện ra bên ngoài
thông qua các hiện tượng khác nhau.
Hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, nhưng dưới hình thức đã cải biến (không bao giờ phù hợp hoàn toàn với bản chất), nhiều khi xuyên tạc bản chất
- Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 35Trong nhận thức, để hiểu đúng đắn, đầy đủ về sự vật, không được dừng lại ở hiện tượng, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó Trong thực tiễn, cần dựa vào bản chất, chứ không dựa vào hiện tượng.
Thứ nhất, bản chất của sự vật tồn tại khách quan ở ngay trong bản thân sự vật, nên muốn tìm bản chất của sự vật, phải xuất phát từ chính bản thân sự vật đó, chứ không thể tìm ở ngoài nó.
Thứ hai, bản chất bộc lộ ra bằng hiện tượng, nên chỉ có thể tìm bản chất của
sự vật thông qua việc nghiên cứu các hiện tượng của nó Song, hiện tượng của bản chất thì muôn hình ngàn vẻ, nên phải biết phân tích và tổng hợp các hiện tượng, nhất là nắm được hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
Thứ ba, bản chất có nhiều cấp độ, nên nhận thức bản chất của sự vật là một quá trình vô hạn : “Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể nói như vậy, đến bản chất cấp hai, v.v… cứ như thế mãi”
Thứ tư, hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng đã cải biến, nhiều khi xuyên tạc bản chất, nên quá, trình nắm bắt bản chất của sự vật là một quá trình hết sức khó khăn, lâu dài, công phu Quá trình đó đòi hỏi:
+ Phải xẹm xét rất nhiều hiện tượng khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau.
Nhưng trong một hoàn cảnh và một phạm vi thời gian nhất định không bao giò có thể xem xét hết được mọi hiện tượng biểu hiện bản chất củ sự vật Vì vậy, phải ưu tiên cho việc xem xét trước hết các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
+ Kết quả của một sự xem xét như vậy chưa thể phản ánh đầy đủ bản chất của sự vật, mà mới chỉ phản ánh một cấp độ nhất định của nó Quá trình đi vào
nắm bắt các cấp độ tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn trong bản chất của sự vật là một quá trình hết sức khó khăn, lâu dài, công phu, không có điểm dừng.
Câu 19 Khả năng và hiện thực
K/n: Khả năng là những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới, khi có các điều
kiện tương ứng.
Khả năng, là "cái hiện chưa có", nhưng bản thân khả năng có tồn tại không?
Câu trả lời là có, nhưng đó là một sự tồn tại đặc biệt: cái sự vật được nói tới trong
khả năng chưa tồn tại, song bản thân khả năng thì tồn tại ví dụ: trước mắt ta có đầy
Trang 36không gọi là khả năng Tất cả những điểu được nghĩ ra một cách tuỳ tiện theo sự tưởng tượng chủ quan và không phản ánh các quá trình hiện thực ấy đều không thể coi là khả năng
Tất cả những khả năng theo đúng nghĩa của nó đều là khả năng thực tế cả, tức đều là những khả năng tồn tại thực sự, do hiện thực sản sinh ra, hình thành và lớn lên ngay trong chính bản thân hiện thực Vì lẽ đó, nói tới khả năng tức là đã nói tới khả năng thực tế rồi.
+ Khả năng tất nhiên đến lượt mình lại có thể phân thành khả năng gần và khả
năng xa Khả năng gần là khả khả đã có đủ hoặc gần đủ những điều kiện cần thiết
thì biến thành hiện thực
* Khả năng gần, là khả năng diễn ra trong một thời gian ngắn Ví dụ: Mùa
xuân gieo mạ, cấy lúa, khả năng hơn ba tháng nữa thì thu hoạch.
* Khả năng xa là khả năng còn phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quá
độ nữa mới đủ điều kiện để biến thành hiện thực Ví dụ: phân phối theo nguyên tắc
"làm theo năng lực hưỏng theo nhu cầu" là khả năng xa.
- Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
+ Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của
sự vật.
+ Trong những điều kiện nhất định, có thể tồn tại đồng thời một số khả năng
(Thí dụ: một học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, có các khả năng : thi vào một trường đại học, một trường chuyên nghiệp, dạy nghề ; đi nghĩa vụ quân sự (nếu là nam sinh) ; ở nhà tham gia sản xuất trong gia đình, v.v… Khả năng nào trong những khả năng trên sẽ biến thành hiện thực, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của học sinh đó
+ Nếu xuất hiện điều kiện mới, ở sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới, và những khả năng vốn có cũng sẽ thay đổi Khi có thêm những điều kiện mới
bổ sung thì ở sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới
+ Để một khả năng nào đó biến thành hiện thực thường cần có không chỉ một
điều kiện, mà là một tập hợp điều kiện Tập hợp đó được gọi là cần và đủ, nếu có
nó thì khả năng nhất định sẽ biến thành hiện thực, sự bỉến nhất định phải xuất hiện.
Ví dụ: Bạn muốn trở thành một nhà doanh nghiêp giàu có bạn phải cẩn những điều kiện sau: swacs khỏe, trình độ - kinh nghiệm kinh doanh, tiền vốn, thời cơ…
+ Điều kiện để khả năng biến thành hiện thực trong xã hội : Bên cạnh điều kiện khách quan, nhất thiết phải có nhân tố chủ quan là thực tiễn của con người.
Hoạt động có ý thức của con người có vai trò hết sức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực Nó có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình biến đổi đó, có
Trang 37thể điều khiển cho khả năng phát triển theo hướng này hay hướng khác bằng cách tạo ra các điều kiện thích ứng
+Khả năng có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên và sự tác động của con người Thí dụ, bằng cách thay đổi điều kiện sống, gây đột biến gien,
con người có khả năng tạo ra các giống mới thành hiện thực.
Loại khả năng mà trong điều kiện hiện nay nếu không có sự tham gia của con người thì không thể biến thành hiện thực Thí dụ, đó là việc chế tạo
các pôlime tổng hợp, các con tàu vũ trụ v.v
-Một số kết luận về mặt phương pháp luận
+ Trong thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, chứ không được dựa vào khả năng (nếu không muốn rơi vào ảo tưởng) để định ra chủ trương, phương hướng hành động của mình Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là có thể bỏ qua, coi thường khả năng Vì khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai nên phải tính đến các khả năng khi đề ra các chủ trường, kế hoạch hành động cho sát đúng
+ Trong lĩnh vực xã hội để cho khả năng trở thành hiện thực cần đặc biệt chú
ý phát huy nguồn lực con người (nhân tố chủ quan) Không thấy nhân tố chủ quan (tức hoạt động của con người), sẽ phạm sai lầm hữu khuynh Nếu thổi phồng nhân
tố chủ quan, bất chấp điều kiện khách quan, sẽ mắc sai lầm “tả khuynh.
+ Khả năng do sự vật gây nên và tồn tại trong sự vật nên chỉ có thể tìm ra các khả năng phát triển của sự vật ỏ ngay trong chính bản thân nó chứ không thể ở nơi nào khác.
+ Khả năng nảy sinh vừa do sự tác động qua lại giữa các mặt khác nhau ỏ bên trong sự vật, vừa do sự tác động qua lại của sự vật với hoàn cảnh bên ngoài, cho nên trong nhận thức ta chỉ có thể căn cứ vào "tương quan lực lượng" giữa các mặt ở bên trong sự vật, vào sự phát triên của mâu thuẫn nội tại trong nó cũng như vào những điêu kiện bên ngoài trong đó sự vật đang vận động và phát triển để dự kiến những khả năng phát triển của nó.
Câu 20 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những
sự thay đổi về chất và ngược lại
- Vị trí của quy luật: quy luật này vạch ra cách thức chung nhất của sự vận
động, phát triển Mọi sự vật vật, hiện tượng luôn vận động và biến đổi không
ngừng, những biến đổi ấy có sự tích lũy về lượng đến một mức độ nhất định thì phá vỡ kết cấu của chất cũ chuyển sang chất mới Chất mới ra đời không đứng im
mà tự bản thân nó lại quy định một lượng mới, lượng mới ấy lại phát triển… cứ như vậy, chất mới tiếp theo lại ra đời làm cho sự vật biến đổi không ngừng.
- Khái niệm
Trang 38Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
các sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.
Cách hiểu về chất:
* Chất của sự vật bộc lộ thông qua những thuộc tính của nó:
Thuộc tính là những cái vốn có của sự vật, là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật nó chỉ bộc lộ ra bên ngoài qua sự tác động qua lại của sự vật mang thuộc tính đó với các sự vật khác
Mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật cũng có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến cho mỗi thuộc tính lại trỏ thành một chất Điều đó cũng có nghĩa là mỗi sự vật có vô vàn chất
Chất của sự vật bộc lộ thông qua những thuộc tính của nó nhưng không phải thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật Thuộc tính, có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản, những thuộc tính cơ bản tổng hợp tạo thành chất của sự vật.
* Chất của sự vật còn được bộc lộ thông qua mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác Có những sự vật trong mối liên hệ này là thuộc tính cơ bản, nhưng trong
mối liên hệ khác sẽ có thêm những thuộc tính khác.
* Chất của sự vật không chỉ quy định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà còn tạo bởi phương thức liên kết.
Tóm lại, cách hiểu về chất: “chất là cái làm cho sự vật hiện tượng là nó” Vậy, cái gì làm cho sự vật là nó không phải là cái khác thì đó là chất của sự vật.
k/n: Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan, vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và
phát triển của sự vật, cũng như của các thuộc tính của sự vật.
Cách hiểu về lượng
* Lượng là thuộc tính vốn có của các sự vật, hiện tượng Lượng cũng mang tính khách quan, con người không thể sáng tạo ra hay huỷ bỏ được lượng của sự vật
Những đặc trưng về lượng (đặc biệt là đại lượng) cũng được biểu hiện trong những mối quan hệ nhất định
Tóm lại, cách hiểu về lượng như sau: nếu như chất là cái làm cho nó là nó,
thì lượng là cái chưa làm cho nó là nó Vậy, sự vật hiện tượng nào chưa làm cho
nó là nó là lượng của sự vật, lượng bao hàm tính đồng nhất, tính giống nhau của các sự vật, hiện tượng.
Từ những phân tích trên cho thấy: Việc phân biệt giữa chất và lượng chỉ
mang tính tương đối, tùy từng mối quan hệ để phân biệt chất và lượng Có sự vật, hiện tượng ở mối quan hệ này là lượng, nhưng ở mối quan hệ khác lại là chất và ngược lại
Trang 39- Quan hệ biện chứng giữa lượng và chất
+ Lượng đổi đẫn đến chất đổi
Bất kì sự vật nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt lượng và chất Chúng gắn bó hữu cơ với nhau, quy định lẫn nhau, trong đó lượng là cái thường xuyên biến đổi, chất là cái tương đối ổn định, lượng biến đổi đến một mức độ nhất định sự vật chuyển hóa, chất mới ra đời thay thế chất cũ,
* Sự chuyển hoá cũng có thể diễn ra sau một quá trình tích luỹ những thay đổi
về lượng trong một khoảng giới hạn nhất định, mới dẫn tới sự thay đổi về chất.
Thí dụ : Trạng thái (“chất”) của nước tương ứng với nhiệt độ 00C (“lượng”) của
nó Trong khoảng 00C đến 1000C thì nước vẫn ở trạng thái lỏng (“chất cũ”) Khoảng giới hạn này được gọi là độ
- Độ là một phạm trù triết học, dùng để chỉ khoảng giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
Phạm trù Độ cũng nói lên sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật Trong thí dụ trên, khoảng từ 00C đến 1000C là đo tồn tại của nước ở trạng thái lỏng (Lưu
ý : phạm trù độ trong triết học khác với khái niệm độ trong đời sống hằng ngày) Tại điểm giới hạn (trong thí dụ trên là 00C và 1000C) Độ tiếp tục biến đổi tới một giới hạn nhất định để làm thay đổi về chất, sự thay đổi tại điểm tới hạn gọi là Điểm nút (nước ở 1000C đây là điểm giới hạn, nó là điểm tiếp giáp giữa thể lỏng và thể hơi, điểm tiếp giáp này gọi là “điểm nút”)
- Điểm nút là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay đổi về chất của sự vật.
Nước ở trên 1000C nước bắt đầu chuyển hóa sang thể hơi, từ thể lỏng chuyển sang thể hơi gọi là “bước nhảy” Sự vật phát triển thông qua những độ khác nhau,
do đó tạo thành một đường nút của những quan hệ về độ trong quá trình phát triển Tại điểm nút, sự thay đổi vế chất của sự vật được gọi là bước nhảy.
- Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của
sự vật Sự chuyển hoá được thực hiện là do sự thay đổi về lượng trước đó của sự vật gây ra.
* Các hình thức của bước nhẩy
Bước nhầy đột biến là bước nhảy thực hiện trong thời gian rất ngắn làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu sự vật.
Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ từng bước băng cách tích lũy dân dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi.
Thí dụ: Từ chất của một sinh viên sang chất của một cử nhân phải có quá trình tích lũy kiến thức nâu dài suốt 4 năm.
Căn cứ vào các hình thức của bước nhẩy có bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ.