1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI CỦA THEN TÀY

16 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 390,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là khi Then đã được nâng cao, cải biên gắn với thời kỳ xuất hiện hai dòng hát Then nữ và Dàng nam cây đàn có 3 dây 4 Cây đàn tính ra ngoài dân gian trở thành công cụ hành nghề của nhữ

Trang 1

VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI CỦA THEN TÀY

TS Nguyễn Thị Yên Viện Nghiên cứu Văn hoá

Dựa trên các cứ liệu dân gian ở địa phương, các tác giả sưu tầm nghiên cứu Then người Cao Bằng như Hoa Cương, Dương Sách, Triều Ân1 đều có nhận xét cho rằng Then chính thức được ra đời ở thời kỳ nhà Mạc lên cát cứ Cao Bằng nhưng trước đó đã được tồn tại trong dân gian Đây là những ý kiến đã gợi ý cho tôi đặt ra những giả thiết cho việc tìm hiểu nguồn gốc của Then ở Cao Bằng Cho đến nay trong dân gian Cao Bằng vẫn còn lưu truyền lại một số truyền thuyết liên quan đến sự tích cây đàn tính và nghề hát Then Điều đó phần nào đã nói lên đặc điểm về sự hình thành và biến đổi của Then ở Cao Bằng, xin sơ lược giới thiệu như sau:

Truyền thuyết kể rằng, có một chàng trai tên là Xiên Câm, vì nghèo 30 tuổi chưa lấy được vợ nên mới nghĩ cách làm ra chiếc đàn tính để giải sầu Lúc đầu đàn có 12 dây

âm thanh quá hay khiến muôn vật mê mẩn mà chết, Bụt bèn bắt Xiên Câm cắt bớt 9 dây nên từ đó cây đàn tính chỉ có 3 dây2

Người Thái Trắng Tây Bắc cũng có truyền thuyết tương tự kể rằng cây đàn tính là

do một chàng trai làm ra với mục đích giải sầu Câu chuyện này gần gũi với cuộc sống hơn vì nó gắn liền với một câu chuyện tình cảm trai gái, đồng thời còn giải thích việc chàng trai nghĩ ra cách làm cho đàn kêu được là do bắt chước âm thanh của sợi dây vắt qua miệng hang Câu chuyện của người Tày thần bí hơn: chàng trai phải lên trời xin giống tằm và bầu về trồng để làm nguyên vật liệu làm đàn Ở cả người Tày và người Thái, cây đàn tính vẫn thường được sử dụng làm nhạc cụ sinh hoạt văn nghệ giải trí và là công cụ hành nghề của các bà Then Trước đây, cây đàn tính còn là công cụ đắc lực giúp các chàng trai Thái tìm bạn tình

Về hình thức, cây đàn tính của người Thái mang nét thô mộc không chạm trổ cầu

kỳ hoặc có những trang trí mang màu sắc tôn giáo như đàn tính ở một số địa phương

1

Xem Văn hoá dân gian Cao Bằng, Kỷ yếu hội thảo, Hội Văn nghệ Cao Bằng, 1993, tr.176, 192 và Then Tày những khúc hát, Triều Ân chủ biên, Nxb Văn hoá dân tộc, 2000, tr.11

2

Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, Nhiều tác giả, Nxb Văn hoá dân tộc, 1978, tr.347

Trang 2

người Tày Điểm khác nhau cơ bản về hình thức là đầu đàn tính của người Thái được gọt chuốt cong như hình mỏ gà, theo giải thích có liên quan đến tục người Thái Trắng tôn thờ

gà Có thể đoán định rằng cây đàn tính đã có mặt trong đời sống cư dân Tày-Thái từ lâu đời khi hai nhóm dân tộc này chưa phân tách Đến một thời điểm nào đó, một nhóm tách

ra, vì ở vị trí xa xôi ít có sự giao lưu với các dòng văn hoá khác mà đàn tính của người Thái Trắng còn giữ được những nét bản địa hơn

Truyền thuyết về cây đàn tính gắn với nghề làm Pụt: Chuyện kể rằng sự ra đời cây đàn tính và nghề làm Pụt được trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu do phụ nữ làm nghề

và giai đoạn sau do ông Bế Văn Phụng ở Hoà An sống vào thời nhà Mạc cải tạo lại thành cây đàn tính 3 dây gắn liền với việc cúng bái Truyền thuyết này lý giải rằng, mỗi lần đi làm lễ bà Pụt bảo nhà chủ làm ba bát hương: một bát cúng Pụt Luông hoặc Mẹ Hoa, một bát cúng gia tiên, một bát cúng Thổ công hay Thành hoàng Bên cạnh đó còn có một bát cắm hình nhân và quả trứng để thờ cúng và ghi nhớ đức Quản nhạc Bế Văn Phụng, người

đã có công cải tạo cây đàn tính3

Dựa vào các truyền thuyết nói trên và căn cứ vào các sự kiện lịch sử ở Cao Bằng,

có thể phân tích sự hình thành và biến đổi của cây đàn tính và nghề hát Then như sau:

1) Cây đàn tính ra đời do nhu cầu giải trí: Cây đàn tính ra đời đầu tiên bởi bàn tay sáng tạo của người đàn ông, mục đích giải sầu Cách lý giải của câu chuyện hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên: Cây đàn ra đời trước tiên là do nhu cầu văn nghệ giải trí,

đó là nhu cầu có trước nhu cầu làm công cụ hành nghề tín ngưỡng

2) Cây đàn tính được những người đàn bà có căn làm thầy cúng sử dụng làm công

cụ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng: Cây đàn tính là do Pụt Luông truyền cho một cô gái trần gian có căn số làm Pụt để cứu nhân độ thế Đây là khi cây đàn tính đã tham gia và việc hành nghề tín ngưỡng của các bà Pụt (cây đàn có 6 dây)

3) Cây đàn tính được một nhân vật có tên tuổi, quê quán cụ thể là Bế Văn Phụng ở Hoà An, Cao Bằng cải tạo thành nhạc vụ phục vụ nghi lễ cung đình (thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng thế kỷ 16, 17) Đó là khi Then đã được nâng cao, cải biên gắn với thời kỳ xuất hiện hai dòng hát Then (nữ) và Dàng (nam) (cây đàn có 3 dây)

4) Cây đàn tính ra ngoài dân gian trở thành công cụ hành nghề của những người làm nghề thầy cúng ở mức độ cao hơn: có cúng tổ nghề và cúng người có công cải tạo đàn là Bế Văn Phụng

3

Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc, Hoàng Quyết, Tuấn Dũng, Nxb Văn hoá dân tộc, 1994,

tr.97

Trang 3

Dưới đây, dựa trên những cứ liệu về lịch sử văn hoá xã hội, tộc người và tôn giáo tín ngưỡng của người Tày, kết hợp với những phân tích dân tộc học, văn hoá dân gian học bước đầu xin đưa ra những kiến giải để góp phần tìm hiểu sự hình thành va biến đổi của Then ở Cao Bằng

1 TÍN NGƯỠNG SLIÊN (TIÊN) VỚI TƯ CÁCH LÀ YẾU TỐ TIỀN THEN

Trong tín ngưỡng dân gian người Tày, các trò chơi mang yếu tố Shaman giáo được tồn tại dưới các hình thức nhập đồng của trẻ em và của các nam nữ thanh niên với mục đích bói vui, bói duyên số Những siêu linh mà họ nhập đồng thường là các nàng tiên-linh hồn của các vật vô tri vô giác như: nàng Trứng, nàng Cám, nàng Sọt, nàng Trăng Trong số những người tham gia các trò chơi nhập đồng sẽ có những người hợp căn với một nàng tiên nào đó, được nàng tiên hộ mệnh để cứu giúp người đời, trước tiên

là ở việc bói đoán, sau do nhu cầu của xã hội mà phát triển thành hình thức cầu cúng Hình thức này phổ biến trong xã hội người Tày - Thái (bao gồm cả tộc người Choang) mang đậm yếu tố Việt Vu bản địa được phổ biến với các hình thức bói gạo, bói trứng, bói xương gà mà ngày nay vẫn còn tồn tại trong tín ngưỡng Pụt, Then Đây là một hình thức cúng bái dân gian thời kỳ đầu của người Tày mà tôi tạm gọi là tín ngưỡng Sliên (Tiên) - khởi đầu của tín ngưỡng Then Cần hiểu rằng tiên trong quan niệm người Tày là chỉ các siêu linh được hình dung là các thiếu nữ thanh tân trong trắng, khác với quan niệm tu tiên của Đạo giáo Chữ Sliên tiên có lẽ là sự vay mượn chữ Hán về sau này để chỉ một hình thức cúng bải bản địa liên quan đến việc nhập đồng của nữ giới Một trong những đặc điểm của hình thức cúng bái này là ngoài hoài niệm, hát ra còn có sự tham gia của một khí cụ hoặc nhạc cụ nào đó Để bổ trợ cho việc hành nghề, họ đã lựa chọn nhiều dạng khí

cụ khác nhau có thể là phách, thẻn gỗ (hai mảnh gỗ dùng để xin âm dương), chuông, chùm nhạc xóc và cả cây đàn tính vốn có sẵn trong dân gian Dự đoán đây là Then của thời kỳ đầu, nó đạm màu sắc bản địa mà chưa bị pha tạp bởi các tôn giáo tín ngưỡng bên ngoài Dưới đây xin dẫn một số trường hợp Sliên - Then dự đoán còn lưu lại dấu vết của Sliên - Then thời kỳ đầu:

Thứ nhất, qua khảo sát ở vùng người Pián (một nhóm Choang khá gần gũi với người Tày Việt Nam) cư trú ở huyện Phòng Thành, Quảng Tây, Trung Quốc cho thấy ở đây hiện tồn tại hai dạng thầy cúng có các dụng cụ hành nghề như nhau: đàn tính, thẻn, nhạc xóc, quạt nhưng tên gọi lại khác nhau: Sliên và Then Sliên là tên gọi những người phụ nữ nhẹ vía được một nàng tiên nào đó nhập vào mình để hành nghề nên họ không cần theo thầy học nghề, không cần phải làm lễ cấp sắc mà vẫn hành nghề được Còn Then là những người phải học nghề và phải thông qua cấp sắc mới được hành nghề Có nghĩa là ở đây tồn tại hai dạng thầy Then: Dạng không qua cấp sắc và dạng phải làm lễ

Trang 4

cấp sắc Mặc dù cả Sliên ở dây cũng có đàn tính nhưng chủ yếu chỉ dùng trong các hội Then, bình thường đi hành nghề không nhất thiết phải mang đàn, họ quan niệm khá đơn giản về việc sử dụng đàn: nếu dùng đàn hành lễ thì đỡ buồn ngủ hơn Sliên khác Then ở chỗ Sliên thường ngắn gọn hơn, tự nhiên hơn còn Then bài bản và nhiều thủ tục hơn Sự tồn tại một dạng thầy Sliên-Then (thực chất là một hình thức Pụt nhạc) có đàn tính không cần cấp sắc vẫn hành dân gian cổ xưa khi mà các bà Then với tư cách là các nàng tiên từng hoạt động độc lập mà không chịu sự chi phối của một giáo lý nào khác như giáo lý của thầy Tào Theo dân gian ở đây truyền lại thì Than của người Pián Phòng Thành là do

bà Then Hang người Tày ở Đông Triều, Quảng Ninh truyền sang hơn 200 năm nay Qua xem xét thấy Then ở đây mang nhiều yếu tố bản địa hơn từ bàn thờ, thần linh (thờ tiên) đến nội dung và hình thức diễn xướng Điều này chỉ có thể giải thích rằng trước khi Then của người Tày truyền đến thì ở đây đã có sẵn các bà Sliên hành nghề mang đậm dấu

ấn bản địa Mặc khác khi Then truyền đến vùng này thì nó vãn còn giữ được những nét

cổ sơ hơn trong khi Then ở tại điểm ban đầu đã có sự tiếp thu các yếu tố mới mà biến cải

đi

Trường hợp các bà Sliên ở khu vực huyện Hạ Lang, Cao Bằng và huyện Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc cũng là một dẫn chứng cho sự tồn tại một hình thức cúng bái theo tín ngưỡng Sliên cổ xưa Hiện ở đây còn khá nhiều các bà Sliên hành nghề dưới căn các nàng tiên như nàng Sáy (nàng Trứng), hoặc nàng Hương (hương đốt), nàng Rằm (nàng Cám) Khi hành lễ họ nhập hồn các nàng tiên này và dùng những vật dụng liên quan để làm dụng cụ hành lễ như trứng, cám, hương Bà Mã Thị V 56 tuổi ở bản Kiểng,

xã Quang Long, huyện Hạ Lang là người có căn nàng Sáy cho biết chỉ khi nào vào lễ thắp hương nhập hồn nàng Sáy thì mới hành nghề được Cách hành lễ của bà này khá đặc biệt, ngoài xóc nhạc đi đường ra, một quả trứng luôn được bà cầm trên tay để bà hỏi ý kiến nàng Sáy: nếu nàng đồng ý thì quả trứng sẽ từ từ đứng dựng thẳng đứng lên trong lòng bàn tay bà, ngược lại nếu không đồng ý thì dù bà có khấn thế nào trứng cũng không dựng lên được Điều đặc biệt là các bà Sliên ở đây đều có làm lễ cấp sắc dưới sự bảo trợ của các thầy Then, mặc áo mũ của Then để hành nghề mặc dù cách hành nghề không hoàn toàn giống Then, tương tự như các bà Sliên Phòng Thành có đàn tính nhưng không dùng để hành nghề

Qua hai trường hợp có sự giao thoa nghề nghiệp giữa Sliên-Then ở Phòng Thành

và vùng biên giới Hạ Lang - Long Châu cho thấy hai hình thức cúng bái này có quan hệ khá gần gũi nếu không nói là có cùng nguồn gốc Có thể đoán định rằng ban đầu các bà Then hành nghề theo tín ngưỡng Sliên tự phát, cây đàn tính chỉ là một nhạc cụ bổ trợ cho các hoạt động lễ hội có đông người tham gia Chẳng hạn như các lễ cúng tổ nghề đầu

Trang 5

năm của người Pián, lễ Kin pang Then của người Thái Trắng có liên quan đến việc trình diễn múa hát tập thể Hoặc cũng có thể hiểu: Sliên là tự phát, còn Then gắn với cây đàn tính là phải qua sư phụ truyền nghềm tức là phải qua lễ cấp sắc

Mặt khác, qua sơ bộ khảo sát cho thấy Then của người Thái Trắng ở huyện Phong thờ (đã trình bày ở trên); đối tượng thờ cúng là những vị thần bản địa tạo ra con người như Tạo Soông (thần nặn hình hài con người) và Me Bẩu (người tạo hồn vía cho con người); nghi lễ chủ yếu là chữa bệnh bằng cách tìm hồn vía Đặc biệt Then Thái Trắng không làm

lễ cấp sắc mà chỉ có lễ Thành Then do bản thân bà Then tự làm lấy dưới sự chứng kiến của

Tạo bản Các bà Then Thái Trắng cũng có những đặc điểm tương tự với các bà Sliên người Pián và Tày như: vào nghề khi có biểu hiện thần kinh bất thường, cử chỉ khác lạ và tự phát biết đàn hát Điểm giống nhau cơ bản giữa các bà Sliên và Then ở người Pián cũng như người Tày, người Thái Trắng là trước khi hành lễ hoặc trong thời gian hành lễ họ thường ngáp hoặc ợ hơi là những dấu hiệu thay đổi cơ thể để nhập đồng mà ở các thầy Then nam giới không có Có thể nói Then của người Thái Trắng là một minh chứng cho Then nói chung của cư dân Tày - Thái thời kỳ đầu khi chưa bị chi phối của các tín ngưỡng du nhập

Ngoài ra, về giới tính của đối tượng hành nghề, các ý kiến trong dân gian đều cho rằng nghề này ban đầu là của nữ giới, đàn ông có làm Then thì vẫn phải tuân thủ gốc nghề, mặc bộ trang phục hành nghề như nữ giới Một số nơi như Bắc Kạn có quan niệm khi thầy Then cả là nam giới đứng ra phụ giúp thầy Tào cấp sắc cho đệ tử thì ông này sẽ

là “mẻ slay” (thầy mẹ) còn Tào là “pỏ slay” (thầy cha) của đệ tử! Chiếc mũ Then có nhiều giải dài quá lưng được các thầy Then nam giải thích là tượng trưng cho tóc của nữ giới Cùng với truyền thuyết về Pụt Luông đầu tiên truyền nghề cho một cô gái, đây cũng

là một điều chứng tỏ Then lúc đầu là do các bà phụ nữ nhẹ vía nhập hồn các siêu linh mang tính nữ, “nàng” vốn là điểm khởi đầu của Sliên

Tương tự, trong tín ngưỡng dân gian của người Kinh cũng có một số hiện tượng tiền lên đồng do các thầy Phù thuỷ thực hiện như phụ trượng là cách niệm chú yểm phép vào cây trượng, cho người cầm đi khua khắp nhà để trừ ma; phụ thần Bạch Xà thì phù phép vào con rắn bằng rơm để rắn bò khắp nhà để trừ ma; phụ đồng chổi là cách đọc chú

để cây chổi tự cử động được; phụ cành phan để mời hương hồn người chết về nói chuyện4 Một số hình thức hiện khá phổ biến khác là gọi hồn để âm hồn nhập vào người trần, mượn miệng người trần để nói lên ý muốn của âm hồn

2 MỐI LIÊN QUAN GIỮA SLIÊN, PỤT VÀ THEN

4

Xem Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Toan Ánh, quyển thượng, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1992, tr.22

Trang 6

Ngoài Then và Sliên ra, trong tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng còn có Pụt nhạc, một hình thức cúng bái có cùng bản chất Shaman với Sliên và Then Khi so sánh Pụt và Then, điều dễ nhận thấy là Pụt mang nhiều yếu tố bản địa hơn Then: Pụt không có lời Kinh, ít từ Hán Việt, không có những nghi thức cung đình như Then Vì vậy rất có thể Pụt là một trong những hướng phát triển của Sliên Chẳng hạn, dòng Pụt

Ngạn ở huyện Hoà An, Cao Bằng là thuộc dòng Sliên tồng-tiên đồng (tiên trẻ con) Vì

vậy trong nghi thức nhập đồng của các bà Pụt ở đây thường có các động tác nghịch ngợm giống trẻ con như chạy nhảy, đánh khăng, giật đồ nghề của thầy Tào

Khi Sliên được chuyển thành Pụt tức là khi tín ngưỡng này bị chi phối bởi giáo lý

và nghi thức của thầy Tào Sự tham gia của Phật giáo vào trong Pụt là xuất phát từ việc ngành cúng này chịu ảnh hưởng của phái Tào tôn Đường Tăng, một đệ tử của Phật giáo -

nhân vật chính trong tác phẩm văn học cổ Trung Quốc Tây du ký làm tổ sư Vì vậy, Pụt là

hình thức cúng bái có liên quan đến tín ngưỡng thời Phật Bà Quan Âm khá phổ hiến của người Choang nói chung trong đó có người Nùng Các bà Mật (tức Pụt) ở Tịnh Tây khi thắp hương bàn thờ thường niệm Quan Âm Bồ Tát và coi đây là vị Quản lầu của họ (vị thần chủ của điện thờ) Theo sử sách Trung Quốc thì từ thế kỷ thứ II Phật giáo đã được truyền vào Quảng Tây sau đó phát triển dần đến các vùng sâu vùng xa của Quảng Tây Phật giáo lúc đầu là của người Hán, các dân tộc khác ở Quảng Tây tiếp thu Phật giáo qua người Hán5 Như vậy rất có thể một trong những con đường mà Phật giáo thâm nhập vào tín ngưỡng của người Tày, Nùng lúc đầu là từ người Hán vào người Choang, sau đó vào người Tày, Nùng ở Việt Nam theo các hướng: sự truyền nghề thầy cúng ở ven biên giới hoặc do các cuộc di cư của các nhóm người Nùng thuộc Choang vào Việt Nam Một trong những quy định của nghề Then, Pụt là tuân thủ việc thờ tổ sư Vì gốc gác của Pụt là

từ Choang nên trong các lễ cấp sắc hoặc nâng sắc của Pụt đều có mục về nước Hác, nước Nồng để xin chức danh, đường đi của Pụt phải qua các địa danh của Trung Quốc như Quảng Nam, Nam Ninh, Quý Châu Xin trích một đoạn dịch như sau:

Thâng kha ló Quảng Nam lồng puóc Thâng háng cai đin Hác đin Nồng Pang chao căn khai mảo

Pang căn khai phải hoa

Lỏ Nam Ninh cái quảng

5

Xem Đời sống, vai trò và bản chất của thầy Tào người Nùng An qua trường hợp bản Phia Chang, Chu

Xuân Giao, Luận văn Thạc sĩ, Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian, 2000, tr.24

Trang 7

Liểp lỏ mì hoa liên Sường niên cần pây tẻo Rầu tẻo pây khái au kinh Rầu tẻo pây au mình thâng Hác (Lọt đến đất Quảng Nam Đến đất Hác, đất Nồng) Mình cùng giúp nhau bán mũ Giúp nhau bán vải hoa

Đường Nam Ninh đường rộng Ven lộ có hoa sen

Thường xuyên người qua lại Mình lại đi lên khái lấy kinh Mình lại đi lấy danh đất Hác6

Có lẽ vì lý do này mà tại nhà các ông bà Pụt đều có thờ Ham Hác, khi làm các lễ lớn như cấp sắc có nhập đồng nhân vật này nói tiếng quan hoả Có thể giải thích như sau: trong quan niệm của những người làm Pụt thì hình thức cúng bái này là từ nước Hác (Trung Quốc) truyền vào, vì không biết rõ tổ nghề là ai nên họ chỉ lấy một cái tên gọi chung là Ham Hác (ông tổ nghề nước Hác) Có lẽ vì tuân thủ phép thờ tổ nghề nên mặc

dù đã vào sâu trong nội địa, được Tày hoá nhưng thông qua văn bản lời hát Pụt người nghe vẫn có thể nhạn thấy những dấu vết chứng tỏ nguồn gốc từ Choang-Nùng của nó

Trong cuốn Pụt Tày do nhà nhiên cứu đã quá cố Lục Văn Pảo sưu tầm tư nguyên bản chữ

Nôm Tày ở Bắc Kạn cũng có một đoạn nói đến việc Pụt phải lên cửa ông Ham Hác Theo tác giả giải thích thì “Ham” là từ chỉ tổ sư của các gia đình có truyền thống làm nghề thầy cúng, “Hác” là từ địa phương chỉ người phía bên kia biên giới - nước Hác tức Trung Quốc Tác giả cũng chú thích rằng đoạn Pụt này sưu tầm của cha con ông Pụt Hoàng Đạo Ninh - Hoàng Quang Ngọc - dòng Pụt nhà ông thờ ông tổ nghề người nước Hác nên gọi

là Ham Hác7 Một trong những điểm khác nhau trong văn bản của Pụt so với Then là ở bất kỷ bản Pụt nào của người Nùng hoặc người Tày đều có nhắc đến cửa Ham Hác

6

Trích dịch trong Lễ cấp sắc Pụt Nùng, Nguyễn Thiên Tứ sưu tầm, Nguyễn Thị Yên biên tập, giới thiệu,

Giải ba B Hội VNDG Việt Nam năm 2004, bản thảo

7

Xem Pụt Tày, Lục Văn Pảo, Nxb Khoa học xã hội, 1992, tr.100

Trang 8

Như vậy, có thể đoán định rằng vì khá gần gũi với tín ngưỡng Sliên nên khi vào Việt Nam Pụt đã được các bà Sliên tức Then Tày thời kỳ đầu tiếp nhận mà hình thành nên Pụt tính bên cạnh Pụt xóc nhạc Qua so sánh lễ cấp sắc của Pụt Ngạn Cao Bằng với lẩu Then của người Tày ở Lạng Sơn cho thấy các cửa đi trong hành trình lên tiên giới của các bà Pụt và của các bà Then Lạng Sơn ở hai nghi lễ này là tương tự nhau (có 7/11 cửa như nhau), nếu có khác là ở trật tự sắp xếp các cửa đi, cụ thể như sau:

BẰNG

THEN Ở VĂN QUAN, LẠNG SƠN

3 Ham Hác (tổ sư nghề Pụt, Tào) Táo quân (bếp)

12 Pỏ Luồng (Bố Lớn-cửa vua)

(Ghi chú: Các chữ nghiêng đậm dùng để đánh dấu các cửa đi giống nhau) Điều này cho thấy có sự giao lưu, ảnh hưởng của Pụt vào trong Then mà ít nhiều

có thể giải thích cho thắc mắc của một số người về sự giống nhau về đường đi giữa Pụt

và Then

Ngoài ra trong chữ Nôm Tày cũng có sự thể hiện quan niệm Then, Sliên, Pụt là

một Ví dụ hai câu mở đầu của Khảm hải trong cuốn Then Tày những khúc hát là:

Mừa thâng bến hải há nặm kim

Trang 9

Tiên ( ) thâng rìm nặm pế 8

Nhưng cũng nội dung này nhưng ở một dị bản khác lại ghi:

Chúa ( ) thâng phắng nặm kim Then ( ) thâng rìm nặm pế 9

Như vậy có nghĩa là theo quan niệm ở đây thì “chúa” cũng là “Then” và cũng là Sliên (tiên) và như vậy thì cũng là Pụt

Ngoài ra, trong lẩu Then Lạng Sơn còn có hiện tượng nhập đồng hai nhân vật nói tiếng Trung Quốc là tướng Hác và bà Pháp Hác là những nhân vật thuộc cửa tướng nghề của Then Bà Pháp Hác ở đây là đại diện cho những bà Pụt (bà pháp) của nước Hác Sự xuất hiện tướng Hác và bà Pháp Hác nói tiếng Hán trong hệ thống thần linh với sự đan xen các vị tướng nghề nói tiếng Kinh trong lễ nhập đồng của Then Cao Bằng là phản ánh

có một sự khu biệt về nguồn gốc trong Then và Pụt – Then liên quan với người Kinh, Pụt liên quan với người nước Hác Nói cách khác, như đã trình bày về nguyên tắc nối dòng của nghề Then, Pụt thì sự xuất hiện các tướng Hác trong Then là một minh chứng cho việc kế thừa nghề làm Pụt ở trong Then Gắn kết với truyền thuyết thì giai đoạn này tương ứng với truyền thuyết về sự ra đời nghề hát Pụt với các Pụt nàng và cây đàn tính 6 dây (tức là giai đoạn trước khi có sự tham gia của Bế Văn Phụng vào việc cải tạo cây đàn tính thành 3 dây - tức là trước khi nhà Mạc lên Cao Bằng) Thời kỳ này xuất hiện các bà Pụt tính hành nghề dựa theo bài bản của các bài Pụt Nùng từ bên kia biên giới truyền sang mà dấu vết còn lưu lại ở dòng Then Văn Quan Lạng Sơn, ở Pụt của người Tày Bắc Kạn

Ngoài ra văn bản lời hát Then ở một số địa phương như Bắc Kạn, Yên Bái có khá nhiều điểm tương đồng với văn bản của Pụt, phổ biến ở thể thơ 5 chữ, ít pha tạp tiếng Kinh, số lượng từ Hán Việt không nhiều, nội dung chứa đựng nhiều truyện kể, cổ tích, thần thoại, v.v Về sự tương đồng giữa văn bản hành lễ của Then và Pụt,các tác giả nghiên cứu trước đây đều đã ít nhiều đề cập đến Tác giả Dương Kim Bội cho rằng giữa Thenvà Pụt có sự giống nhau cả về nội dung cũng như tiêu đề chương đoạn10 Tác giả Lục Văn Pảo cũng có một nhận xét cho rằng “Việc dùng chữ Hán Việt không thấy trong Pụt Có thể sự xuất hiện Pụt và Then vào những thời gian khác nhau Trên cơ sở Pụt, Then có những phát triển riêng Cho nên, những người cho Then do Tư Thiên Quản Nhạc

8

Then Tày những khúc hát, Triều Ân chủ biên, Nxb Văn hoá dân tộc, 2000, tr.566

9

Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại, Triều Ân chủ biên, Nxb Văn học, 2004, tr.161

10

Lời hát Then, Dương Kim Bội, Sở Văn hoá Thông tin Việt Bắc, 1975, tr.0

Trang 10

làm ra (thực ra chỉ là sự ghi chép lại và có thể bổ sung) đã coi các đoạn tiếng Kinh trong Then là một lý do quan trọng”11 Cả Then và Pụt ở Bắc Kạn đều tôn thầy Tào làm sư phụ,

lễ cấp sắc do Tào chủ trì cho Then và Pụt đều tương tự như nhau Vì thế trong dân gian Bắc Kạn có chuyện kể rằng xưa Pụt xóc nhạc giúp Then, sau học được nghề thì tự tách

ra, Then cho nhạc xóc, còn Then đeo nhạc vào ngón chân để tự xóc nhạc12 Như vậy, theo dân gian Bắc Kạn thì Then và Pụt cũng là từ một gốc, khác nhau chủ yếu ở cách sử dụng nhạc cụ và khí cụ

Qua trường hợp giao lưu của Then với Pụt ở Lạng Sơn và Bắc Kạn, có thể giả thiết rằng: trước khi vào cung đình chịu ảnh hưởng của yếu tố Kinh thì Then đã tồn tại trong dân gian với tư cách là một hình thức của Pụt và chịu sự chi phối của giáo lý thầy Tào như Pụt Hình thức này hiện vẫn còn tồn tại ở một số địa phương như Bắc Kạn

Như vậy có thể lý giải như sau về mối quan hệ giữa Sliên, Pụt và Then: Sliên là hình thức Shaman bản địa có mặt từ lâu đời trong đời sống của cư dân Tày, Nùng, Choang Khi Đạo giáo Trung Hoa truyền vào nam Trung Quốc, do có nhiều điểm tương đồng (như đạo thần tiên) mà tín ngưỡng Sliên đã tiếp thu về hình thức để hình thành và phát triển thành một hình thức cúng bái có tên là Pụt Khi Pụt vào người Tày, Nùng Việt Nam đã được dòng Sliên bản địa tiếp thu bổ sung thêm nhạc cụ là cây đàn tính để hình thành nên một hình thức cúng bái mới có tên là Pụt tính tức Then Đây là Then thời kỳ đầu còn mang nhiều yếu tố bản địa chưa bị pha tạp bởi yếu tố Kinh hiện vẫn còn rải rác tồn tại trong Then ở các địa phương trong và ngoài nước

3 THEN VỚI THỜI KỲ NHÀ MẠC Ở CAO BẰNG

Ở Cao Bằng ngoài truyền thuyết về cây đàn tính và nghề làm Pụt vó gắn với vai trò của Bế Văn Phụng ra, người ta còn phát hiện một tài liệu chép tay bằng văn vần tiếng Tày nói về chuyện ông Dàng Đoạn người làng Đô Quân (xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, Cao Bằng ngày nay) phá đàn tế lễ thần ôn của vua Mạc, trong đó có đoạn nói rằng Bế Phùng sáng lập ra hát Then, Hoàng Quỳnh sáng lập ra hát Dàng13

Hai nhân vật Bế Phùng và Hoàng Quỳnh mà bài thơ đề cập có lẽ là Bế Văn Phụng

và Nông Quỳnh Văn là hai nhà văn hoá nổi tiếng của Cao Bằng thời nhà Mạc Đây là những nhân vật có thật, trong dân gian còn lưu truyền nhiều giai thoại về tài năng và tình

11

Bản sắc và truyền thống văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, Nhiều tác giả, Nxb Văn hoá dân tộc, 2004,

tr.121

12 Bản sắc và truyền thống văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, Nhiều tác giả, Nxb Văn hoá dân tộc, 2004,

tr.121

13 Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, Sđd, tr.16-17

Ngày đăng: 10/03/2018, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w