Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngànhsản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá cần được bảo vệ và quản lý. Đặc biệt, trong ngành sản xuất nông nghiệp đất đai đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân phố cuả ngành nông nghiệp. Ở nước ta, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế then chốt và ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế nông thôn. Hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm nhanh chóng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy, vấn đề sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp là rất cấp bách và cần thiết.Với mong muốn góp phần tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong chính sách pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, em đã lựa chọn đề tài: “Phân tích vai trò của pháp luật trong quản lý đất nông nghiệp ở nước ta ” làm nội dung nghiên cứu.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I Khái quát pháp luật về đất nông nghiệp ở nước ta 2
1 Khái niệm về đất nông nghiệp 2
2 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai 4
3 Phân loại đất nông nghiệp 4
II Vai trò của pháp luật trong quản lý đất nông nghiệp ở nước ta 5
1 Pháp luật đã quy định hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai; thống nhất việc quản lý đất đai ở trung ương và từng địa phương và quy định rõ vai trò của hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc quyết định và giám sát tối cao đối với việc quan lý và sử dụng đất, để tạo cơ sở cho việc tổ chức và thực hiện chế độ quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng 5
2 Pháp luật quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp, hình thức giao đất, hình thức cho thuê đất nông nghiệp, để cơ quan nhà nước thực hiện việc quản lý giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng 7
3 Pháp luật quy định về thời hạn sử dụng nhóm đất nông nghiệp, để các cơ quan nhà nước thực hiện việc giao đất ổn định lâu dài hoặc có thời hạn, giúp cho người dân có tâm lý ổn định, yên tâm trong quá trình sử dụng đất, giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được thực thi tốt hơn 10
4 Pháp luật quy định về việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất và xác lập quyền tài sản của hộ gia đình, cá nhân thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đòi lại đất đai đã giao cho người khác sử dụng khi thực hiện chính sách pháp luật về đất đai qua các thời kỳ và các chính sách bảo đảm cho các hộ gia đình, cá nhân, tiếp tục sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối có đất để sản xuất, để các cơ quan nhà nước tổ chức thực thi tốt hơn 13
5 Pháp luật quy định về việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về đất đai, để tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ, nhằm bảo đảm pháp luật về đất đai được được chấp hành nghiêm chỉnh, tăng cường kỷ cương trong công tác quản lý đất đai 15
5.1 Về thanh tra, kiểm tra 15
5.2 Về khiếu nại, tố cáo 17
5.3 Về giải quyết tranh chấp 19
5.4 Về xử lý vi phạm 21
III Một số kiến nghị nâng cao vai trò của pháp luật trong quản lý đất nông nghiệp ở nước ta 22
KẾT LUẬN 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 2MỞ ĐẦU
Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch
sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai tròquyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nếu không có đất đaithì rõ ràng không có bất kỳ một ngànhsản xuất nào, cũng như không thể có sự tồntại của loài người Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá cần đượcbảo vệ và quản lý Đặc biệt, trong ngành sản xuất nông nghiệp đất đai đóng vai trò
vô cùng quan trọng Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phânphố cuả ngành nông nghiệp Ở nước ta, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế then chốt
và ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế nông thôn Hiện nay, đất nông nghiệp ngàycàng suy giảm nhanh chóng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lươngthực quốc gia Vì vậy, vấn đề sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp là rất cấp bách
I Khái quát pháp luật về đất nông nghiệp ở nước ta
1 Khái niệm về đất nông nghiệp
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệpthường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắm vànhững loại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đấtnông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu
mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nôi trồng thủy sản hay để trồng cây
Trang 3lâu năm Trước đây Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều
42 như sau:“Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của
Việt Nam chia làm sáu loại: Đất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất khu dân cưnông thôn; Đất đô thị; Đất chuyên dùng; Đất chưa sử dụng Theo sự phân chia này,đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại riêng Tuy nhiên, sựphân loại này dựa theo nhiêu tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào mục đích sử dụngchủ yếu, vừa chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen,chông chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăncho công quản lý đất đai
Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người
sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Luật đất đai năm
2013 đã chia đất đai làm ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vàomục đích sử dụng chủ yếu Trên cơ sở đó, đất đai được chia theo ba phân nhóm:Nhóm đất nông nghiệp; Nhóm đất phi nông nghiệp; Nhóm đất chưa sử dụng Nhưvậy, Luật đất đai năm 2013 đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi
“Nhóm đất nông nghiệp” thay cho “Đất nông nghiệp” trước đây
Theo đó, có thể hiểu, đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệp về nông nghiệp, lâm nghiệp
2 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Hoạt động quản lý đất đai của mỗi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làmphát sinh các quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước và giữa các cơ quan Nhà nướcvới người sử dụng đất Nhà nước ban hành pháp luật để hướng các quan hệ đó được
Trang 4phát triển thống nhất và phù hợp với yêu cầu, lợi ích của Nhà nước Từ đó, có thểđưa ra định nghĩa về quản lý Nhà nước đối với đất đai, như sau:
Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quanNhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai;
đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất; trong việc phânphối và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quátrình sử dụng đất1
Tuy nhiên, ở khía cạnh pháp lý, có thể đưa ra định nghĩa về quản lý Nhànước về đất đai, như sau:
Quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động có tổ chức và được điều chỉnh bằngquyền lực nhà nước đối với các hành vi và các chủ thể tham gia vào quan hệ phápluật đất đai để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì
và phát triển các quanhệ đất đai theo trât tự pháp luật quy đinh2
3 Phân loại đất nông nghiệp
Theo quy định tại Điều 10 Luật đất đai 2013, đất nông nghiệp bao gồm các
loại đất sau đây: (i) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi) Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà
khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếptrên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khácđược pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mụcđích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồnghoa, cây cảnh
1 Tập bài giảng của tác giả Nguyễn Hải Ninh,“Quản lý nhà nước về đất đai”
2 Trịnh Thành Công (2015),“Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Giang”, Luận văn Thạc sĩ Quản
lý kinh tế, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 5II Vai trò của pháp luật trong quản lý đất nông nghiệp ở nước ta
1 Pháp luật đã quy định hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai; thống nhất việc quản lý đất đai ở trung ương và từng địa phương và quy định rõ vai trò của hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc quyết định và giám sát tối cao đối với việc quan lý và sử dụng đất,
để tạo cơ sở cho việc tổ chức và thực hiện chế độ quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
Đất đai là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, nó gắn liềnvới chủ quyền của một nhà nước Nhà nước là đại diện cho chủ quyền quốc gia cóquyền và trách nhiệm thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ đất đai Đất nôngnghiệp có vị trí quan trọng và được coi là một trong những đảm bảo cho sự ổn định
an toàn cho tồn tại và phát triển của đất nước
Theo quy định tại Điều 21 Luật đất đai năm 2013 thì Quốc hội thực hiệnquyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cảnước; Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luậtvề đất đai tại địa phương và Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyềnđại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định tại Luật đất đai Theo đó,Luật đã thống nhất được vai trò của hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước trongviệc quyết định và giám sát tối cao đối với việc quan lý và sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 23, Điều 24, Điều 25 Luật đất đai năm 2013 thì tráchnhiệm quản lý nhà nước về đất đai (Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đấtđai trong phạm vi cả nước; Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trướcChính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về đất đai; Bộ, cơ quan ngang
bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúpChính phủ trong quản lý nhà nước về đất đai; Ủy ban nhân dân các cấp có tráchnhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tạiLuật đất đai); Cơ quan quản lý đất đai (Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đaiđược tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương; Cơ quan quản lý nhà nướcvề đất đai ở trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường; Cơ quan quản lý đất đai ở
Trang 6địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập
và hoạt động theo quy định của Chính phủ) Theo đó Luật đã quy định hệ thốngcác cơ quan quản lý nhà nước về đất đai từ trung ương và từng địa phương, để tổchức thực hiện thống nhất việc quản lý đất đai ở trung ương và từng địa phương
Để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung cũng như
sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, pháp luật đất đai đã cụ thể hoá bằng việc quyđịnh trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp và trách nhiệm của cán bộđịa chính xã, phường, thị trấn như sau: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có tráchnhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý
và sử dụng đất đai tại địa phương
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm chỉ đạothường xuyên việc kiểm tra phát hiện các hành vi lấn chiếm đất đai, sử dụng đấtkhông đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, người sử dụngđất thực hiện các quyền và nghĩa vụ không đúng với quy định của pháp luật Trongthời hạn không quá một ngày kể từ khi phát hiện vi phạm hoặc được báo cáo có viphạm phải tổ chức việc kiểm tra, lập biên bản, ra quyết định đình chỉ hành vi viphạm, xử phạt hành chính theo thẩm quyền và yêu cầu tự khôi phục lại tình trạng
sử dụng đất ban đầu; nếu người có hành vi vi phạm không chấp hành quyết địnhđình chỉ thì ra quyết định cưỡng chế khôi phục lại tình trạng sử dụng đất ban đầu vàbáo cáo bằng văn bản lên Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp
Cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thường xuyên kiểm tratình hình sử dụng đất tại địa phương để phát hiện kịp thời những trường hợp lấn,chiếm đất đai, không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mụcđích sử dụng đất trái pháp luật, người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụkhông đúng với quy định của pháp luật và các trường hợp khác có vi phạm hànhchính trong quản lý và sử đụng đất đai; trong thời hạn không quá một ngày kể từ
Trang 7khi phát hiện sai phạm phải báo cáo bằng văn bản lên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã,phường, thị trấn nơi có đất để xử lý đồng gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường.
Như vậy, việc quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ củangười sử dụng đất đã được quy định chặt chẽ và đầy đủ trong pháp luật đất đai.Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai Hoạtđộng phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sử dụng cụthể thực hiện Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu và lợi íchcủa Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối và sửdụng đất Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm và bất cập trongphân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó
2 Pháp luật quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp, hình thức giao đất, hình thức cho thuê đất nông nghiệp, để cơ quan nhà nước thực hiện việc quản lý giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
Thứ nhất, về hạn mức giao đất nông nghiệp:
Theo quy định tại Điều 129 Luật đất đai 2013 thì đất nông nghiệp là đất đượcxác định chủ yếu để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như trồng trọt,chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâmnghiệp Nhóm đất nông nghiệp gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâunăm, đất sản xuất, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đấtnuôi trồng thủy sản, đất muối, đất trồng có phục vụ chăn nuôi, đất mặn nước đểnuôi trồng thủy sản, đất hợp tác xã giao cho hộ gia đình làm kinh tế gia đình, đấtnông nghiệp khác
Hạn mức sử dụng nông nghiệp là khoảng thời gian tối đa mà một hộ giađình, cá nhân, tổ chức được phép sử dụng một diện tích đất nông nghiệp nhất địnhvào mục đích nông nghiệp mà nhà nước giao
Hạn mức giao đất được quy định nhằm mục đích khống chế diện tịch mà cơquan nhà nước có thẩm quyền được phép giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
Trang 8tránh hiện tượng tránh hiện tượng giao đất một cách tuỳ tiện với diện tích lớn, đồngthời đây cũng là cơ sở pháp lý giới hạn diện tích đất được pháp sử dụng.
Việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp có tác động tích cực đếnđời sống kinh tế ở nông thôn, nó bảo đảm cho người nông dân có đất đai để sảnxuất, thực hiện được chính sách của Đảng và nhà nước ta là người cày có ruộng;quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xãhội, thậm chí còn mang một số chính trị to lớn: Giải quyết hợp lý chính sách hạnmức, chúng ta vừa thúc đẩy được kinh tế nông thôn phát triển vừa bảo đảm được
ổn định xã hội; việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp nhằm đảm bảo sửdụng đất đai có hiệu quả, phục vụ tốt các mục tiêu, kinh tế, xã hội do nhà nước đềra; quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp đảm bảo cho người làm nôngnghiệp có đất để sản xuất và nhằm khắc phục tình trạng chuyển đổi đất nôngnghiệp, sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; việc quy định hạn mức sửdụng đất nông nghiệp còn xuất phát từ những nguyên nhân như tình trạng dư thừalao động trong nông nghiệp ở nông thôn, môi trường quan giữa ruộng đất - dân số -lao động trở nên hết sức căng thẳng Đa số nông dân, thu nhập của họ chỉ đủ trangtrải cho những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, không có khả năng đầu tư thêm chosản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn và cũng không có khả năng đầu tư vào cáclĩnh vực khác, bởi vậy việc áp dụng chính sách này là cần thiết
Bên cạnh đó là việc quy định hạn mức sử dụng đất và việc phát triển kinh tếtrang trại thì hiện nay nhà nước ta khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Việcquy định hạn mức sử dụng đất không có hạn chế đối với chủ trương khuyến khíchphát triển kinh tế trang trại vì việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp là rấtcần thiết nhằm mục khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển, sản xuất, mở rộngquy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,nuôi trồng thủy sản, làm muối gắn với dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp Việc quy định hạn mức sử dụng đất nông nghiệp đảm bảo cho việc sử dụng
Trang 9đất tiết kiệm, hợp lý theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp donhà nước đề ra.
Thứ hai, về hình thức giao đất nông nghiệp:
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Luật đất đai năm 2013 thì
Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp: (i) hộ gia đình,
cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này; (ii)
người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tựnhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làmnghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 củaLuật này Theo đó, đối với đất nông nghiệp nhà nước giao đất không thu tiền sửdụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,nuôi trồng thủy sản, làm muối; người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất
là rừng tự nhiên
Thứ ba, về hình thức cho thuê đất:
Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 56 Luật đất đai năm 2013 thì Nhànước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả
thời gian thuê trong các trường hợp: (i) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; (ii) Hộ gia đình, cá
nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao quyđịnh tại Điều 129 của Luật này Theo đó, đối với đất nông nghiệp nhà nước chothuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gianthuê đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tiếptục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao
Trang 103 Pháp luật quy định về thời hạn sử dụng nhóm đất nông nghiệp, để các
cơ quan nhà nước thực hiện việc giao đất ổn định lâu dài hoặc có thời hạn, giúp cho người dân có tâm lý ổn định, yên tâm trong quá trình sử dụng đất, giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được thực thi tốt hơn
Việc quy định thời hạn sử dụng đất nói chung, đặc biệt là thời hạn sử dụngđối với nhóm đất nông nghiệp nói riêng là việc làm cần thiết bởi những lý do sau:
Thứ nhất, việc quy định này nhằm khẳng định rõ ranh giới giữa Nhà nước
(với tư cách là chủ sở hữu đại diện đối với đất đai) và người sử dụng đất (với tưcách là người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất) Nhà nước giao đất ổn địnhlâu dài hoặc có thời hạn chứ không giao vĩnh viễn Việc giao đất có thời hạn sẽgiúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được thực thi tốt hơn
Thứ hai, việc quy định rõ thời hạn khi giao đất,cho thuê đất giúp cho người
dân có tâm lý ổn định,yên tâm trong quá trình sử dụng đất tạo điều kiện cho họ cóthể lập kế hoạch đầu tư đúng đắn,thâm canh tăng vụ,khái thác đất hợp lý,nâng caohiệu quả sử dụng đất
Thứ ba, với thời hạn đủ dài cho việc sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất được cấp hộ nhân dân sẽ có cơ hội vay vốn trung hạn,dài hạn của tổchức tín dụng để phát triển sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó, người sử đụng dất, dù có là tổ chức kinh tế ở trong nước, nhàđầu tư nước ngoài hay hộ gia đình,cá nhân,người Việt Nam định cư ở nước ngoàiđều được Nhà nước bảo hộ quyền được gia hạn sử dụng đất hoặc tiếp tục được giaođất,cho thuê đất nếu chấp hành đầy đủ trách nhiệm của người sử dụng đất có nănglực và nhu cầu sử dụng đất đai
Điều đó có nghĩa là Nhà nước không chỉ bảo đảm quyền lợi cho người sửdụng đất trong thời hạn sử dụng đất mà còn bảo hộ quyền lợi cho họ sau khi thờihạn kết thúc để người sử dụng đất càng yên tâm sản xuất
“Điều 126 Đất sử dụng có thời hạn
Trang 111 Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản
2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này.
2 Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất.
3 Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm.
Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất không quá 70 năm.
Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất
ổn định lâu dài.
Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này…
Trang 125 Thời hạn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn là không quá 05 năm.”
“Điều 127 Thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất
1 Thời hạn sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất được quy định như sau:
a) Trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang sử dụng vào mục đích khác thì thời hạn được xác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng Thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
b) Trường hợp chuyển đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối sang trồng rừng phòng hộ, trồng rừng đặc dụng thì hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất ổn định lâu dài;
c) Trường hợp chuyển mục đích sử dụng giữa các loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó theo thời hạn đã được giao, cho thuê.
Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng”.
Trang 134 Pháp luật quy định về việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất và xác lập quyền tài sản của hộ gia đình, cá nhân thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đòi lại đất đai đã giao cho người khác sử dụng khi thực hiện chính sách pháp luật về đất đai qua các thời
kỳ và các chính sách bảo đảm cho các hộ gia đình, cá nhân, tiếp tục sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối có đất để sản xuất, để các cơ quan nhà nước tổ chức thực thi tốt hơn
Pháp luật đất đai hiện hành thể hiện xu hướng ngày càng mở rộng về quyềncủa người sử dụng đất; trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đấtđược quy định chuyển dần từ cơ chế hành chính sang cơ chế dân sự Pháp luật cũngxác lập quyền tài sản của hộ gia đình, cá nhân thông qua việc cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, bao gồm cả đất nông nghiệp Tại Điều 166, Điều 108 Luật Đấtđai năm 2013 quy định người sử dụng đất có các quyền sau: được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởngcác lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; đượcNhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; đượcNhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp củamình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; khiếunại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp củamình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
Pháp luật đất đai cũng đã tạo hành lang pháp lý cho việc chuyển nhượngquyền sử dụng đất nông nghiệp, góp phần chuyển quỹ đất nông nghiệp cho ngườithực sự có nhu cầu sử dụng, hình thành thị trường quyền sử đất nông nghiệp Cácquy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp giúp bảo đảmcho người nông dân có đất sản xuất, tuy nhiên nó có mặt hạn chế là ngăn cản quátrình tích tụ ruộng đất để sản xuất tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá
Tại khoản 5 Điều 26 Luật đất đai 2013 có quy định:“Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ