Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Không chỉ tại Việt Nam, hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng công tác này, bởi lẽ bảo vệ người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của xã hội. Do đó, nhiều quốc gia đã sớm ban hành các đạo luật với mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Tại Việt Nam, năm 1999, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng. Đây có thể coi là một bước ngoặt quan trọng trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác này. Bên cạnh Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Việt Nam còn được quy định bởi rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa…
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM CHUNG
1 Khái niệm người tiêu dùng
2 Khái niệm tổ chức, cá nhân kinh doanh
3 Tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh:
II.PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN
1 Phương thức giải quyết bằng tòa án:
2 Phương thức giải quyết bằng trọng tài:
3 Đánh giá phương thức giải quyết tranh châp bằng tòa án và trọng tài: ……….13
C KẾT LUẬN
Trang 2A MỞ ĐẦU
Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm củatoàn xã hội Không chỉ tại Việt Nam, hầu hết các nước trên thế giới đều rất coitrọng công tác này, bởi lẽ bảo vệ người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triểnbền vững của xã hội Do đó, nhiều quốc gia đã sớm ban hành các đạo luật vớimục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Tại ViệtNam, năm 1999, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệngười tiêu dùng Đây có thể coi là một bước ngoặt quan trọng trong công tácbảo vệ người tiêu dùng ở nước ta cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
ta đối với công tác này Bên cạnh Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng, vấn đề bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Việt Nam còn được quy địnhbởi rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Bộ luật Dân sự, Bộ luậtHình sự, Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật chất lượng sản phẩm, hànghóa…
Hiện nay, tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanhđược hiểu là các tranh chấp dân sự thông thường nên được xử lý theo các quyđịnh hiện hành về pháp luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, các tranh chấp của ngườitiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh có đặc thù là những tranh chấp nhỏ,đơn giản và cần được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện cho người tiêu dùng.Thực tế cho thấy việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiệnhành để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng là không phùhợp vì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là quá phức tạp và tốn kém, khôngphù hợp với khiếu nại, giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng Đây là lý dochính dẫn đến việc người tiêu dùng nước ta thường e ngại, không muốn khiếunại, khởi kiện ra toà khi bị vi phạm quyền lợi Lợi dụng điều này, nhiều tổ chức
Trang 3cá nhân kinh doanh thường xem nhẹ, thiếu ý thức bào vệ quyền lợi người tiêudùng dẫn đến thiệt hại quyền lợi người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội.Nhận thức được tầm quan trọng của các phương thức giải quyết tranh chấp giữangười tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, em xinchọn Đề 15: “Thực trạng pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp giữangười tiêu dùng và tổ chức, cá nhân bằng phương thức trọng tài và tòa án.” làmchủ đề chính cho bài tập học kỳ.
Trang 4B NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM CHUNG
1 Khái niệm người tiêu dùng: Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Người
tiêu dùng 2010, Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức
Quyền của người tiêu dùng được quy định tại Điều 8 Luật Bảo vệ người tiêu
dùng năm 2010 như sau:
“Điều 8 Quyền của người tiêu dùng
1 Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợppháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp
2 Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất
xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch
và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sửdụng
3 Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc khôngtham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
4 Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả,chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch vànội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân
Trang 55 Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng.
6 Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêuchuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cảhoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công
bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết
7 Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo
vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác củapháp luật có liên quan
8 Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịchvụ.”
Nghĩa vụ của người tiêu dùng được quy định tại Điều 9 Luật Bảo vệ người
tiêu dùng năm 2010 như sau:
“Điều 9 Nghĩa vụ của người tiêu dùng
1 Kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuầnphong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏecủa mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụnghàng hóa, dịch vụ
2 Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi pháthiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gâythiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của ngườitiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâmphạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.”
Trang 62 Khái niệm tổ chức, cá nhân kinh doanh: Tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cungứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm:
Thương nhân theo quy định của Luật thương mại;
Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng
ký kinh doanh
Các hành vi bị cấm của Tổ chức, cá nhân linh doanh hàng hóa, dịch vụ
được quy định tại Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 như sau:
“Điều 10 Các hành vi bị cấm
1 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫncho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấpthông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dungsau đây:
a) Hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụcung cấp;
b) Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
c) Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhânkinh doanh hàng hóa, dịch vụ
2 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quấy rối người tiêu dùngthông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02
Trang 7lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinhhoạt bình thường của người tiêu dùng.
3 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ép buộc người tiêu dùngthông qua việc thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hạiđến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêudùng;
b) Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai,dịch bệnh để ép buộc giao dịch
4 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện hoạt động xúctiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không cónăng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự
5 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùngthanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước vớingười tiêu dùng
6 Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêudùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệquyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi íchhợp pháp của tổ chức, cá nhân khác
7 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng hoàn cảnh khókhăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hànghóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng
8 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chấtlượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng.”
Trang 83 Tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh:
Hơn 14.000 phản ánh của người tiêu dùng đến Bộ Công Thương trong năm
2020 phần nào cho thấy, quyền lợi của NTD vẫn bị xâm phạm nghiêm trọng.Đáng chú ý, vi phạm diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, nhất là lĩnh vựcbất động sản, bảo hiểm
Theo Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng - Bộ Công Thương, thờigian qua, công tác bảo vệ quyền lợi NTD được đẩy mạnh theo hướng xã hộihóa, tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế
Năm 2020, Cục CT & BVNTD đã tiếp nhận hơn 14.000 phản ánh, khiếu nại,yêu cầu tư vấn từ người tiêu dùng Trong đó, chủ yếu tăng mạnh thông quaTổng đài tư vấn và hỗ trợ người tiêu dùng 1800.6838 Nếu như năm 2011, Tổngđài này chỉ nhận được 26 cuộc gọi phản ánh, khiếu nại, năm 2019 có 9.295cuộc gọi, thì đến năm 2020 tăng lên tới 11.211 cuộc gọi
Các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ được quy định tại Điều 30 như sau:
“Điều 30 Phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
1 Tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanhhàng hóa, dịch vụ được giải quyết thông qua:
a) Thương lượng;
b) Hòa giải;
c) Trọng tài;
d) Tòa án
Trang 92 Không được thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệthại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích côngcộng.”
II PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN
1 Phương thức giải quyết bằng tòa án:
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danhquyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ
và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tựnguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhànước…
Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án là một phươngthức mang ý chí quyền lực nhà nước Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước đểgiải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật Quyết định của tòa
án có hiệu lực khiến các bên bắt buộc phải thực thi; và có thể kèm theo các biệnpháp cưỡng chế thi hành Bản chất đó được thể hiện thông qua các đặc điểmsau:
Tòa án nhân dân cho Nhà nước, thực thi và áp dụng pháp luật, xử lý mọitrường hợp vi phạm theo luật định Vì vậy, Tòa án có tính cưỡng chế cao
Việc giải quyết tranh chấp của tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quyđịnh mang tính hình thức cũng như các quy định về thẩm quyền, thủ tục, cácnguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của pháp luật tố tụng nhất là cácquy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 10 Tòa án giải quyết tranh chấp không áp dụng hình thức xử kín như hòagiải, trọng tài,…mà theo nguyên tắc xét xử công khai.
Việc giải quyết tranh chấp tại tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét xử:
sơ thẩm và phúc thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theothủ tục: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Ở nước ta, không có Toà án chuyên trách về bảo vệ người tiêu dùng Các vụkiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùngđược xếp vào loại vụ kiện dân sự và có thể được giải quyết theo pháp luật hợpđồng hoặc pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà Bộ luật dân sự vàcác văn bản có liên quan đã quy định Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc nếu
có đơn khởi kiện của người tiêu dùng Trình tự, thủ tục khởi kiện bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng được áp dụng theo trình tự chung mà Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2015 đã quy định Cụ thể:
a, Quyền khởi kiện:
Người tiêu dùng có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì có quyền tiếnhành khởi kiện người có hành vi xâm phạm ra trước Toà án để đòi bồi thường.Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng có quyền khởi kiện nếu được ngườitiêu dùng ủy quyền bằng văn bản Tinh thần này đã được quy định tại Điều 4 vàĐiều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người tiêu dùng và doanh nghiệp bị kiệnbình đẳng với nhau trước Tòa án (Điều 8 BLTTDS) có quyền thoả thuận, hoàgiải với nhau về việc giải quyết vụ kiện (Điều 5 và Điều 10 Bộ luật Tố tụng dânsự).
Trang 11Cả hai bên đương sự, khi khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện,người tiêu dùng, người bị kiện phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho các yêucầu của mình Toà án chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp
Bộ luật tố tụng dân sự có quy định (Điều 6, Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự)
b Thẩm quyền giải quyết vụ việc:
Vụ kiện về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bất kể là vụ kiện theo quy địnhcủa pháp luật về hợp đồng hay theo quy định của pháp luật bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng, nhìn chung đều thuộc thẩm quyền giải quyết tại Toà án nhândân cấp huyện (thường là nơi cá nhân, doanh nghiệp bị kiện có trụ sở hoặc nơi
cư trú theo Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
Chẳng hạn, người tiêu dùng phải nộp các loại chứng cứ chứng minh mình đãmua hàng của doanh nghiệp bị kiện, các loại chứng cứ chứng minh mình bịthiệt hại, các loại chứng cứ chứng minh doanh nghiệp bị kiện đã có hành vi viphạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Người khởi kiện có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đếnToà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng cách nộp trực tiếp tại Toà án hoặcgửi qua đường bưu điện Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơntại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi
Trang 12Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặcgửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn năm ngày làmviệc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trongcác quyết định sau đây:
Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết củamình;
Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởikiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;
Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩmquyền giải quyết của Toà án.
Trường hợp Toà án thụ lý vụ kiện, các thủ tục sau đó sẽ được thực hiện theoquy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Trang 132 Phương thức giải quyết bằng trọng tài:
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả
thuận và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 Bất
kỳ một phương thức giải quyết nào cũng có những nguyên tắc nhất định, trọngtài thương mại không phải là một ngoại lệ Theo Điều 4 Luật trọng tài thươngmại năm 2010 có quy định cụ thể:
“Điều 4 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1 Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
2 Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.
3 Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
5 Phán quyết trọng tài là chung thẩm.”
Nguyên tắc thứ nhất thể hiện sự tôn trọng của trọng tài viên đối với các bêntranh chấp về phạm vi thỏa thuận trọng tài và quyền, nghĩa vụ của các bên Vớiviệc đề cao thỏa thuận của các bên là mục tiêu hàng đầu trong giải quyết tranhchấp thương mại nhằm tìm ra phương hướng giải quyết tốt nhất mà vẫn đảmbảo lợi ích của các bên không bị ảnh hưởng Tuy nhiên, sự thỏa thuận của cácbên phải không vị phạm điều cấm hay trái đạo đức xã hội thì mới được chấpnhận