1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những nguyên tắc nhận thức của CNDVBC và chỉ ra sự khác biệt của nguyên tắc nhận thức đó với CNDV siêu hình

8 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 94,5 KB
File đính kèm duy vật biện chứng.rar (20 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan. Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử triết học trước Marx, từ những nhà duy tâm chủ quan đến duy tâm khách quan, cho tới những người theo thuyết bất khả tri đều không nhìn nhận nhận thức theo đúng bản chất của nó. Sau cuộc cách mạng vĩ đại trong triết học của Marx và Engels, nhận thức đã được chủ nghĩa duy vật thừa nhận rằng con người có khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người. Để đi sâu vào tìm hiểu một khía cạnh của nhận thức, em xin triển khai đề tài: “Phân tích những nguyên tắc nhận thức của CNDVBC và chỉ ra sự khác biệt của nguyên tắc nhận thức đó với CNDV siêu hình”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử triết học trước Marx, từ những nhà duy tâm chủ quan đến duy tâm khách quan, cho tới những người theo thuyết bất khả tri đều không nhìn nhận nhận thức theo đúng bản chất của nó Sau cuộc cách mạng

vĩ đại trong triết học của Marx và Engels, nhận thức đã được chủ nghĩa duy vật thừa nhận rằng con người có khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Để đi sâu vào tìm hiểu một

khía cạnh của nhận thức, em xin triển khai đề tài: “Phân tích những nguyên tắc nhận thức của CNDVBC và chỉ ra sự khác biệt của nguyên tắc nhận thức đó với CNDV siêu hình”.

NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

1 Định nghĩa nhận thức

Khi nói về bản chất của nhận thức, trong lịch sử triết học đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau Ở đây nhóm chỉ nêu định nghĩa nhận thức của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng nhận thức là sự phức hợp cảm giác của con người, trong khi đó chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng nhận thức

là sự hồi tưởng lại những linh hồn bất tử về thế giới các ý niệm mà nó đã từng chiêm ngưỡng nhưng đã bị lãng quên hoặc nhận thức là tự ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối

Theo kết luận của chủ nghĩa Marx-Lenin, nhận thức là một quá trình phản ảnh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên

cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo những tri thức về thế giới khách quan đó

2 Định nghĩa chủ nghĩa duy vật

Trong triết học, chủ nghĩa duy vật là một hình thức của chủ nghĩa duy vật

lí (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất

3 Định nghĩa phương pháp biện chứng

Phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau Ở đây, đối tượng được nhận thức ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây

là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng

4 Định nghĩa phương pháp siêu hình

Phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức đối tượng ở trạng thái

cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối Đối tượng được nhận thức ở trạng thái tĩnh tại;

Trang 2

nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng

II Phân tích những nguyên tắc nhận thức của CNDVBC

Sau cuộc cách trong lý luận nhận thức với sự ra đời của CNDVBC, lý luận nhận thức của chủ nghĩa Marx dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản dưới đây

1 Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người

1.1 Nội dung nguyên tắc

Nguyên tắc này thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người Đó chính là đối tượng của nhận thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định

ý thức khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, thì sự nhận thức thế giới phải xuất phát từ thế giới khách quan Như vậy, với tư cách một phạm trù triết học, vật chất không tồn tại một cách trực quan, cảm tính, mà là sản phẩm khái quát của tư duy trừu tượng

Vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan, ở bên ngoài và độc lập với

ý thức, cảm giác của con người dù con người có nhận thức được hay không Đây

là thuộc tính cơ bản của vật chất và là tiêu chuẩn thực tiễn để phân biệt vật chất

với ý thức Trong xã hội, vật chất tồn tại dưới dạng những quan hệ xã hội, đó chính là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất Các quan hệ này được hình thành và tồn tại một cách khách quan, không lệ thuộc vào ý thức của con người

1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc

Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên: đã trang bị một thế giới quan khoa học cho các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô và vĩ mô để tìm ra những dạng tồn tại mới của vật chất, qua đó khẳng định bản chất vật chất của thế giới cũng như sự tồn tại vô hạn, vô tận của nó

Trong lĩnh vực khoa học xã hội: cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Đó chính là quan hệ vật chất của xã hội, đặc biệt là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Từ đó, giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội và tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển

2 Thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người

2.1 Nội dung nguyên tắc

Nguyên tắc cho rằng nhận thức là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người cho nên không có cái gì là không thể biết Dứt khoát là không có và không thể có đối tượng nào mà con người không thể biết được, chỉ có những cái hiện nay con người chưa biết, nhưng trong tương lai với

sự phát triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biết được

Thế giới khách quan tuy rộng lớn với rất nhiều sự vật hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội nhưng sẽ không tồn tại các đối tượng mà con người không thể biết được Xét trên thực tiễn, những cái hiện nay con người chưa biết, chưa khám phá, còn hoài nghi chỉ là sự chưa biết tạm thời Trong tương lai, với sự

Trang 3

phát triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biết được, nhận thức được thế giới một cách toàn diện nhất, đầy đủ nhất Do đó, lý luận nhận thức Macxít đã tin vào con người, khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới

2.2 Ý nghĩa của nguyên tắc

Đây là một nguyên tắc nhận thức quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong đó khẳng định khả năng nhận thức được thế giới của con người Nhận thức không tự nhiên sinh ra, nó là sự phản ánh của thế giới hiện thực khách quan vào bộ não của con người Đây cũng chính là nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học:

tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của hiện thực không? Trước đây, phần lớn các nhà triết học thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới và cũng còn một số nhà triết học như Hium và Cantơ phủ nhận khả năng nhận thức của con người

3 Nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác, sáng tạo

3.1 Nội dung của nguyên tắc

Nhiệm vụ của nhận thức là đạt đến chân lý, nghĩa là đến tri thức có nội dung phù hợp với hiện thực khách quan Nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và thụ động Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ kém sâu sắc đến sâu sắc hơn

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức Trên thực tế, chúng thường đan xen vào nhau trong một quá trình nhận thức; song chúng có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau Nếu nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính thì nhận thức lý tính, nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được bản chất, quy luật vận động và phát triển sinh động của sự vật; giúp cho nhận thức cảm tính có định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn

Tuy nhiên, nếu dừng lại ở nhận thức lý tính thì con người mới chỉ có được những tri thức về đối tượng, còn bản thân tri thức ấy có chân thực hay không thì con người chưa biết được Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải xác định xem những tri thức ấy có chân thực hay không Để thực hiện điều đó, nhận thức nhất thiết phải trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn, làm thước đo tính chân thực của những tri thức đã đạt được trong quá trình nhận thức

Nguyên tắc này được coi là nguyên tắc nền tảng, có bản nhất của nhận thức

CNDVBC bởi lẽ, nguyên tắc đã cho thấy quá trình biện chứng của nhận thức, sự năng động, sáng tạo trong nhận thức của con người, khắc phục những sai lầm của các nhà triết học trước đó Nhận thức trang bị cho con người tri thức về đối tượng cần cải tạo, cần tác động Trên cơ sở những tri thức đó, con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, phương tiện,

… để thực hiện mục tiêu của mình, cải biến hiện thực khách quan Các nguyên tắc

Trang 4

nhận thức của CNDVBC định hướng cho con người nhận thức đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan,cải biến thế giới khách quan theo hướng tích cực, có lợi cho con người Bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, nhận thức có thể quyết định hành động của con người, quyết định sự đúng sai, thành bại của hoạt

động thực tiễn

Nếu như không có nguyên tắc nền tảng này trong tư duy biện chứng duy vật thì không thể khái quát hình thái kinh tế - xã hội, không thể phát hiện ra những mâu thuẫn trong lòng xã hội là động lực quyết định xã hội tiến lên và những vấn đề mấu chốt của lịch sử xã hội, như quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, quy luật phát triển của xã hội và khuynh hướng tất yếu của sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao hơn với tư cách quá trình lịch sử - tự nhiên

3.2 Ý nghĩa của nguyên tắc

Nguyên tắc này vẫn giữ nguyên giá trị đối với vấn đề về nhận thức thời đại hiện nay Nhận thức sâu sắc về thời đại có ý nghĩa trên nhiều phương diện, như xác định chiến lược, sách lược; xây dựng, củng cố niềm tin cho con người vào sự phát triển và tiến bộ xã hội; xác lập phương thức trong quan hệ quốc tế Với việc nhận thức đúng đắn, tích cực và sáng tạo sẽ giúp chúng ta nắm bắt đúng đắn khuynh hướng phát triển của xã hội từ hiện thực sinh động trong nước

và quốc tế hiện nay

Việc nắm vững nguyên tắc nền tảng về nhận thức này có một ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thực tiễn Nó đòi hỏi khi xem xét, đánh giá mỗi sự vật, hiện tượng hay trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng Nghĩa là đừng giả định nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào

4 Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn.

4.1 Nội dung nguyên tắc

Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới Thực tiễn có 3 loại hình cơ bản là: Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học (bao gồm cả thực nghiệm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội)

Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng

Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học Khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người Nhận thức sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn,

Trang 5

chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn của quần chúng Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụ mục tiêu phát triển nói chung

4.2 Ý nghĩa của nguyên tắc

Sự phân tích trên đây về vai trò thực tiễn đối với nhận thức, đối với lý luận đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu

III Sự khác biệt của những nguyên tắc nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật siêu hình

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do Marx và Engels xây dựng từ những năm

40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lenin phát triển Chủ nghĩa duy vật biện chứng

ra đời trên cơ sở kế thừa tinh hoa trong lịch sử triết học, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên vì vậy, đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng là công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức và thực tiễn cách mạng

Tuy rằng có sự khác nhau cơ bản về phương pháp luận, nhưng CNDVBC

và CNDVSH cũng có những sự đồng nhất nhất định trong quan điểm về một vài

bộ phận trong các nguyên tắc

Do cùng mang tính chất là học thuyết triết học nhất nguyên (duy vật), cả CNDVBC và CNDVSH đều thừa nhận sự tồn tại của thế giới như một chỉnh thể

mà bản chất của nó là vật chất Nguyên tắc “Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người” được CNDVSH đồng tình tuy nhiên không được áp dụng triệt để và đem lại nhiều đóng góp do các nhà triết học DVSH chỉ nhìn thế giới khách quan theo từng bộ phận nhỏ và cụ thể của nó

Nguyên tắc “thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người” cũng

có điểm tương đồng giữa hai chủ nghĩa duy vật biện chứng và siêu hình Các nhà duy vật siêu hình đề cao con người, đề cao giá trị con người, song quan niệm con người cũng như một cỗ máy : Thomas Hobbes hiểu trái tim của con người như chiếc lò xo, thần kinh như sợi chỉ, còn các khớp xương như các bánh

xe ; Francis Becon coi ý thức của con người là “linh hồn biết cảm giác” tồn tại trong óc và luôn chảy theo các dây thần kinh và mạch máu

Có đồng nhất cũng sẽ có mâu thuẫn, hai nguyên tắc nhận thức còn lại của CNDVBC đều đối mặt với những tư tưởng đối lập của CNDVSH Nếu như CNDVBC thừa nhận tính biện chứng của nhận thức, tính tích cực, tự giác, sáng tạo của ý thức, thì quan điểm của CNDVSH lại hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của ý thức, chưa cho thấy được sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người, hay nói cách khác CNDVBC chưa cho thấy tính sáng tạo, năng động của ý thức; tính biện chứng của quá trình phản ánh thế giới hiện thực khách quan Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng; song đứng im, cân bằng chỉ là hiện

Trang 6

tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động Các nhà duy vật thời cận đại giải thích sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan một cách đơn giản, máy móc: coi phản ánh như sự phản chiếu gương (hình ảnh ý thức phản ánh giống như hình ảnh của vật trong gương), theo đó phản ánh là một quá trình trực quan thụ động Do chịu sự ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình và do thiếu quan điểm thực tiễn nên nhiều nhà duy vật trước Marx đã coi nhận thức là quá trình phản ánh nguyên xi trạng thái bất động của sự vật, do đó ta không thấy được tính năng động, sáng tạo của ý thức Con người chỉ nhận thức trực tiếp bằng các giác quan, bề ngoài, đại biểu cho CNDV trước Marx là Feuerbach Feuerbach đã chứng minh cảm giác vốn là

sự phản ánh các vật thể của thế giới vật chất, được coi là nguồn gốc của tư duy

lý luận Ông cũng thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa trực quan cảm tính và tư duy lý tính và cho rằng chúng ta đọc cuốn sách tự nhiên bằng các giác quan, nhưng chúng ta không dùng giác quan để hiểu được nó Tuy nhiên, trong khi tiến lên giai đoạn tư duy trong quá trình nhận thức, con người không phải đạt tới một thế giới nào khác siêu trần gian như các nhà duy tâm vẫn khẳng định mà vẫn đứng nguyên trên cơ sở của trái đất và tính cảm giác Như vậy, hạn chế trong nhận thức của Feuerbach chính là tính chất tĩnh quan, không hiểu được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

CNDVSH thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người CNDVSH là trạng thái hoài nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc của nhận thức Đến thời kì cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người hoặc hạn chế ở cảm giác bề ngoài của sự vật Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật, phát triển rõ nét từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX, nó gắn với thời kỳ cơ học cổ điển phát triển mạnh,

do đó chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình là nhận thức thế giới như một cỗ máy

cơ giới mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại Nếu có biến đổi thì chỉ có sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng, do những nguyên nhân bên ngoài gây ra Marx nhận xét: khuyết điểm của CNDVSH là thiếu quan điểm thực tiễn, lý luận của nó mang tính trực quan nên không giải quyết được một cách thực sự khoa học và triệt để những vấn đề của lý luận nhận thức Vì vậy, Marx đã đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận, khẳng định vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, chính ông là người đã khắc phục những hạn chế của CNDV

cũ CNDV Macxit khi khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất, đã vạch

ra sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào bộ óc con người, vật chất là cái quyết định ý thức diễn ra trên cơ sở thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người cải biến sự vật trong hiện thực, nhờ đó mới cải biến được sự vật trong hình ảnh tư tưởng của nó Ngược lại, ý thức muốn tác động vào thế giới vật chất

để làm biến đổi nó thì phải thông qua hoạt động thực tiễn, nếu tách rời khỏi thực tiễn, vĩnh viễn bản thân ý thức tự nó không thể trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả

Trang 7

KẾT LUẬN

Như vậy, thông qua việc phân tích những nguyên tắc của nhận thức và chỉ

ra điểm khác biệt của những nguyên tắc đó đối với CNDVSH, chúng ta đã thấy được nơi mà nhận thức thật sự được nhìn nhận đúng với bản ngã của nó Với bốn nguyên tắc nhận thức được CNDVBC xây dựng và bảo vệ, không chỉ những

lý luận về nhận thức được khai sáng mà nhận thức còn được hòa chung vào dòng chảy của CN Marx-Lenin, trở nên có tính ứng dụng, đóng góp vào tiến trình “cải tạo thế giới” nói chung

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình triết học Mác – Lênin, nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2013

2 Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010

3 Triết học 1-3, nhà xuất bản chính trị quốc gia

Ngày đăng: 09/03/2018, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w