Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, phát huy vai trò của pháp luật đối với PTBV là nhu cầu cấp thiết, nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VÕ HẢI LONG
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : LÝ LUẬN & LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS LÊ MINH TÂM
Hà Nội - 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác./
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Võ Hải Long
Trang 3Cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật
1.1 Khái niệm, nội dung và các điều kiện bảo đảm phát triển bền vững 9
1.2 Khái niệm, đặc trưng và các biểu hiện cơ bản về vai trò của pháp luật đối với
phát triển bền vững…… ……… 25
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm vai trò của pháp luật đối với
1.4 Kinh nghiệm phát huy vai trò của pháp luật trong việc xây dựng và thực hiện
chiến lược phát triển bền vững trên thế giới………… 64
Chương 2 Đánh giá vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở nước ta thời kỳ đổi mới 79 2.1 Đánh giá vai trò của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế cơ
đoạn hiện nay
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
I Các từ viết tắt
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTNS21(A21) Chương trình Nghị sự 21
Agenda 21
LHQ (UN) Liên Hợp quốc
The United Nations PTBV Phát triển bền vững
Sustainable Development
UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội
II Tên các tổ chức, chương trình quốc tế, tiếng nước ngoài
CSD Commission Sustainable Development
Uỷ ban Phát triển bền vững ECOSOC Economic Social Council
Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên Hợp quốc ILO International Labour Orgnisation
Tổ chức Lao động quốc tế IUCN International Union for Conservation of Nature
Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên Thế giới NSDS National Sustainable Development Strategy
Chiến lược PTBV quốc gia UNEP United Nations Environment Program
Chương trình môi trường Liên hợp quốc UNESCO United Nations Education, Science, Culture Orgnisatoin
Tổ chức Văn hoá Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc WCED World Committee on Environment and Development
Uỷ ban Thế giới về môi trường và phát triển WTO World Trade Orgnization
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển là quyền cơ bản, đồng thời là ước vọng mang tính nhân văn sâu sắc của mọi quốc gia, dân tộc và ở mọi thời đại Trong thời gian dài, phát triển chỉ được hiểu với ý nghĩa là tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở sự gia tăng mặt lượng giá trị tổng sản phẩm quốc dân, chưa chú trọng giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Trong thực tiễn, việc thực hiện mô hình phát triển này bên cạnh ưu điểm cơ bản là tạo
ra sự giàu có cho xã hội, song bên cạnh đó là nguy cơ dẫn đến những hậu quả xấu, ngoài dự tính, như: bùng nổ dân số, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, v.v đe doạ sự tồn tại và phát triển của xã hội Bài học lớn được rút ra là trong quá trình phát triển con người cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người, xã hội với tự nhiên, mà bản chất của nó là sự “đồng tiến hoá” và con đường đó chỉ có thể là phát triển bền vững (PTBV)
Kể từ Báo cáo Tương lai chung của chúng ta (1987) đến Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển (1992) và nhất là sau Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV (2002), PTBV đã trở thành Chương trình nghị sự của thế kỷ
21 (Agenda 21), thu hút sự quan tâm sâu rộng của nhiều chính khách, nhà khoa học
có uy tín trên thế giới Tuy nhiên trong đời sống quốc tế, PTBV thực sự mới chỉ nhận được sự đồng thuận trên những vấn đề chung, cơ bản, có tính nguyên tắc Do tính chất liên ngành, phức tạp, nhiều vấn đề về PTBV đến nay còn chưa được giải quyết thoả đáng, nhận thức thống nhất, từ những vấn đề lý luận như bản chất, các điều kiện bảo đảm đến những vấn đề thực tiễn như khả năng, mức độ áp dụng đối với các nước đang phát triển, v.v cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
Ở Việt Nam, hơn hai mươi năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, hội nhập quốc tế và khu vực Phù hợp với
xu thế phát triển chung của thế giới, vấn đề PTBV đã được đặt ra ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, song chỉ đến khi tiến trình này đi vào chiều sâu, thì nó mới thực
sự trở nên cấp bách, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội Thực tiễn đó, đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc hơn về khả năng, điều kiện, biện pháp bảo đảm
Trang 62
PTBV ở nước đang phát triển như Việt Nam, làm sao để có thể kết hợp hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Trước thực trạng và yêu cầu phát triển đất nước, vấn đề đặt ra là phải sớm hoàn thiện chính sách phát triển, trong đó chú trọng những giải pháp với những công cụ, phương tiện tổ chức thực hiện hiệu quả, một mặt tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhằm tiếp tục duy trì, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mặt khác tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tăng cường công tác bảo vệ và từng bước nâng cao chất lượng môi trường Có như vậy, mục tiêu phát triển đất nước mới đạt được, định hướng XHCN mới được giữ vững
Đồng hành với sự đổi mới toàn diện đất nước, tư duy pháp lý có tiến bộ rõ nét, pháp luật đã trở thành công cụ đặc biệt quan trọng trong tổ chức và quản lý đời sống
xã hội Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, là một trong những thành tựu chủ yếu của công cuộc đổi mới Pháp luật tạo cơ sở pháp lý hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo hành lang pháp lý hình thành, phát triển các quan hệ xã hội mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từng bước giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Tuy nhiên, đây chỉ là những kết quả bước đầu, hệ thống pháp luật ở nước ta nhìn chung còn phức tạp, chất lượng, tính khả thi còn thấp, nhiều vấn đề phát triển nảy sinh chưa được giải quyết về mặt pháp lý, chưa thực sự phát huy tốt vai trò đối với sự phát triển đất nước
Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, thực hiện định hướng PTBV với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, phát huy vai trò của pháp luật đối với PTBV là nhu cầu cấp thiết, nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển Nhu cầu này đặt ra cho công tác nghiên cứu lý luận pháp lý hàng loạt vấn đề cần đi sâu nghiên cứu Khoa học pháp lý cần thiết phải triển khai những nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các thành tựu mới, tiếp tục củng cố, hoàn thiện
tư duy pháp lý, xây dựng hệ thống các quan điểm pháp lý phù hợp với đường lối phát
Trang 73
triển đất nước, góp phần xây dựng đời sống pháp luật dân chủ, lành mạnh Trong hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý ấy, vấn đề vị trí, vai trò, giá trị của pháp luật trong các quan hệ đời sống kinh tế - xã hội, bảo đảm PTBV đang nổi lên như một vấn đề vừa mang tính lý luận cấp thiết, vừa mang tính thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu cơ bản, xây dựng và bổ sung các luận cứ khoa học phục vụ cho công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật ở nước ta, bảo đảm kết hợp giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường trong từng bước, từng chính sách phát triển
Từ những luận chứng trên đây có thể khẳng định rằng, Đề tài “Vai trò của pháp luật đối với PTBV ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” là vấn đề cấp thiết cả
trên phương diện lý luận và thực tiễn, cần được nghiên cứu cơ bản, làm sáng tỏ trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
PTBV được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu; số lượng công trình, bài viết lớn, nội dung rất phong phú Các công trình, báo cáo có thể coi là tiền đề lý luận của PTBV phải kể đến là: J
Coomer với tác phẩm “The Nature of the Quest for Sustainable Socienty” (Bản chất
của sự tìm kiếm xã hội bền vững); Hội bảo tồn thiên nhiên thế giới với “The World Conservation Strategy” (Chiến lược bảo tồn thiên nhiên thế giới), v.v Lý luận về
PTBV tiếp tục được phát triển bởi các tác giả, thông qua các bài viết, công trình như:
E Barbier với bài viết “The concept of Sustainable Economic Development” (Khái niệm về PTBV kinh tế); Mustafa Tolba với tác phẩm “Sustainable Development -
Constrains and Opportunites” (PTBV - Các hạn chế và cơ hội); Hội bảo tồn thiên
nhiên thế giới với “Caring for the Earth” (Chăm sóc cho Trái đất); Johan Holmberg (chủ biên) với “Making Development Sustainable” (Làm cho phát triển trở nên bền vững); Ted Trzyna (chủ biên) với “A Sustainable World: Defining and Measuring
Sustainable Development” (Thế giới bền vững: Định nghĩa và trắc lượng PTBV);
Susan Murcott víi “Definitions of Sustainable Development” (Các định nghĩa
PTBV), v.v Kể từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển (1992), ở Việt Nam đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu về PTBV nhằm làm
rõ khái niệm, định lượng PTBV ở Việt Nam, tiêu biểu là những công trình trong
khuôn khổ Dự án Vie01/021, như: “Nghiên cứu Tổng hợp các mô hình phát triển bền
Trang 84
vững ở Việt Nam” (11/2005), “Ngưỡng phát triển và quan điểm phát triển đối với Việt Nam” (3/2002); các tham luận trong Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc về PTBV
(2006); Đề tài cấp bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” do PGS
TS Hà Huy Thành làm Chủ nhiệm, v.v Ngoài ra, còn một số bài viết về các khía
cạnh PTBV, như: “Phát triển bền vững: tiền đề lịch sử và nội dung khái niệm” (Nguyễn Đức Chiện, Viện Xã hội học); “Phát triển bền vững và hài hoà: Những vấn
đề lý luận và thực tiễn chủ yếu hiện nay” (Lương Đình Hải), “Phát triển bền vững nhìn từ góc độ xã hội và văn hoá” (Trần Hữu Dũng) v.v Những công trình, bài viết
này đã phân tích, khái quát một số vấn đề lý luận về PTBV, như lịch sử hình thành, khái niệm, đặc trưng của PTBV ở những nội dung, mối quan hệ cụ thể, làm rõ sự cần thiết, những yêu cầu đặt ra đối với PTBV, tuy nhiên chưa đề cập, phân tích rõ các điều kiện bảo đảm PTBV, nhất là đối với những nước có điều kiện kinh tế-xã hội, trình độ phát triển còn thấp, để chứng minh tính khả thi của mô hình này
Trong lĩnh vực pháp lý, trên bình diện pháp luật quốc tế, Tác phẩm
“Sustainable Development law - Principles, Practices and Prospects” (Pháp luật phát
triển bền vững - Nguyên tắc, thực tiễn và triển vọng) của Merie - Claire Condonier Segger và Ashfaq Khalfan trình bày về các nguyên tắc về phát triển, PTBV qua các Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển, và thực tiễn pháp luật quốc
tế trên các lĩnh vực; Tác phẩm “The law of sustainable development - General
principles” (Pháp luật về PTBV- những nguyên tắc chung) của Uỷ ban Châu Âu
phân tích lý thuyết pháp lý cũng như 12 nguyên tắc chung của pháp luật về PTBV như: nguyên tắc về sự đa dạng, nguyên tắc về khả năng đáp ứng, nguyên tắc về di sản
tự nhiên chung, v.v Như vậy, các công trình này mới chủ yếu đề cập đến PTBV từ phương diện pháp luật quốc tế và thực tiễn của các nước phát triển
Ở Việt Nam, những vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật trong đời sống kinh
tế - xã hội, về mối quan hệ giữa pháp luật với phát triển, về thực trạng của pháp luật trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã được nhiều nhà khoa học pháp lý, kinh tế, các nhà nghiên cứu xã hội học nghiên cứu dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau Nghiên cứu về Nhà nước và pháp
luật trong thời kỳ đổi mới, nổi bật là các tác phẩm khoa học: “Nhà nước và pháp luật
của chúng ta trong thời kỳ đổi mới” (NXB KHXH, 1997) của GS TSKH Đào Trí
Úc; “Xây dựng và hoàn thiện Hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và
Trang 95
thực tiễn” của GS TS Lê Minh Tâm (NXB CAND, 2004); Bài viết của GS.TS
Hoàng Văn Hảo “Tìm hiểu vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường”; bài viết của PGS TS Lê Minh Thông “Vấn đề hoàn thiện pháp luật phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội, nhiều công trình,
bài viết nghiên cứu công phu và chuyên sâu, đề cập, phân tích những khía cạnh về nhu cầu đổi mới pháp luật trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN ở nước ta
Trong số các công trình khoa học này có thể kể đến: Dự án VIE/94/003 “Tăng cường
năng lực pháp luật tại Việt Nam” với đề tài nghiên cứu “Đánh giá chung về khung pháp luật kinh tế hiện hành và xác định chiến lược tổng thể hoàn thiện khung pháp luật đối với hoạt động kinh tế và bảo vệ môi trường” giữa Bộ Tư pháp - Dự án
VIE/94/003 và Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh; PGS TS Trần Ngọc Đường “Pháp
luật trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, Đề tài cấp Nhà nước
“Hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý các
vấn đề chính sách xã hội” do PGS TS Trần Trọng Hựu làm chủ nhiệm, v.v Nhìn
chung, những công trình này đã nêu bật được vai trò và yêu cầu đổi mới pháp luật nói chung, pháp luật trên từng lĩnh vực nói riêng, cung cấp các luận cứ lý luận và thực tiễn phục vụ cho công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ quá trình phát triển đất nước Tuy nhiên, phần lớn những công trình này được thực hiện trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, nên ít nhiều có một số hạn chế về mặt lịch sử, chưa thực sự xác định rõ định hướng PTBV và yêu cầu của nó đối với công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật
Ngoài ra, cũng có một số bài viết, đề tài đề cập đến vai trò của pháp luật đối
với PTBV, nhưng không phải là nội dung nghiên cứu chính, như: “Pháp luật và sự
phát triển bền vững” (Vũ Duy Khang); “Phát triển bền vững và sự tham gia của xã hội dân sự” (Nguyễn Duy Linh); Đề tài cấp bộ “Bảo đảm yêu cầu PTBV trong hoạt động xây dựng pháp luật” do PGS TS Nguyễn Văn Động làm Chủ nhiệm, v.v
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, tổng quát vai trò của pháp luật đối với PTBV Luận án là công trình khoa học đầu tiên đặt vấn
đề nghiên cứu toàn diện, khái quát các cơ sở lý luận và thực tiễn “Vai trò của pháp
luật trong mối quan hệ với phát triển bền vững” phù hợp với đối tượng nghiên cứu,
phương pháp luận của Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật
Trang 106
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của Luận án là xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc khẳng định, xác định những yếu tố, điều kiện tác động và ảnh hưởng, tìm kiếm những giải pháp hữu ích cho việc phát huy vai trò của pháp luật đối với PTBV
ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Những kết luận của Luận án có ý nghĩa đối với công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
- Đối tượng nghiên cứu của Luận án là nội dung vai trò của pháp luật đối với PTBV ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Các khía cạnh nội dung của vai trò pháp luật được phân tích, đánh giá thông qua pháp luật thực định trong các lĩnh vực cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam, là: pháp luật về kinh tế, pháp luật về các vấn đề xã hội, pháp luật về môi trường
- Vai trò của pháp luật đối với PTBV có nội hàm rất rộng Phù hợp với đối tượng nghiên cứu của Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luận án tập trung phân tích những quan hệ pháp luật cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có chú ý đến yêu cầu tổng thể, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chính
để phát huy vai trò của pháp luật trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ những nội dung sau:
- Do PTBV là vấn đề lý luận phức tạp, hiện còn nhiều quan niệm khác nhau nên Luận án tập trung hệ thống, phân tích, phát triển một số vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, nội dung, các điều kiện bảo đảm PTBV, làm cơ sở cho sự phân tích vai trò của pháp luật
- Phân tích, làm rõ khái niệm, đặc trưng, các điều kiện bảo đảm vai trò của pháp luật đối với PTBV, và biểu hiện cơ bản của nó trên các lĩnh vực chủ yếu là: (1) Bảo đảm tăng trưởng kinh tế liên tục, ổn định; (2) Giải quyết tốt các vấn đề xã hội; (3) Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
- Đánh giá, phân tích pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, qua đó xác định mức độ vai trò của pháp luật phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm định hướng PTBV ở nước ta hiện nay
Trang 117
- Từ thực trạng vai trò của pháp luật và định hướng phát triển đất nước, Luận
án đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của pháp luật đối với PTBV ở nước ta hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin Luận án sử dụng những quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời
Mác-kỳ quá độ, những quan điểm về PTBV, xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, v.v những kết luận của các công trình khoa học có giá trị làm cơ sở phương pháp luận cho Luận án
Các phương pháp nghiên cứu: hệ thống-cấu trúc, phân tích, tổng hợp, so sánh,
sử dụng kết quả điều tra xã hội học, tổng hợp số liệu, v.v được sử dụng để hoàn thành luận án Cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống được áp dụng để phân tích tổng quan các quan niệm về PTBV, nội dung của PTBV cũng như trong việc trình bày các nội dung đánh giá vai trò của pháp luật đối với PTBV
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng phổ biến, để phân tích, tổng hợp từng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh được áp dụng trong việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về PTBV, so sánh pháp luật giữa các thời kỳ, làm rõ các hiện tượng pháp lý
có đặc điểm tương tự
- Phương pháp xã hội học, tổng hợp những số liệu chính thức được công bố để minh hoạ, chứng minh cho những luận điểm, những kết luận trong nghiên cứu, giải quyết những nhiệm vụ của luận án
6 Những kết quả mới của Luận án
Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vai trò của pháp luật đối với PTBV ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, theo phương pháp luận của khoa học Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật Những kết quả, đóng góp mới của Luận án được thể hiện ở những nội dung chính sau:
- Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, Luận án đã xây dựng khái niệm, phân tích các điều kiện bảo đảm, các đặc trưng và những biểu hiện cơ bản về vai trò của pháp luật đối với PTBV, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của pháp luật đối với PTBV và đề xuất cần coi pháp luật là yếu tố thứ tư của PTBV, bên cạnh các
Trang 128
yếu tố đã được thừa nhận rộng rãi là phát triển kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường Đồng thời ở mức độ nhất định, Luận án đã so sánh, khái quát kinh nghiệm phát huy vai trò của pháp luật trong việc xây dựng và thực hiện Chiến lược PTBV của một số quốc gia trên thế giới
- Luận án đề xuất một phương pháp tiếp cận mới để đánh giá vai trò của pháp luật trong thực tiễn, đó là cách tiếp cận thông qua các chức năng đặc thù của pháp luật Trên cơ sở lý luận được khái quát và với cách tiếp cận này, Luận án đã triển khai phân tích, đánh giá về thực trạng vai trò của pháp luật đối với PTBV ở nước ta, khẳng định những thành tựu đã đạt được, cũng như các hạn chế, khuyết điểm, đồng thời phân tích, làm rõ các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
- Luận án đề xuất một số kiến nghị về quan điểm, chính sách và giải pháp nhằm phát huy vai trò của pháp luật đối với PTBV ở nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Trong đó có các kiến nghị chủ yếu như: Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học pháp lý về PTBV; hoàn thiện pháp luật bảo đảm PTBV, tập trung hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường và có chính sách bảo đảm PTBV hệ thống pháp luật; đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ văn hóa pháp lý và trách nhiệm đạo đức đối với PTBV; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác thi hành pháp luật, v.v
7 Kết cấu của Luận án
Luận án bao gồm:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững; Chương 2: Đánh giá vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở nước
ta trong thời kỳ đổi mới;
Chương 3: Những quan điểm và giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của pháp
luật đối với phát triển bền vững ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Kết luận
Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 139
CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật
đối với phát triển bền vững
sự suy thoỏi về mụi trường, sự biến đổi khớ hậu; sự xuất hiện những đại dịch thế
kỷ, v.v Việc hỡnh thành ý tưởng đến khỏi niệm và phong trào hành động PTBV, khởi đầu từ cỏc phong trào bảo vệ mụi trường, gắn với vai trũ của tổ chức và cỏc
cơ quan Liờn hợp quốc (LHQ), nhất là từ những năm 50 (thế kỷ XX) Cỏc cơ quan của tổ chức này đó cú nhiều hành động thể hiện sự quan tõm với những vấn
đề về mụi trường và phỏt triển Đặc biệt, LHQ đó triệu tập một số hội nghị quan trọng liờn quan trực tiếp đến vấn đề này
Năm 1972, Hội nghị LHQ về mụi trường con người (UNCHE) được tổ
chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) với sự tham gia của 113 quốc gia, nhằm đối phú với tỡnh trạng ụ nhiễm mụi trường ngày càng gia tăng ở cỏc nước cụng nghiệp phỏt triển Hội nghị đó ra Tuyờn bố về mụi trường con người (Tuyờn bố Stockholm) gồm 26 nguyờn tắc; thảo thuận về chương trỡnh hành động quốc tế rộng lớn, thành lập Chương trỡnh mụi trường của LHQ (UNEP), Quỹ mụi trường
và Ban Thư ký thường trực về mụi trường Hội nghị thống nhất những quan điểm chớnh về mối quan hệ giữa cuộc sống của con người với mụi trường, giữa phỏt triển kinh tế - xó hội với bảo tồn tài nguyờn, v.v
Tiếp theo Hội nghị Stockholm, cỏc Hiệp hội bảo tồn thiờn nhiờn thế giới (IUCN), UNEP và Quỹ Bảo vệ thiờn nhiờn thế giới đó đưa ra "Chiến lược bảo tồn thế giới" (1980) hối thỳc xõy dựng chiến lược bảo tồn tài nguyờn sinh học quốc gia, với ba mục tiờu chớnh: duy trỡ những hệ sinh thỏi cơ bản, những hệ hỗ trợ sự sống; bảo đảm sử dụng bền vững cỏc loài, cỏc hệ sinh thỏi Trong Chiến
Trang 14và tăng trưởng kinh tế Trong bỏo cỏo của mỡnh (4/1987), Uỷ ban đó đưa ra khỏi niệm PTBV cú nội dung bao quỏt, khụng bị giới hạn về chuẩn mực, cú thể xem như sự dung hoà giữa "phỏt triển cú giới hạn" và "phỏt triển hợp mụi sinh”, nờn được nhiều nước chấp nhận
Năm 1992, LHQ quyết định triệu tập Hội nghị Thượng đỉnh Trỏi đất về
mụi trường và phỏt triển tại Rio de Janerio (Braxin) với sự tham gia của 179
nước (trong đú cú 115 người đứng đầu nhà nước) Đõy là hội nghị lớn nhất của LHQ cả về quy mụ và mối quan tõm với mụi trường Hội nghị đó thụng qua 5 văn kiện: "Tuyờn bố Rio về mụi trường và phỏt triển" gồm 27 nguyờn tắc;
“Tuyờn bố những nguyờn tắc chung về rừng”; “Cụng ước khung của LHQ về biến đổi khớ hậu”; “Cụng ước về đa dạng sinh học” và đặc biệt “Chương trỡnh Nghị sự 21”
Chương trình nghị sự 21 (CTNS 21), bản kế hoạch chi tiết gồm 800 trang với 2500 khuyến nghị về cỏc hành động quốc tế trong thế kỷ thứ XXI CTNS21 vạch ra bộ kế hoạch tổng hợp với những chiến lược, chương trỡnh để chấm dứt, khắc phục những ảnh hưởng của suy thoỏi mụi trường và thực thi PTBV ở tất cả cỏc quốc gia Ngoài lời tựa, CTNS21 toàn cầu gồm 4 phần: “Những khớa cạnh kinh tế và xó hội”, “Bảo tồn và quản
lý cỏc nguồn lực phỏt triển”, “Tăng cường vai trũ của nhúm chớnh”, “Cỏc phương tiện thực hiện” [102,21]
Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV được tổ chức tại
Johanesburg (Cộng hoà Nam Phi) với đại diện từ 196 quốc gia tham dự Hội nghị khẳng định PTBV là trung tâm của CTNS 21 và tiếp tục thúc đẩy hành động toàn cầu nhằm giảm sự đói nghèo và bảo vệ môi trường Đặc biệt, khái niệm về PTBV đã được củng cố, mở rộng, nhấn mạnh quan hệ giữa nghèo đói, môi trường
và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Johanesburg và Kế hoạch thực hiện PTBV, tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ CTNS21 về PTBV Sau Hội nghị, PTBV trở thành chiến lược toàn cầu
1.1.1.1 Tổng quan về phỏt triển bền vững
Trang 1511
Theo các tài liệu về PTBV, hiện có hơn 70 khái niệm được sử dụng, giải thích, định hướng xây dựng chỉ số về PTBV[86,28] Theo Ann P Hawkins và Frederick H Buttel, PTBV được hiểu trong 4 phạm vi vai trò của nó, là: (1) Phạm trù lý thuyết; (2) Hệ tư tưởng của phong trào môi trường; (3) Sự hướng dẫn để thiết kế, đánh giá các chương trình, chính sách phát triển; (4) Xu thế phát triển nhất thời, biểu tượng trung tâm của xung đột về chính sách phát triển Jean-Guy Vaillancourt cho rằng PTBV vừa mang tính khoa học (phạm trù lý thuyết) vừa là một phần tư tưởng (hệ tư tưởng, chính sách)[92,84] Xét về phương diện lý thuyết, PTBV phong phú, đa dạng cả về nội dung và cách tiếp cận Bằng phương pháp nghiên cứu hệ thống-cấu trúc, các quan niệm về PTBV có thể được khái quát như sau:
- Tiếp cận PTBV xuất phát từ điều kiện phát triển mỗi nước, hay điểm xuất phát của quá trình phát triển
Theo đó, điểm xuất phát, điều kiện kinh tế-xã hội là cơ sở để xác định chính sách, các bước đi, hướng ưu tiên trong từng giai đoạn phát triển của mỗi nước Một số nhà kinh tế phát triển cho rằng PTBV chỉ đặt ra với các nước thuộc thế giới thứ ba Và trong nhiều trường hợp khái niệm nước đang phát triển được
sử dụng đồng nghĩa với “thế giới thứ ba”[3,28] Chẳng hạn, tác giả E Barbier viết
“Khái niệm phát triển kinh tế bền vững vì được áp dụng đối với Thế giới thứ ba bởi vậy trực tiếp liên quan đến việc nâng cao mức sống vật chất của người nghèo đạt mức tối thiểu”[105, iv] Trên cơ sở lý thuyết tân cổ điển, một số nhà kinh
tế học theo thuyết hội tụ (điển hình là R Solow) lại cho rằng, cả nước phát triển
và đang phát triển, tốc độ tăng trưởng sẽ hội tụ ở mức bền vững (bởi các nước phát triển phải đầu tư theo chiều rộng, tức là đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư khoa học công nghệ; các nước đang phát triển theo chiều sâu) Để đạt được sự phát triển, PTBV, nhiều lý thuyết, mô hình phát triển được đưa ra, bổ sung, thay thế nhau Trong đó, tiêu biểu là Lý thuyết các giai đoạn của Walt Rostow (1916-2003), các quan điểm về con đường phát triển, như: công nghiệp hoá, hiện đại hoá (thay đổi về cơ cấu), phúc lợi xã hội, phát triển con người, hoặc phát triển có sự tham gia [19,67-97]
- Tiếp cận phát triển bền vững từ những yếu tố cấu thành,“lát cắt ngang” của sự phát triển
Trang 1612
Theo đó, PTBV là một đại quá trình do một loạt quá trình nhánh hợp thành, hội tụ về các mặt, là: phát triển kinh tế; phát triển xã hội; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường Các mặt, yếu tố hay quá trình nhánh này được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, PTBV không chỉ bao gồm nội dung kinh tế mà còn bao hàm nội dung xã hội và môi trường
Về kinh tế, cách hiểu phổ biến coi PTBV là bước phát triển kế tiếp của tư
duy về tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế thể hiện 3 nội dung: (1) Sự tăng lên của Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và GDP tính theo đầu người; (2) Sự biến đổi về cơ cấu kinh tế, quan trọng nhất là tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp ngày một giảm xuống; (3) Sự tăng lên của thu nhập thực tế người dân được hưởng Trong mối quan hệ với các vấn đề môi trường, các quan niệm tập trung vào tính giới hạn tuyệt đối hoặc tương đối của tài nguyên, đầu vào của sản xuất Theo nghĩa tuyệt đối, nếu duy trì mô hình phát triển truyền thống thì sớm hay muộn cũng dẫn đến sụp đổ của hệ thống toàn cầu Theo nghĩa tương đối, khi tài nguyên trở lên khan hiếm, một mặt con người sẽ tìm ra tài nguyên khác để thay thế, và sử dụng có hiệu quả tài nguyên sẵn có (Charles S Colgan, 1997)[21,15-16] Với các vấn đề xã hội, việc nghiên cứu tập trung phân tích những thất bại của thị trường, xác định vai trò của chính phủ
Mặt xã hội, phát triển xã hội hay các yếu tố phi kinh tế trong một thời gian
dài ít được đề cập trong các nghiên cứu về phát triển và thường được coi là hệ quả của phát triển kinh tế Nhận thức về mặt xã hội đến nay còn chưa thống nhất
Tìm kiếm trên mạng xã hội với sự khác biệt dễ nhận thấy nhất trong việc mô tả trụ cột xã hội ( ) Biến thể thứ nhất đơn giản là một mục tiêu xã hội phi kinh tế tổng quát,
mà sử dụng những thuật ngữ như “xã hội” “phát triển xã hội” và “tiến bộ xã hội” Biến thể thứ hai nhấn mạnh vào việc phát triển con người tương phản với việc phát triển kinh tế: “phát triển con người” “sức khoẻ con người” hay chỉ “con người” Biến thể thứ ba tập trung vào vấn đề công lý và công bằng: “công lý xã hội” “công bằng” và
“giảm nghèo” [101]
Phát triển xã hội thường được nghiên cứu trong mối liên hệ với các vấn đề kinh tế và phát triển con người Trong Báo cáo phát triển con người đầu tiên (1990), Mahbub ul Haq tiếp cận theo hướng xác định cái thứ nhất chỉ là phương tiện, phát triển con người là mục tiêu tối cao của sự phát triển [19,73] Ở một khía
Trang 1713
cạnh khác, theo R Beregon sự giàu có, thịnh vượng chưa hẳn đã là phát triển, thậm chí còn là “phản phát triển” [3,9] Trong những năm 90 thế kỷ XX, một số nhà xã hội học nghiên cứu về vốn xã hội, như James Coleman, Putman Robert, v.v cho rằng cấu trúc các quan hệ xã hội, những vấn đề về lòng tin, mạng lưới
và các quy tắc ứng xử, hay các chuẩn mực của cộng đồng ảnh hưởng, có thể tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển Oakerson J Ronald chỉ ra 4 bộ thuộc tính quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, trong đó vốn xã hội tác động đến hai bộ thuộc tính, là: tổ chức ra quyết định (gồm các quy tắc quyết định các hành
vi của cá nhân và sự lựa chọn tập thể); mẫu hình tương tác (là kết quả trực tiếp từ
sự lựa chọn chiến lược của các thành viên trong nhóm sử dụng tài nguyên; hỗ trợ lẫn nhau được xem như là cấu trúc của mẫu hình tương tác)[78] Các tác giả trong các nghiên cứu về xã hội tập trung nhiều vào các vấn đề như nhu cầu cơ bản của con người, sự bình đẳng giới và mở rộng ra là sự bình đẳng giữa các quốc gia, khu vực, v.v
Mặt môi trường trong quá trình phát triển ngày càng được nhận thức đầy
đủ, không chỉ về những nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, mà còn những vấn đề về ô nhiễm môi trường, ban đầu là do hoạt động sản xuất, sau đó bao hàm cả việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ Muốn PTBV cần phải chú trọng bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học; tuân thủ những nguyên lý sử dụng thông minh, hợp lý, bảo đảm
sự tái tạo, không để cạn kiệt, suy thoái tài nguyên thiên nhiên và môi trường; đó
là việc sử dụng công nghệ sạch trong sản xuất, thay đổi cách thức trong sinh hoạt
và tiêu dùng của người dân Theo Herman Daly, một thế giới bền vững là một thế giới không sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên tái sinh và tạo tiền đề tái sinh (như nước, thổ những, sinh vật) nhanh hơn quá trình tìm ra những loại thay thế chúng, và không thải ra môi trường các chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hoá chúng[17,72].Trong các nghiên cứu gần đây, vấn đề môi trường bao gồm hai mặt là bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
- Tiếp cận PTBV từ mục tiêu của phát triển
Theo quan niệm này, sự khác biệt giữa PTBV với sự phát triển thông thường ở mục tiêu phát triển Mục tiêu PTBV trong định nghĩa của Uỷ ban
Bruntland, đó là "sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng
đến việc đáp ứng của các thế hệ tương lai" Tại Hội nghị Johanesburg, mục tiêu
Trang 1814
này được hiểu là mục đích lâu dài, còn mục đích trước mắt là "sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường" Ngân hàng phát triển Châu Á đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn:
PTBV là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường PTBV cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ trong tương lai.[21,43]
- Tiếp cận PTBV từ công tác tổ chức thực hiện
Xuất phát từ quan điểm PTBV không phải là mục tiêu chính xác, mà là một tiêu chuẩn đối với quan điểm và hành động, David Munro cho rằng PTBV:
“Một quá trình tiếp diễn, có tính lặp đi, lặp lại, thông qua kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ thống phức hợp, được tích lũy lại, được đánh giá và được vận dụng”[86,19] Trong khi đó, Stephan Viederman lại xác định: “Bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết, mà là một tầm nhìn vào tương lai, bảo đảm cho chúng ta một lộ trình và giúp tập trung chú ý vào một tập hợp các giá trị
và những nguyên tắc mang tính luân lý và đạo đức để hướng dẫn hành động của chúng ta”[86,19] PTBV là một dự án lớn, để thực hiện phải có kế hoạch, lộ trình
và theo tầm nhìn dài hạn nhằm hướng tới những mục tiêu nhất định
Trong lý luận và thực tiễn, vai trò của thể chế (nhất là pháp luật) đối với phát triển, PTBV ngày càng quan trọng Xuất phát từ việc xem xét vai trò của Nhà nước trong “tam giác quản trị quốc gia”, tác giả Nguyễn Thu Linh đề xuất
cơ chế: “Nhà nước tạo môi trường chính trị và pháp lý thuận lợi Khu vực tư tạo việc làm và thu nhập Xã hội dân sự tạo điều kiện cho giao lưu chính trị-xã hội, giám sát tính chịu trách nhiệm của các cơ quan công quyền”[49,58] Xã hội là tổng thể các quan hệ kinh tế, quan hệ giữa các giai tầng tạo nên “tấm vải” xã hội, trong đó mỗi cá nhân, tổ chức là những điểm nút, sự ràng buộc lẫn nhau là cơ sở cho sự vận hành của hệ thống, do vậy để PTBV cần thiết lập hệ thống quy tắc xử
sự chung, phản ánh các quy luật khách quan, định hướng sự vận động của hệ thống kinh tế-xã hội thông qua hành vi hợp pháp của các chủ thể
- Tiếp cận PTBV theo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong học thuyết Mác-Lênin, tuy thuật ngữ PTBV chưa được sử dụng, song nhiều vấn đề về phát triển, PTBV đã được đề cập Trong các tác phẩm của
Trang 1915
mình, các ông đã bàn đến những nội dung về PTBV, như: phát triển kinh tế, phát triển xã hội, mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên; luận giải khoa học, biện chứng mối quan hệ thống nhất giữa con người, xã hội và tự nhiên C Mác khẳng định giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”, “con người sống bằng giới tự nhiên” “đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn khăng khít với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền khăng khít với bản thân giới tự nhiên, bởi con người là một bộ phận của giới
tự nhiên”[14,474] Con người là “động vật xã hội” Xã hội không phải bao gồm các
cá nhân, mà là biểu hiện tổng số những mối liên hệ giữa các cá nhân đối với nhau, giữa lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội có mối liên hệ mật thiết “Có thể xem xét lịch sử dưới hai mặt, có thể chia thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Tuy nhiên, hai mặt đó không tách rời nhau Chừng nào mà loài người còn tồn tại, thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”[15,25] Theo các ông, nền sản xuất của xã hội là phương thức trao đổi chất giữa xã hội và tự nhiên Mối quan hệ giữa con người với “những cá nhân con người sống” và
“phần còn lại của tự nhiên”; đó chính là dân số và môi trường Từ đó, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên Về phát triển xã hội, C Mác đưa
ra khái niệm hình thái kinh tế-xã hội với những đặc trưng về chất và coi “sự thay thế các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Để phát triển
xã hội, có thể là cách mạng xã hội tạo bước ngoặt về chất, hoặc thay đổi theo hướng tuần tự, như: tiến hoá xã hội hoặc cải cách xã hội Giữa tiến hoá xã hội, cải cách xã hội và cách mạng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ
Bên cạnh các cách tiếp cận nêu trên, PTBV còn được tiếp cận ở góc độ luân lý, đạo đức hoặc theo không gian phát triển Chẳng hạn, R Norgaard cho rằng mỗi khu vực, vùng không thể tự thân có sự phát triển bền lâu mà gắn bó chặt chẽ với khu vực, vùng khác, thậm chí cả những yếu tố mang tính toàn cầu, v.v [105]
Việc tổng hợp, phân tích, phân loại các quan điểm về PTBV theo quan điểm hệ thống cho phép tiếp cận tổng quan, khoa học về PTBV “Bức tranh” về phát triển, PTBV được trình bày trên đây, do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, chưa thật sự hoàn hảo, song đã bao hàm khá đầy đủ những “mảng, khối lớn”, phản ánh PTBV ở các vị trí, vai trò, khía cạnh khác nhau, là những
Trang 2016
mục tiêu, giá trị, tiêu chuẩn nhận thức và hành động của sự phát triển Trong quá trình hình thành và phát triển, các quan điểm này song song tồn tại, hoặc thay thế, thậm chí đối lập, loại trừ lẫn nhau, song nhìn tổng quát, đây là sự bổ sung, hỗ trợ cần thiết, là cơ sở để nhận thức toàn diện và hệ thống hơn về PTBV
Sự khác biệt giữa chúng, như C Mác viết trong thư trả lời L Cughenman năm 1868:
Lịch sử của lý luận chắc chắn chỉ rõ rằng quan niệm về quan hệ giá trị bao giờ cũng là một, chỉ có cái là quan niệm đó rõ hơn hay mờ hơn, hay bị những ảo tưởng bao phủ nhiều hơn hay được xác định một cách khoa học hơn Vì chính bản thân quá trình tư duy lớn lên từ những quan hệ nhất định, chính bản thân nó là một quá trình tự nhiên, nên tư duy hiểu được một cách hiện thực, bao giờ cũng chỉ là một, và chỉ có thể biến đổi dần dần khác đi, theo trình độ chín muồi của sự phát triển, và đặc biệt là của sự phát triển của khí quan tư duy.[19,78]
1.1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững
Trong lý luận và thực tiễn, PTBV còn có nhiều quan niệm rất khác nhau
Xuất phát từ mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài, để nhận thức PTBV, theo chúng tôi cần quan tâm làm rõ một số vấn đề như sau:
Một là về yêu cầu, phương pháp xác định nội dung khái niệm PTBV là
cách dùng quy ước của PTBV xã hội (hệ thống kinh tế-xã hội) và có thể được xem xét ở nhiều cấp độ: địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu PTBV là khái niệm đa diện, phức tạp, được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp tùy thuộc vào việc xác định đối tượng của nó theo mục đích, phạm vi nghiên cứu Trong từng trường hợp cụ thể, đối tượng của PTBV cần được xác định hợp lý, khoa học, vừa bảo đảm tính toàn diện, vừa phù hợp với yêu cầu nghiên cứu và thực tiễn áp dụng Việc xác định khái niệm cần vận dụng cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp hợp lý, khắc phục những hạn chế khu biệt trong cách tiếp cận của từng chuyên ngành, bộ môn khoa học cụ thể Trong khoa học pháp lý, khái niệm PTBV phải vừa khái quát được những đặc điểm cơ bản của PTBV, vừa nêu bật được vị trí, vai trò của pháp luật, các vấn đề pháp lý trong mối tương quan với những đặc điểm cơ bản đó
Hai là về xác định đối tượng của PTBV Theo chúng tôi, đối tượng của
PTBV cần được hiểu là cơ sở hạ tầng trong mối quan hệ với kiến trúc thượng tầng Tuy nhiên, ở đây cơ sở hạ tầng cần được hiểu theo nghĩa toàn diện, là tổng
Trang 2117
thể các quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại, thay đổi, chấm dứt trên cơ sở các quy luật khách quan, không chỉ bao gồm những quan hệ kinh tế mà còn các quan hệ trong giải quyết các vấn đề xã hội, cũng như trong việc khai thác, sử dụng, bảo
vệ tài nguyên và môi trường Trong đó, sự vận động và mối quan hệ giữa chúng quyết định sự vận động của cả hệ thống Trong những điều kiện, hoàn cảnh và sự tác động chủ quan cụ thể, sự vận động của hệ thống kinh tế-xã hội có thể theo các chiều, hướng khác nhau, và PTBV là một trong các xu hướng đó Do vậy, sự nhận thức các quy luật vận động và việc tác động theo quy luật vào các quan hệ kinh tế-xã hội, môi trường là cơ sở quan trọng để bảo đảm PTBV Việc xác định đối tượng của PTBV như vậy theo chúng tôi là tương đối phù hợp vì vừa phản ánh sự vận động khách quan của các quan hệ xã hội, vừa thấy được vai trò của các nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm PTBV, thông qua mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng Cách hiểu này cũng phù hợp với các quan niệm về giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, và một số khái niệm thịnh hành hiện nay như: “đồng tiến hoá”, “trí tuệ quyển”
Ba là về sự tương quan giữa PTBV với pháp luật và các vấn đề pháp lý
Như đã phân tích ở trên, PTBV chỉ là một xu hướng vận động của hệ thống kinh tế-xã hội và trở thành hiện thực khi có sự tác động hợp quy luật của nhân tố chủ quan thuộc kiến trúc thượng tầng trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tức là cần thiết phải phát huy vai trò tích cực của kiến trúc thượng tầng trong sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, mà trung tâm của sự tác động này là pháp luật, gắn với hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Sự cần thiết của pháp luật đối với PTBV thể hiện ở những phương diện chủ yếu như sau:
- PTBV là quá trình cải biến xã hội, chuyển đổi xã hội dần từ trạng thái chưa bền vững sang trạng thái bền vững Trong các giai đoạn phát triển của xã hội loài người nói chung, cũng như mỗi quốc gia nói riêng, mọi sự thay đổi xã hội chỉ có ý nghĩa thực tế khi nó được khẳng định về mặt pháp luật Xét ở mức
cụ thể hơn, mọi chủ trương, chính sách nhằm tiến hành các cải cách kinh tế-xã hội đều cần đến vai trò của pháp luật Và khi pháp luật được coi như là một yếu
tố trong quá trình thực hiện cải cách thì nó sẽ có tác dụng làm cho chủ trương, chính sách đó biểu hiện cụ thể hơn và được triển khai nhanh hơn, hiệu quả hơn trên một quy mô rộng lớn; ngược lại nếu đặt pháp luật ra ngoài quá trình cải cách
Trang 22lý Mối quan hệ giữa pháp luật với PTBV là mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức Chỉ khi có một hình thức pháp lý phù hợp với yêu cầu PTBV trong từng giai đoạn, tức là phát huy vai trò của pháp luật, thì PTBV mới được tổ chức thực hiện một cách hợp lý, khoa học và trở thành hiện thực trong đời sống
xã hội
- Trong quá trình vận động của hệ thống kinh tế-xã hội, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, xuất hiện những nhân tố cản trở, những xu hướng phát triển “xấu”, mà đã từng diễn ra trong lịch sử, như: phát triển không chú trọng đến chất lượng tăng trưởng và khắc phục các khuyết tật của kinh tế thị trường; sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, v.v Các xu hướng, nhân tố này
có khả năng gây nên những bất ổn, xung đột, thậm chí gây nguy hại đến sự tồn tại của xã hội Với các thuộc tính của mình, pháp luật có khả năng vừa bảo đảm
sự phát triển trong từng lĩnh vực, vừa tạo ra sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý các mục
tiêu, giải quyết hiệu quả các vấn đề phát triển, nhất là khắc phục những yếu tố
phản phát triển thông qua việc quy định quyền và nghĩa vụ, gắn chế độ trách
nhiệm pháp lý của các chủ thể khi tham gia các quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực Thực tế cho thấy, trong xã hội có giai cấp, chỉ có pháp luật, với tư cách là công cụ quyền lực nhà nước mới có khả năng tạo ra sự hài hòa xã hội, cũng như khắc phục những nguy cơ nảy sinh trong quá trình phát triển
- PTBV thể hiện một tầm nhìn, do vậy để PTBV, sự vận động của hệ thống kinh tế-xã hội cần thiết phải được hoạch định theo một Chiến lược, kế hoạch tổng thể phù hợp Sự hoạch định này được phản ánh thông qua chiến lược phát triển hệ thống pháp luật và kế hoạch xây dựng, hoàn thiện pháp luật hằng năm, cũng như các mục tiêu, định hướng của các quy phạm pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể, là cơ sở bảo đảm sự vận động, phát triển của các quan hệ xã hội theo tiến trình, kế hoạch đó
Trang 2319
Như vậy, với PTBV, phỏp luật tham gia vào tất cả cỏc khõu, giai đoạn của quỏ trỡnh phỏt triển, bảo đảm sự thống nhất giữa cỏc yếu tố khỏch quan và chủ quan, thụng qua khả năng điều hoà lợi ớch, điều chỉnh hành vi của cỏc chủ thể
nhằm đạt cỏc mục tiờu phỏt triển Tuy nhiờn, cú thể thấy việc phỏt huy vai trũ
của phỏp luật luụn gắn với hiệu lực, hiệu quả của nhà nước phỏp quyền Về bản
chất, tổ chức, bộ mỏy nhà nước phỏp quyền đến nay cũn nhiều quan điểm khỏc nhau, nhưng cú thể thống nhất ở những điểm chung: đú là nhà nước với sự hiện diện của một chế độ dõn chủ; cú tổ chức, bộ mỏy hợp lý, khoa học bảo đảm sự giỏm sỏt, chế ước lẫn nhau giữa cỏc nhỏnh quyền lực nhằm hạn chế việc lạm quyền và đặc biệt là đề cao tớnh tối thượng của phỏp luật Trong nhà nước phỏp quyền, mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cỏ nhõn đều phải nghiờm chỉnh chấp hành phỏp luật Khi đú, phỏp luật thực sự là cơ sở quan trọng bảo đảm cho PTBV
Từ cỏc phõn tớch trờn, xuất phỏt từ mục tiờu, đối tượng nghiờn cứu, PTBV
cú thể được hiểu là sự vận động của hệ thống kinh tế - xó hội trờn cơ sở phỏt huy vai trũ của phỏp luật gắn với hiệu lực, hiệu quả của nhà nước phỏp quyền trong việc bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phỏt triển kinh tế, phỏt triển xó hội với cải thiện chất lượng và bảo vệ mụi trường, duy trỡ sự phỏt triển liờn tục, ổn định, lõu dài qua cỏc thế hệ
Vị trớ, vai trũ của phỏp luật đối với PTBV cú thể xem như “hỡnh với búng”, nếu thiếu phỏp luật hoặc phỏp luật khụng hiệu quả thỡ khụng thể cú PTBV Như vậy, ở mức độ nhất định, theo chỳng tụi, phỏp luật cú thể coi là nội dung thứ tư của PTBV Tuy nhiờn, để cú kết luận này, cần thiết phải tiếp tục nghiờn cứu, bổ sung thờm cỏc luận cứ khoa học khỏc
1.1.2 Nội dung của phát triển bền vững
PTBV là sự phát triển kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường Nội dung của PTBV thể hiện chủ yếu ở các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường
1.1.2.1 Phát triển bền vững về kinh tế
Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tiến bộ mọi mặt, thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và có sự thay đổi về chất của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội và bảo
Trang 2420
vệ môi trường theo hướng tiến bộ Mục tiêu của PTBV về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái, đình trệ trong tương lai, tránh để lại hậu quả nợ nần cho các thế hệ mai sau Điều kiện để đạt được sự PTBV về kinh tế là:
- Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thực tế quy mô giá trị tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vu của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Mức tăng trưởng của nền kinh tế là mức tăng về tổng sản phẩm quốc nội (GDP-Gross Domestic Product) và giá trị tổng thu nhập quốc dân (GNI-Gross National Income), được tính trên phạm vi toàn nền kinh tế, hay tính bình quân đầu người khi so sánh giữa hai thời kỳ trước
và sau đó
- Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, nghĩa là cơ cấu kinh tế hướng tới phát huy các lợi thế của đất nước
và xu thế của thời đại Đối với các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng cần giảm
tỷ trọng giá trị sản phẩm của ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp, dịch vụ, có hàm lượng chất xám cao
- Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu và phải làm tăng năng lực nội sinh Năng lực nội sinh thể hiện ở các tiêu chí: Chất lượng nguồn nhân lực, năng lực sáng tạo công nghệ, mức độ tích luỹ, mức độ hoàn thiện và hiện đại của cơ sở hạ tầng, mức tham gia của người dân vào tăng trưởng kinh tế
1.1.2.2 Phát triển bền vững về xã hội
Bền vững xã hội thể hiện ở quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, mọi người đều có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng nghèo đói, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội Những nội dung cơ bản để PTBV xã hội là:
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết việc làm cho người lao
động Gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu tạo việc làm cho người dân, chống thất nghiệp
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, đó là mục tiêu vừa trước mắt, vừa lâu dài, tạo động lực phát triển kinh tế, tạo mặt bằng phát triển
Trang 2521
đồng đều trong xã hội
- Tăng trưởng kinh tế phải bảo đảm ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ổn định xã hội thể hiện ở không có xung đột sắc tộc, giai tầng, bộ phận dân cư, đó là điều kiện để tăng trưởng kinh tế Chất lượng cuộc sống được biểu hiện ở các chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người, chỉ số hưởng thụ về giáo dục, chỉ số về chăm sóc y tế, v.v
Người ta thường sử dụng chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index) là một trong những độ đo về bền vững xã hội HDI được xác
định trên ba chỉ tiêu chính là: tuổi thọ, dân trí và thu nhập
1.1.2.3 Phát triển bền vững về môi trường
PTBV về môi trường thể hiện ở sự khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường Nội dung PTBV về môi trường không chỉ là hoạt động bảo vệ mà còn cải thiện chất lượng môi trường Những nội dung cơ bản về PTBV môi trường thể hiện ở các điểm sau:
- Tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm, suy thoái hoặc huỷ hoại môi trường Trong thực tế, khi thực hiện mục tiêu kinh tế nhiều quốc gia đã không chỉ khai thác, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, mà còn tạo ra nhiều chất thải độc hại làm ô nhiễm môi trường, đe doạ đời sống hiện tại và cả thế hệ tương lai
- Tăng trưởng kinh tế phải gắn với khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cần cân nhắc khi có quyết định khai thác tài nguyên thiên nhiên, chú trọng hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Tăng cường sử dụng công nghệ tiên tiến, để sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường.[93,44-46]
1.1.3 Những điều kiện cơ bản bảo đảm phát triển bền vững
1.1.3.1 Bảo đảm về chính trị
PTBV có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị Trong cam kết quốc tế về quyền phát triển (Nguyên tắc 3 - Tuyên bố Riô về PTBV), các nội dung PTBV
đều ghi nhận mối liên hệ mật thiết với lợi ích của các thành phần trong xã hội
Do vậy, muốn PTBV phải có các bảo đảm về chính trị, thể hiện ở những nội dung cơ bản là chế độ dân chủ, sự ổn định về an ninh, chính trị
Cơ sở chính trị bảo đảm cho PTBV là chế độ dân chủ, nếu chế độ chính trị
là độc tài hoặc phản dân chủ thì không thể PTBV Dân chủ là biểu hiện của
Trang 2622
quyền lực nhân dân Theo V.I Lênin, “chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức,
có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta Nhưng mặt khác, chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa các công dân, thừa nhận mọi người có quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu của nhà nước và quản lý nhà nước” [54,123] Chỉ khi quyền lực thuộc về nhân dân, “sự cưỡng bức” nhằm những mục tiêu chung, bảo đảm việc thực hiện quyền dân chủ của người này không làm ảnh hưởng đến người khác và lợi ích chung của xã hội, tạo ra sự bình
đẳng giữa các công dân, thì mới bảo đảm sự tham gia, phát huy năng lực, sức sáng tạo của mọi thành viên, thúc đẩy xã hội phát triển Nhà nước ta là nước xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, nhà nước thực hiện quyền dân chủ rộng rãi, là cơ sở chính trị quan trọng bảo đảm PTBV đất nước
Sự ổn định về an ninh, chính trị là điều kiện bảo đảm, tạo môi trường thuận lợi cho PTBV Nội dung này thể hiện trước hết trong đường lối chính trị Thực tế cho thấy, đường lối chính trị ổn định, phản ánh đúng, phù hợp với quy luật vận
động, phát triển của xã hội, là điều kiện chủ quan bảo đảm phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Sự ổn định này còn biểu hiện ở sự hài hoà các mối quan hệ giữa các giai tầng và các nhóm xã hội Ngoài ra, đây còn là cơ sở bảo
đảm an toàn về tính mạng, tài sản, quyền tự do và hoạt động hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức; bảo đảm các quan hệ xã hội phát triển lành mạnh, tránh được những rủi ro, bất thường ảnh hưởng đến sự phát triển
Ngược lại, sự phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo cơ sở vững chắc bảo đảm ổn
định chính trị Phát triển có khả năng đem lại sự cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, hài hoà lợi ích xã hội, khắc phục cơ bản xung đột xã hội về lợi ích Từ đó, tạo sự tin tưởng của người dân vào chế độ xã hội, là cơ sở của ổn
định về an ninh, chính trị Tuy nhiên, an ninh, chính trị còn chịu sự tác động từ bên ngoài, song cơ bản và quyết định là những yếu tố nội tại bên trong Thực tiễn những năm 80 (thế kỷ XX) cho thấy sự sụp đổ mô hình XNCN hiện thực ở Đông
Âu chỉ có một phần do sự chống phá từ bên ngoài, còn căn nguyên sâu xa lại xuất phát từ chính những sai lầm, chậm được khắc phục trong chính sách phát triển Do vậy, để phát triển cần thiết phải xây dựng đường lối phát triển phù hợp,
đồng thời kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh
1.1.3.2 Bảo đảm về nguồn lực
Vai trò của các nguồn lực đối với sự phát triển là rất lớn Trong thực tế, các
Trang 2723
nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra công cụ lao động, tư liệu tiêu dùng và tái tạo nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Để duy trì sự phát triển liên tục, khối lượng và chất lượng các nguồn lực tự nhiên hay các nguồn lực thay thế phải
được duy trì ổn định qua các thế hệ Do vậy, muốn PTBV cần phải phát huy, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực, bao gồm cả việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong, cũng như tranh thủ các nguồn lực từ bên bên ngoài, trong
đó chú trọng 3 nguồn lực chính là tài nguyên thiên nhiên, con người và khoa học công nghệ Để có cơ sở bảo đảm cho PTBV, cần xây dựng các cơ chế quản lý, sử dụng chặt chẽ, hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng cường chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghệ cho đội ngũ công nhân, người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện chất lượng môi trường
1.1.3.3 Bảo đảm về tư tưởng, văn hoá
Sự phát triển kinh tế-xã hội luôn được đặt trong một bối cảnh lịch sử, văn hoá cụ thể Những bảo đảm về tư tưởng, nhất là hệ tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự PTBV Hệ tư tưởng có giá trị chi phối sự vận động và phát triển của xã hội Nếu hệ tư tưởng thống trị trong xã hội là hệ tư tưởng tiến bộ, sẽ thúc đẩy sự PTBV, nếu là hệ tư tưởng lạc hậu sẽ kìm hãm, hoặc làm cản trở sự phát triển của xã hội
Văn hoá thể hiện trước hết ở các giá trị vật chất, tinh thần do mỗi cộng
đồng xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hoá thẩm thấu sâu vào mọi mặt đời sống xã hội, xác định bản sắc văn hoá của từng cộng đồng dân cư, dân tộc Do vậy, nếu nền văn hoá tiên tiến, trước hết thể hiện ở trình độ ứng xử của các cá nhân, tổ chức đối với tự nhiên và xã hội là cơ sở bảo đảm hài hoà mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, vốn là cơ sở của PTBV
1.1.3.4 Bảo đảm về pháp lý
Như đã phân tích ở trên, pháp luật tham gia vào tất cả các khâu trong quá
trình tổ chức, quản lý thực hiện các mục tiêu phát triển Ngoài ra, pháp luật còn
là cơ sở quan trọng các bảo đảm khác của PTBV, chẳng hạn như là cơ sở để bảo
đảm an ninh, trật tự Những bảo đảm về pháp lý chủ yếu thể hiện thông qua các yêu cầu về hệ thống pháp luật và ý thức pháp quyền
Phỏp luật là hỡnh thức phỏp lý của quỏ trỡnh phỏt triển Sự phỏt triển của hệ
Trang 2824
thống phỏp luật gắn với sự vận động và phỏt triển của xó hội Do vậy để PTBV, phỏp luật phải phản ỏnh đầy đủ nội dung PTBV bằng cỏc biện phỏp kỹ thuật phỏp lý trong cỏc quy định của phỏp luật (trạng thỏi tĩnh); đồng thời sự phỏt triển của hệ thống phỏp luật (trạng thỏi động) phải bảo đảm liờn tục, cú tớnh kế thừa trong từng bước, giai đoạn phỏt triển, tớnh ổn định tương đối, khụng cú những xỏo trộn lớn trong quỏ trỡnh phỏt triển
Như đó trỡnh bày ở phần khỏi niệm, thuật ngữ PTBV dựng để chỉ PTBV hệ thống kinh tế-xó hội Bờn cạnh đú, thuật ngữ này cũn được sử dụng rộng rói trong xó hội và trong thực tiễn nghiờn cứu khoa học với ý niệm về sự phỏt triển liờn tục, ổn định Trong trường hợp này, người ta sử dụng thuật ngữ kết hợp với cỏc đối tượng cụ thể, để phõn biệt với trường hợp chung Theo xu hướng đú thỡ những yờu cầu về phỏp luật nờu trờn cú thể xem là biểu hiện của PTBV hệ thống phỏp luật, hay núi khỏc đi, để bảo đảm PTBV cần thiết phải PTBV hệ thống phỏp luật
PTBV hệ thống pháp luật bước đầu theo chúng tôi có thể hiểu là sự tiến bộ
trong sự vận động của hệ thống pháp luật thể hiện ở các phương diện chủ yếu: (1) Phát triển theo chiến lược, kế hoạch xây dựng pháp luật gắn với chiến lược, kế hoạch PTBV trong từng giai đoạn; (2) Có nội dung phản ánh đầy đủ, kịp thời những nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong quá trình phát triển, nhất là bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực phát triển kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường; (3) Có cấu trúc (ngành luật, chế định pháp luật, quy phạm pháp luật) và hình thức (văn bản pháp luật) ngày càng hợp lý; được xây dựng với trình độ kỹ thuật pháp lý hiện đại; (4) Là điều kiện bảo đảm PTBV xã hội
PTBV hệ thống pháp luật bảo đảm sự phù hợp hợp lý, phát huy tối đa các giá trị của pháp luật, thể hiện sự nhất quán, minh bạch trong thực thi chính sách phát triển, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, điều chỉnh, định hướng các quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực, thúc đẩy sự PTBV Để PTBV hệ thống pháp luật, cần xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển hệ thống pháp luật, gắn với chiến lược
và phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn Làm tốt công tác phân tích chính sách, tăng cường nghiên cứu, đánh giá hiệu quả pháp luật, xác định đúng xu hướng phát triển của các quan hệ xã hội, quá trình xã hội,
Trang 291.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, CÁC BIỂU HIỆN CƠ BẢN VỀ VAI TRề CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI PHáT TRIểN BềN VữNG
1.2.1 Khái niệm vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững
1.2.1.1 Một số quan niệm về pháp luật và vai trò của pháp luật
Về khỏi niệm phỏp luật, đõy là khỏi niệm trung tõm trong khoa học phỏp
lý, được cỏc trường phỏi luật học nghiờn cứu với nhiều cỏch tiếp cận khỏc nhau Luật học phõn tớch (analytic Jurisprudence), tiờu biểu với Jeremy Bentham
(1748-1832), John Austin (1790-1859), L A Hart (1907-1992), v.v nghiờn cứu
khỏi niệm phỏp luật với cỏc nội dung trừu tượng, cơ bản hay bản chất phổ biến với tất cả những gỡ được gọi là luật phỏp một cỏch hợp lý, phõn biệt phỏp luật với cỏc loại quy phạm xó hội khỏc Luật học chuẩn tắc (Normative
Jurisprudence) gồm cỏc đại diện như Immanuel Kant (1724-1804), John Rawls
(1921-2002), v.v lại quan tõm đến cỏc vấn đề mục tiờu và mục đớch của khỏi niệm phỏp luật, gắn với cỏc quan điểm về chớnh trị, đạo đức, v.v
Phỏp luật là phạm trự chớnh trị - phỏp lý phức tạp Để làm rừ khỏi niệm này, một số nhà nghiờn cứu luật học hiện đại cho rằng cần phõn biệt cỏc nguyờn
lý chớnh trị, nguyờn lý đạo đức với cỏc nguyờn lý luật học khi phõn tớch cỏc vấn
đề phỏp luật Chẳng hạn E Hilma viết “trong khi vấn đề về mức độ hợp lý để giải thớch Hiến phỏp Hoa Kỳ thuộc về lý thuyết dõn chủ, thỡ sẽ nghiờng về những vấn đề chớnh của lý thuyết chớnh trị, cũn việc phõn tớch giải thớch phỏp lý lại nghiờng về lý thuyết luật học” Việc phõn biệt này là cần thiết trong nghiờn cứu phỏp lý, giỳp cú cỏi nhỡn “thuần luật”, nhận thức rừ hơn những yếu tố đặc thự
Trang 30tố thuộc thượng tầng kiến trúc, có mối quan hệ chặt chẽ với nhà nước, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, v.v Tác giả
Lê Minh Tâm cho rằng, khái niệm pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp là tuỳ theo cách tiếp cận và yêu cầu giải quyết các vấn đề cụ thể của hệ thống pháp luật Theo đó, ngoại diên rộng nhất của khái niệm pháp luật, bao gồm những gì thuộc hệ thống pháp luật và ý thức pháp quyền, tức pháp luật bao gồm pháp luật thực định, hiện hành; pháp luật quá khứ và tương lai Cách hiểu này cung cấp cho ta cái nhìn bao quát, song lại rất khó khi sử dụng nó để giải thích những vấn đề pháp luật cụ thể, vì nó quá rộng và do vậy ít được mọi người chấp nhận Phạm vi của khái niệm pháp luật, được nhiều người chấp nhận hơn bao gồm những gì thuộc hệ thống pháp luật Có thể chỉ là pháp luật thực định (quy phạm pháp luật) hoặc có thể rộng hơn bao gồm pháp luật thùc định, hiện hành; những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng hơn, thể hiện bản chất, có tính định hướng cho cả tương lai tồn tại và phát triển của pháp luật lµ: nguyên tắc, mục đích, định hướng pháp luật; những vấn đề về chính sách pháp luật
Từ phân tích trên và xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu của Luận án, pháp luật có thể hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự, nguyên tắc, định hướng và mục đích pháp luật, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, phổ biến và điển hình để điều chỉnh, ở mức độ nhất định định hướng các quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
Về vai trò của pháp luật, tuy không phải là hoàn toàn mới mẻ, song quan
niệm về vấn đề này còn chưa thống nhất, do tính phức tạp của bản chất pháp luật cũng như trình độ, bình diện tiếp cận trong các công trình, bài viết nghiên cứu về pháp luật Các quan niệm này có nội dung phong phú, hình thức biểu hiện đa
Trang 31số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, xem xét sự tương tác giữa chúng Chẳng hạn, TS Nguyễn Minh Đoan nghiên cứu “Vai trò của pháp luật trong đời sống
xã hội” đã phân tích, làm rõ những biểu hiện cụ thể về vai trò của pháp luật trên các lĩnh vực, trong mối tương quan với các giá trị xã hội, như nhà nước, kinh tế, chính trị, dân chủ, tư tưởng, v.v pháp luật có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, song cũng không hoàn toàn là “chìa khoá vạn năng” bởi nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội, cơ chế điều chỉnh của pháp luật và do chính những thuộc tính bản chất của nó
Ở phương diện cụ thể hơn, vai trò của pháp luật được xem xét, nghiên cứu trong mối quan hệ với những lĩnh vực, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội Thông qua việc bảo đảm công bằng xã hội, giá trị xã hội cơ bản, tác giả Vũ Anh Tuấn cho rằng vai trò của pháp luật thể hiện bằng việc thể chế hoá và bảo đảm thực hiện đối với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, thông qua những hình thức, phạm vi, nội dung và thuộc tính của pháp luật[76] Về vai trò của pháp luật đối với phát triển kinh tế, trong điều kiện đặc thù của nước ta là sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, tác giả Đỗ Ngọc Thịnh khẳng định vai trò của pháp luật thể hiện trong việc điều chỉnh, củng cố và bảo vệ các quan hệ kinh tế mới, v.v [82] Trong các luận điểm của mình, nhìn chung ở cấp độ này, các tác giả đã ứng dụng các nguyên lý chung về vai trò của pháp luật vào từng nội dung, vấn đề cụ thể theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau, đồng thời làm rõ những đặc thù về vai trò của pháp luật trong các lĩnh vực nghiên cứu
Trang 3228
Qua phân tích trên, vai trò của pháp luật, xem xét từ phương diện hệ thống, là kết quả sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng và các yếu tố khác trong thượng tầng chính trị, pháp lý theo hai hướng tích cực và tiêu cực Các kết quả nghiên cứu đã làm rõ những biểu hiện về vai trò của pháp luật ở các trình độ khác nhau, phù hợp với từng phạm vi nghiên cứu Mặc
dù cùng với nhà nước giữ vị trí trung tâm trong sự tác động trở lại đối với cơ sở
hạ tầng, song cũng như các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng nói riêng và kiến trúc thượng tầng nói chung, sự tác động của pháp luật đến các quan hệ xã hội phụ thuộc vào những điều kiện nhất định và những yếu tố đặc thù như trình
độ, cơ chế điều chỉnh, ý thức pháp luật Với phương diện tiếp cận này, vai trò của pháp luật được nhìn nhận theo những nguyên lý chung thuộc phạm trù chính trị-pháp lý, song chưa thể hiện được những nguyên lý riêng, đặc thù của Luật học, cũng như khái quát một cách hệ thống tác dụng, hoạt động của các yếu tố riêng, đặc trưng pháp luật làm nên làm nên bản chất vai trò của nó
Theo Từ điển Tiếng Việt, “vai trò” có nghĩa là “tác dụng, chức năng trong
sự hoạt động, phát triển của cái gì đó” Theo ý nghĩa này, vai trò của pháp luật
có thể được hiểu là chức năng, tác dụng của pháp luật trong sự vận động của các quan hệ xã hội Có thể thấy, sự tác động của pháp luật đến sự vận động của
các quan hệ xã hội không đơn thuần mang tính ngẫu nhiên hay chỉ là biểu hiện (hiện tượng) đơn lẻ của các thuộc tính pháp luật, mà được thực hiện xuất phát từ những phương diện hoạt động chủ yếu, tương đối ổn định, phản ánh và bị quy định bởi bản chất của pháp luật, đó chính là các chức năng của pháp luật
Trong khoa học pháp lý, chức năng của pháp luật là nội dung còn có nhiều điểm chưa thống nhất Trong các giáo trình về lý luận nhà nước và pháp luật, người ta thường đề cập đến 3 chức năng chủ yếu của nó là điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục Ngoài ra, với các tên gọi khác nhau, trong các sách chuyên khảo, các chức năng khác của pháp luật được thừa nhận rộng rãi là phản ánh, quy định (gọi chung là xác lập cơ sở pháp lý) và định hướng Trong các chức năng này, theo tác giả, cũng như một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, chức năng bảo vệ là một nội dung thống nhất của chức năng điều chỉnh, với việc bảo đảm sự điều chỉnh của mình gắn với chế độ trách nhiệm pháp lý Trong xu thế toàn cầu hóa, phạm
vi chức năng của pháp luật được mở rộng, không chỉ trong nội dung của từng
Trang 33độ khỏc nhau của cỏc chức năng, tỏc dụng của phỏp luật trờn những lĩnh vực, vấn
đề nghiờn cứu Đõy là cơ sở lý luận bảo đảm cho việc tiếp cận vai trũ của phỏp luật từ cỏc chức năng của nú Cỏch tiếp cận này mở ra khả năng nhận thức vai trũ của phỏp luật xuất phỏt trực tiếp từ những đặc trưng bản chất, thể hiện quan điểm toàn diện về nhận thức phỏp luật trờn cỏc phương diện phỏp luật thực định (chức năng phản ỏnh, quy định), phỏp luật trong trạng thỏi động (chức năng điều chỉnh)
và ý thức phỏp luật (chức năng giỏo dục), v.v Cựng với tiếp cận hệ thống, cỏch tiếp cận này giỳp nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn về vai trũ của phỏp luật
1.2.1.2 Khái niệm vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững
Thực tiễn cho thấy, xã hội càng phát triển, pháp luật càng có vai trò quan trọng trong đời sống nhà nước và xã hội Đối với PTBV, pháp luật giữ vai trò chủ
đạo, tham gia vào tất cả các khâu, quá trình và giai đoạn thực hiện chính sách phát triển, bảo đảm hiện thực mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ cụ thể Vai trò của pháp luật đối với PTBV được tiếp cận từ các chức năng của nó có thể khái quát ở những nội dung cơ bản như sau:
a) Pháp luật là căn cứ cơ bản để nhà nước xây dựng chính sách phát triển,
đồng thời là công cụ thể chế hoá, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trên thực tế
Trong quá trình xây dựng chính sách phát triển (ở một chừng mực nhất
định), Nhà nước cần thiết phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, cả về nội dung và hình thức Điều này bảo đảm tính hợp pháp, khoa học, hợp lý
và phù hợp với thực tiễn của chính sách phát triển được ban hành Những cơ sở pháp lý chủ yếu được sử dụng trong quá trình này bao gồm:
- Các quy định về chức năng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, phê duyệt và ban hành chính sách Mỗi loại cơ quan có thẩm quyền và chức năng nhất định, các cơ quan chỉ có thể thực hiện các chức năng luật định theo nguyên tắc “Chỉ được làm những gì pháp luật cho phép” Việc xây dựng chính sách liên quan đến nhiều cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau
Trang 3430
Pháp luật là căn cứ bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, hợp lý và hiệu quả giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng chính sách Trong trường hợp chính sách được ban hành không đúng thẩm quyền, thì nó sẽ không có hiệu lực thi hành trên thực tế
- Các quy định về trình tự, thủ tục ban hành chính sách Các quy định này bảo đảm tính hợp lý, khoa học của các bước, hình thức thể hiện kết quả các bước trong quá trình xây dựng chính sách Dù được ban hành đúng chức năng, thẩm quyền song không tuân thủ các quy định về thủ tục thì chính sách đó về nguyên tắc cũng không có hiệu lực thi hành, hoặc có thể coi theo kiểu “vô hiệu tương
đối”, tức là nội dung của chính sách có thể thực hiện nếu được hoàn thiện lại về mặt thủ tục
- Các quy định luật nội dung trong từng lĩnh vực, bao gồm cả pháp luật quốc gia và quốc tế Pháp luật thực định phản ánh các mức độ khác nhau thực trạng phát triển của đất nước Với căn cứ này, sự phát triển kinh tế-xã hội và pháp luật là sự phát triển có tính kế thừa, ổn định, khắc phục các khoảng trống trong phát triển Đối với những quy định không phù hợp, lạc hậu, chệch hướng so với yêu cầu đặt ra, cần vạch ra lộ trình khắc phục, cải tạo thích hợp Xuất phát từ nội hàm PTBV, chính sách phát triển phải dựa vào kết quả đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực
Để đi vào cuộc sống, chính sách phát triển cần được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế Trong quá trình này, chính sách tiếp tục được hoàn thiện, hoặc phát hiện những bất hợp lý để điều chỉnh, bổ sung theo chu trình chính sách (policy cycle) Về cơ bản, xây dựng các quy định pháp luật là quá trình phân tích chính sách (policy analysis), với 6 bước chủ yếu: (1) Thẩm định, định nghĩa, cụ thể hoá vấn đề; (2) Xác lập tiêu chí đánh giá; (3) Xác định các phương án chính sách; (4) Đánh giá các phương án chính sách; (5) Lựa chọn phương án, phân biệt với các phương án khác; (6) Theo dõi quá trình thực thi chính sách Về mặt pháp lý, quá trình này biểu hiện ở hai nội dung chính:
- Thể chế hóa chính sách phát triển thành chiến lược, kế hoạch xây dựng pháp luật Quá trình này cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật, dự báo nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong từng giai đoạn Vai trò của pháp luật trong việc thể chế hóa chính sách tương tự như trong việc xây dựng chính sách phát triển, chỉ khác ở chỗ đối tượng ở đây là hệ thống pháp luật
Trang 3531
Đây là cơ sở bảo đảm cho sự PTBV hệ thống pháp luật và kinh tế - xã hội
- Thể chế hóa chính sách phát triển thành các mục đích, định hướng và các quy phạm pháp luật cụ thể theo chiến lược, kế hoạch xây dựng, hoàn thiện pháp luật ở đây hình thành hai nhóm chính: (1) nguyên tắc hành vi để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; (2) nguyên tắc hành vi để tổ chức, quản lý thực hiện chính sách phát triển khoa học và hợp lý Trong nhóm thứ nhất, các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội, nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, thông qua việc thực hiện pháp luật, cũng đồng thời thực hiện các mục đích chung do pháp luật đề ra Ví dụ: các chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh vì lợi ích của mình, song cùng với đó góp vào tăng trưởng kinh tế của xã hội Trong nhóm thứ hai, thường gắn với việc thực hiện vai trò của nhà nước: ban hành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý, theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm, v.v
b) Pháp luật là phương tiện để Nhà nước sử dụng điều chỉnh các quan hệ, quá trình xã hội bảo đảm phát triển bền vững
Điều chỉnh pháp luật là quá trình Nhà nước sử dụng pháp luật tác động lên hành vi của các chủ thể nhằm đạt mục tiêu đề ra Điều chỉnh pháp luật là quá trình gồm nhiều bước, được thực hiện thông qua các công cụ, phương tiện, theo các trình tự, thủ tục được pháp luật quy định, phụ thuộc vào các yếu tố: sự phù hợp của các quy phạm pháp luật, quy trình tổ chức thực hiện pháp luật, ý thức pháp luật của các chủ thể, v.v Xét về phương thức thực hiện hành vi pháp luật,
điều chỉnh pháp luật thể hiện ở ba trường hợp cụ thể sau:
- Điều chỉnh hành vi của từng chủ thể cá biệt Trong trường hợp này, chủ thể tham gia các quan hệ xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu của mình Với sự tuân thủ pháp luật, việc thực hiện các hành vi của các chủ thể đồng thời bảo đảm mục đích điều chỉnh của pháp luật Chẳng hạn, đối với quan hệ pháp luật tuyệt
đối (một bên là chủ thể có quyền, còn lại chủ thể có nghĩa vụ), việc thực hiện các quyền về sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) của chủ thể có quyền, cũng như việc thực hiện nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của các chủ thể còn lại theo quy
định của pháp luật đã bảo đảm mục đích điều chỉnh của pháp luật Đối với các quan hệ pháp luật tương đối (cả hai bên có một số lượng hạn chế chủ thể), việc tham gia quan hệ pháp luật của mỗi bên, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định, tức là bảo đảm mục đích điều chỉnh của pháp luật
Trang 3632
- Điều chỉnh sự phối hợp, điều hoà hoạt động của các chủ thể Thực ra xét
đến cùng nội dung này cũng là điều chỉnh hành vi của từng chủ thể, tuy nhiên nó
có một số đặc điểm riêng, cần phân biệt với sự điều chỉnh các hành vi thông thường Nếu trong trường hợp 1, điều chỉnh pháp luật hướng tới các quan hệ xã hội có tính độc lập tương đối so với quan hệ xã hội khác, còn trong trường hợp này, điều chỉnh pháp luật hướng tới các quá trình xã hội (các quan hệ xã hội có mối liên hệ mật thiết về chủ thể, trình tự thời gian, v.v ) liên quan đến hoạt động
tổ chức, quản lý, là phương thức hoạt động cơ bản của xã hội hiện đại
- Điều chỉnh các quan hệ chỉ tồn tại và phát triển trên cơ sở pháp luật, thể hiện tính sáng tạo của pháp luật Phổ biến nhất đó chính là địa vị pháp lý của chủ thể được pháp luật sáng tạo là pháp nhân và các hình thức của nó Đặc biệt đối với PTBV, điều chỉnh pháp luật còn nhằm hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tài chính, khắc phục những rủi ro xã hội, bảo đảm sự tham gia của các thành viên, v.v
ở phương diện hành vi, pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể theo nội dung phần quy định của quy phạm pháp luật, với các hình thức như: thực hiện theo các quy định của pháp luật (quy định bắt buộc), kiềm chế không thực hiện hành vi (quy định cấm), sử dụng các quy định hiện thực quyền của chủ thể (quy
định hướng dẫn, định hướng) Hiện nay, ngoài các quy định cấm, bắt buộc, tuỳ nghi, nội dung quy định của pháp luật xuất hiện các biến dạng, nhất là trong lĩnh vực pháp luật kinh tế, như tuỳ nghi hạn chế (kinh doanh có điều kiện đối với một
số lĩnh vực); tuỳ nghi khuyến khích (khuyến khích sử dụng các nguồn nguyên liệu tái chế) thông qua các cơ chế, biện pháp giáo dục, tuyên truyền Những biến dạng mở rộng khả năng, hiệu quả điều chỉnh pháp luật Với PTBV, pháp luật tác
động đến hành vi dưới hình thức là các khuôn mẫu xử sự, qua đó các chủ thể tuân thủ, chấp hành, hoặc áp dụng pháp luật trong quá trình sản xuất, tiêu dùng, tạo ra
sự biến đổi về hành vi bảo đảm mục tiêu phát triển Đó là việc tiến hành những hoạt động kinh tế hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, hạn chế việc sử dụng, cách tiêu dùng gây ô nhiễm
Mục tiêu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội về mặt khách quan theo hai hướng: tích cực và tiêu cực Về lý thuyết, điều chỉnh pháp luật tích cực (khuyến khích, tạo điều kiện, hỗ trợ, bảo vệ) được áp dụng đối các quan hệ xã hội phù hợp đối với sự phát triển của xã hội; điều chỉnh pháp luật tiêu cực
Trang 3733
(kiềm chế, cản trở, thủ tiêu) được áp dụng đối với các quan hệ lạc hậu so với sự phát triển của xã hội Trong thực tế, do pháp luật là sự thống nhất giữa yếu tố khách quan (sự phản ánh các nhu cầu điều chỉnh pháp luật) với yếu tố chủ quan (ý chí giai cấp thống trị) nên trong thực tế không phải bất cứ đâu, bất cứ nơi nào pháp luật cũng điều chỉnh thuần nhất theo các hướng nêu trên, thông thường ở các mức độ phổ biến khác nhau, đan xen của hai khuynh hướng này Đối với PTBV, vai trò điều chỉnh pháp luật thể hiện là quá trình hiện thực các mục tiêu phát triển, khắc phục những vấn đề phức tạp nảy sinh trong thực tiễn Cụ thể, đối với những quan hệ xã hội có nguy cơ làm ảnh hưởng đến sự PTBV, pháp luật kiềm chế, ngăn cản (hành vi huỷ hoại trường), hoặc từng bước cải tạo cho phù hợp với quá trình phát triển (từng bước giảm mức phát thải, thông qua việc tăng giá trị các tiêu chuẩn của môi trường) Đối với các quan hệ xã hội thúc đẩy PTBV, pháp luật tạo cơ chế pháp lý, điều kiện để các quan hệ này phát triển (sự lồng ghép yếu tố môi trường vào phát triển kinh tế-xã hội) Đặc biệt, như đã trình bày ở phần trên, pháp luật có khả năng sáng tạo ra các thiết chế, quá trình và quan hệ xã hội, hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển, tiêu biểu là những quan hệ về quản
lý, những quan hệ chỉ tồn tại khi có quy phạm pháp luật (quan hệ về bảo hiểm, chứng khoán, công ty) Đồng thời tạo điều kiện nhất định để các quan hệ tương lai phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển
c) Pháp luật dự báo, định hướng sự vận động của các quan hệ xã hội trong quá trình phát triển
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, về nguyên tắc pháp luật không
được thấp hơn hay cao hơn một cách chủ quan, duy ý chí so với trình độ phát triển xã hội Bởi trong trường hợp đó, pháp luật sẽ có nguy cơ gây nên tình trạng rối loạn hệ thống kinh tế-xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa pháp luật là “cái phản ánh” luôn đi sau, và nhanh chóng lỗi thời, lạc hậu so với “cái được phản ánh” là thực tiễn đời sống xã hội Do pháp luật là hình thái ý thức xã hội, nên có sự độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng Một trong những hình thức tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng
đó là vai trò định hướng, dự báo của pháp luật trên cơ sở của khoa học dự báo
Về lý luận, pháp luật không chỉ phản ánh những quan hệ hiện tại, mà còn phản ánh những quan hệ tương lai, thể hiện ở việc phản ánh kết cấu cơ sở hạ tầng (quan hệ hiện tại, quan hệ quá khứ, quan hệ tương lai) Mặt khác, đời sống xã hội
Trang 3834
tuy sống động, thực tiễn diễn ra thường xuyên, nhưng về căn bản luôn vận động
và phát triển theo những quy luật nhất định mà con người có thể nhận thức được Dựa vào kết quả nghiên cứu và dự báo khoa học, người ta có thể dự liệu được những biến đổi diễn ra với những tình huống (sự kiện) cụ thể, điển hình cần tới sự
điều chỉnh pháp luật, từ đó pháp luật được đặt ra, tạo cơ sở cho việc xác lập những quan hệ mới; đồng thời thiết kế những mô hình, tổ chức tương ứng, chủ
động và kịp thời tác động thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội
Pháp luật có tính ổn định tương đối Chính sự ổn định của pháp luật đã nội hàm khả năng dự báo, bao quát trong mình những tiềm năng tương lai của sự phát triển Trong thực tiễn, sự hình thành mới hoặc những thay đổi thường diễn ra với từng bộ phận nhất định của hệ thống pháp luật, ít có những đột biến toàn phần trong một thời gian ngắn Tính định hướng của pháp luật cũng theo quy luật
đó Tuy nhiên, các quy phạm định hướng chỉ là một bộ phận nhất định trong hệ thống pháp luật Sự kết hợp, hài hoà giữa tính cụ thể, tính thời sự của pháp luật với tính định hướng của nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của pháp luật tạo cho pháp luật sự ổn định và phát triển, kế thừa và đổi mới, làm cho pháp luật luôn năng động, thích ứng và tiến bộ
Trong thực tiễn, các quy định thể hiện sự dự báo, định hướng là bộ phận ngày càng quan trọng và được quan tâm hơn, nhằm bảo đảm cho sự phát triển ổn
định của từng chế định, ngành luật, qua đó bảo đảm sự phát triển ổn định của các quan hệ xã hội trong từng giai đoạn Trong đó, quan trọng nhất là các định hướng pháp luật, được quy định trong Hiến pháp và được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật thể, chẳng hạn: Định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường (Điều 15, Hiến pháp 1992 sửa đổi), định hướng phát triển giáo dục (Điều 35), v.v
PTBV là sự phát triển bảo đảm kết hợp hợp lý, hài hoà giữa các mục tiêu,
là một tầm nhìn với những kế hoạch và lộ trình thực hiện chặt chẽ, giữa các giai
đoạn phát triển có mối liên hệ mật thiết Do vậy, vai trò dự báo, định hướng của pháp luật không chỉ bó hẹp trong từng lĩnh vực cụ thể, mà còn thể hiện mối quan
hệ, sự phối hợp đồng bộ trong các lĩnh vực, phù hợp với kế hoạch phát triển ở từng giai đoạn Ngoài ra, việc phát huy vai trò này trong từng lĩnh vực pháp luật
có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm sự phát triển liên tục, ổn định của các quan hệ xã hội và pháp luật trên các lĩnh vực đó
Trang 39Thứ nhất, pháp luật là căn cứ để giải quyết những vấn đề, tình huống xấu
phát sinh, duy trì sự phát triển ổn định của xã hội Trong thực tế, những vấn đề,
tình huống này xảy ra với mức độ, phạm vi tác động rất đa dạng Tuỳ theo tính chất, mức độ của từng loại vấn đề, pháp luật dự liệu các biện pháp phòng ngừa, khắc phục và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết ở các mức độ khác nhau
- Đối với những vấn đề có thể lường trước được (như sự phân hoá giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp), những tình huống xấu với mức độ tương đối phổ biến có tác động cục bộ trong từng lĩnh vực (như sự trồi, sụt mạnh của thị trường khoán), pháp luật đóng vai trò “van an toàn”, dự liệu cụ thể cách thức, biện pháp giải quyết (Ví dụ, để hạn chế việc phân hoá giàu nghèo, pháp luật có các quy
định về thuế thu nhập và bảo trợ xã hội; hay đối với thị trường chứng khoán là
điều kiện để thu hẹp, mở rộng biên độ giá giao dịch, v.v )
- Đối với các tình huống có yếu tố bất ngờ, ít phổ biến, mức độ phức tạp tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể, tác động đến nhiều mặt đời sống xã hội (như khủng hoảng kinh tế, sự cố môi trường, thiên tai, dịch bệnh lớn, v.v ), pháp luật không dự liệu các biện pháp toàn diện, cụ thể, mà chủ yếu xác định các nguyên tắc chung để giải quyết các tình huống này
Thứ hai, đó là việc pháp luật dự liệu hình thức và cách thức, hình thành cơ
chế đặc thù giải quyết các tranh chấp phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể, duy trì trật tự pháp lý, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của xã hội Cơ chế này bao gồm các thiết chế, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, hợp thành bộ phận pháp luật hình thức (tố tụng), có mối liên hệ chặt chẽ với luật vật chất (quy định về quyền
Trang 4036
và nghĩa vụ của chủ thể) Cùng với sự phát triển của luật nội dung, xuất hiện những loại tranh chấp mới, đòi hỏi phải bổ sung những quy định về luật hình thức mới cho phù hợp Chẳng hạn, trong thời kỳ đổi mới, có nhiều hình thức giải quyết tranh chấp mới được pháp luật ghi nhận, như: đình công, phá sản doanh nghiệp
Tuỳ thuộc vào tính chất của từng loại quan hệ cụ thể, pháp luật xác lập phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan nhà nước, toà án, trọng tài phi chính phủ Thủ tục giải quyết, xử lý tranh chấp về cơ bản được bắt đầu bằng hành vi khởi kiện của chủ thể khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm hại;
và kết thúc bằng việc thi hành các quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền Trong thực tế, do nhiều nguyên nhân, việc giải quyết tranh chấp, nhất là trong lĩnh vực dân sự còn kéo dài, chưa kịp thời khắc phục những hậu quả của các vấn đề phát sinh, ảnh hưởng đến hiệu quả của pháp luật
Thứ ba, pháp luật dự liệu các hành vi vi phạm trên các lĩnh vực PTBV và
các hình thức xử lý vi phạm với chế tài tương ứng Do nhiều nguyên nhân, nên
không phải lúc nào pháp luật cũng được tất cả các thành viên xã hội tự giác chấp hành Để bảo đảm tính nghiêm minh, pháp luật đã dự liệu các hành vi vi phạm phải xử lý và các chế tài tương ứng với tính chất và mức độ hành vi vi phạm, và
có thể chia thành hai trường hợp sau:
- Chủ thể vi phạm các quy định về quản lý hành chính, hình sự, phát sinh quan hệ giữa nhà nước và chủ thể vi phạm Trong trường hợp này, chủ thể luôn phải chịu các hình thức chế tài tương ứng
- Đối với việc vi phạm các quy định về pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) thì trước hết các chủ thể chịu trách nhiệm với nhau, vấn đề xử lý vi phạm chỉ
được đặt ra khi bên vi phạm cố tình không thực hiện nghĩa vụ theo luật Khi đó, phát sinh mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án và chủ thể có nghĩa vụ, đây là cơ
sở của quan hệ pháp luật hành chính
Các hình thức vi phạm đã được pháp luật dự liệu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Tuỳ theo tính chất, mức độ mà các chủ thể có hành
vi vi phạm bị xử lý hành chính, hay hình sự Đối với mỗi hình thức xử lý, pháp luật xác định những trình tự, thủ tục cần thiết phải tuân theo để áp dụng chế tài
đối với chủ thể vi phạm Pháp luật là “mệnh lệnh đe doạ phải thực hiện” có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa, khắc phục những vi phạm pháp luật, bảo đảm