Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý hết sức quan trọng và có tính nhân đạo sâu sắc, đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Pháp luật Việt Nam nhận thức được điều đó nên luôn có những sự quan tâm cần thiết đến vấn đề nuôi con nuôi. Vì vậy hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ các bên chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi, xác định quyền và nghĩa vụ giúp các bên thỏa thuận với nhau, cùng nhau tuân thủ và thực hiện, tránh những tranh chấp có thể xảy ra, tạo ra quy tắc xử sự giữa các chủ thể, nâng cao trách nhiệm của cha mẹ, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của trẻ em, tạo hành lang pháp lý để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
Trang 1MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
4
1 Con nuôi, nuôi con nuôi: 4
a, Con nuôi: khoản 3 điều 3 Luật nuôi con nuôi 2012 quy định: “ Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.” 4
a, Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: 4
1 Quan hệ giữa người nuôi và người được nhận nuôi
7
a Quyền thay đổi một số nội dung trong giấy khai sinh của con 8
b Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng của cha mẹ nuôi với con nuôi 9
c Quyền thừa kế tài sản giữa cha mẹ nuôi với con nuôi 13
2 Quan hệ giữa người được nhận nuôi với những thành viên khác
14
3 Quạn hệ giữa người được nhận nuôi với gia đình cha mẹ đẻ.
14
Trang 2a Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con
đã cho làm con nuôi 14
b Quyền thừa kế trong gia đình cha mẹ đẻ 14
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi con nuôi là một là một vấn đề mang tính nhân đạo, nó đóng vai trò quan trọng khi giải quyết những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Cùng với sự phát triển của xã hội hiện nay thì chất lượng cuộc sống của mọi người cũng tăng lên nhưng tỷ lệ vô sinh và gia đình hiếm muộn con cũng tăng đáng kể Bên cạnh đó, nhu cầu nhận nuôi con nuôi của những người chưa kết hôn đang phát triển khá mạnh mẽ Chính vì lẽ đó, nhu cầu cần con nuôi cũng nhiều hơn trước Việc thực hiện và thi hành được quy định theo pháp luật nuôi con nuôi tại Viêt Nam đã giúp cho nhiều trẻ em mồ côi, cơ nhỡ có được mái ấm gia đình mới, có được sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt hơn trong môi trường gia đình thật sự, cảm nhận được sự yêu thương của những người thương yêu mình và có thể trở thành một người có ích cho
xã hội sau này Mặt khác việc nhận nuôi con nuôi cũng giúp cho những cặp
vợ chồng hiếm muộn, những người độc thân thực hiện được khao khát trở thành cha mẹ và có một mái ấm gia đình thật trọn vẹn
Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý hết sức quan trọng và có tính nhân đạo sâu sắc, đang được xã hội đặc biệt quan tâm Pháp luật Việt Nam nhận thức được điều đó nên luôn có những sự quan tâm cần thiết đến vấn đề nuôi con nuôi Vì vậy hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ các bên chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi, xác định quyền và nghĩa vụ giúp các bên thỏa thuận với nhau, cùng nhau tuân thủ và thực hiện, tránh những tranh chấp có thể xảy ra, tạo ra quy tắc xử sự giữa các chủ thể, nâng cao trách nhiệm của cha
mẹ, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của trẻ em, tạo hành lang pháp lý để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Do đó
em xin chọn đề tài phân tích và đánh giá về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
Trang 4GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I KHÁI NIỆM CHUNG:
1 Con nuôi, nuôi con nuôi:
a, Con nuôi: khoản 3 điều 3 Luật nuôi con nuôi 2012 quy định: “ Con
nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.”
Dưới góc độ pháp lý, con nuôi là người có đủ điều kiện do pháp luật quy định được một hoặc hai người là vợ, chồng công nhận làm con qua những
thủ tục pháp lý nhất định mà trước hết giữa hai bên không có quan hệ huyết thống trực hệ, không sinh thành ra nhau và không phải là anh em ruột của nhau
b, Nuôi con nuôi: khoản 1 điều 3 Luật nuôi con nuôi 2012 quy định:
“ Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.”
Việc nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý phức tạp, nó thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ, bản thân người được nhận nuôi và cả nhà nước:
2, Điều kiện người nhận nuôi con nuôi:
a, Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
• Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên (người từ đủ mười tám tuổi trở lên) và không phải là người bị Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, 23, 24 BLDS 2015
Trang 5• Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên: đây là điều kiện về độ tuổi của người nhận con nuôi Tuy không quy định về độ tuổi tối thiểu để có thể nhận nuôi con nuôi nhưng pháp luật Việt Nam lại quy định sự chênh lệch tối thiểu về
độ tuổi giữa người được nhận nuôi và người nhận nuôi Có thể nói sự chênh lệch về độ tuổi này sẽ đảm bảo được người nhận con nuôi sẽ đủ năng lực hành vi dân sự cũng như hoàn thiện về tâm sinh lý và đảm bảo đủ về khả năng tài chính để có thể nuôi một đứa trẻ có điều kiện sống tốt Ngoài ra, còn đảm bảo được truyền thống gia đình, giúp cho cả cha mẹ nuôi và con nuôi có cách cư xử đúng mực với nhau
• Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi: Về điều kiện về sức khỏe của người nhận nuôi phải tốt, không được mắc bệnh hiểm nghèo vì nếu cha mẹ nuôi không có được sức khỏe tốt thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái cũng sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều Ngoài ra người nhận nuôi còn phải có đủ điều kiện kinh tế, tài chính và phải chứng minh được có tài sản, có thu nhập để đảm bảo cho trẻ một môi trường sống ổn định Cùng đó thì người nhận con nuôi cũng phải dành ra quỹ thời gian để quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, chơi đùa cũng trẻ Nhiều cha mẹ nuôi tuy đầy đủ điều kiện về mặt sức khỏe, tài chính nhưng lại không thể đủ thời gian dành cho con nuôi thì vẫn có thể sẽ không được xem
là đủ điều kiện này
• Có tư cách đạo đức tốt: Cha mẹ là tấm gương phản chiếu lại tính cách, nhân cách của mỗi đứa trẻ Nếu như cha mẹ không có tư cách đạo đức tốt thì đứa trẻ sau này cũng không thể tốt Đồng thời với quy định này hạn chế việc lợi dụng trẻ vào những mục đích không tốt Vì vậy, đây là một yếu tố cần thiết đảm bảo cho con nuôi được sống trong môi trường gia đình lành mạnh Tuy nhiên trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về độ tuổi, điều kiện về sức khỏe, kinh
tế, chỗ ở Ngoài những điều kiện nêu trên, những người sau đây không được nhận con nuôi:
Trang 6• Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cụ thể như trường hợp cha mẹ bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành
vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản của con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
• Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ
sở chữa bệnh như trại cai nghiện, trại cải tạo, cơ sở phục hồi nhân phẩm…
• Đang chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo
• Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành
hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ
dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em
b, Điều kiện người được nhận nuôi con nuôi:
Luật Nuôi con nuôi đã quy định tại Điều 8 về điều kiện của người được nhận làm con nuôi như sau:
•Trẻ em dưới 16 tuổi sẽ được nhận làm con nuôi
•Người từ đủ 16 tuổi tới dưới 18 tuổi nếu thuộc 1 trong những trường hợp sau đây sẽ được nhận làm con nuôi:
- Ngưởi được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi
- Người được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi
• Một người chỉ được nhận làm con nuôi của 1 người độc thân hay của cả
2 người là vợ chồng
•Nhà nước khuyến khích việc nhận những trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có những hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi
Xét về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi :
• Trẻ em dưới 16 tuổi: Vì theo Điều 21 BLDS 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi và người từ đủ sáu tuổi đến chưa
đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh
Trang 7hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Ở lứa tuổi chưa thành niên trẻ chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa thể độc lập khi tham gia vào các giao dịch dân sự nếu không có sự đồng ý của người giám hộ Cho nên pháp luật Việt Nam quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là trẻ dưới
16 tuổi
• Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi thì vẫn được nhận làm con nuôi Vì khi từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, nhưng khi thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý Những giao dịch đó là giao dịch lớn và trẻ vẫn chưa
đủ chín chắn trong nhận thức để quyết định nên cần có người giám hộ đồng
ý và chỉ những người được xem là thân thích nhất với trẻ mới được nhận trẻ làm con nuôi trong trường hợp này để tránh một phần nào đó việc lợi dụng trẻ cho những mục đích không tốt của người nhận nuôi trẻ
II HỆ QUẢ PHÁP LÝ
Khi việc nuôi con nuôi được đăng ký thì người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi đã phát sinh quan hệ pháp luật Do vậy, kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi như: giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu, giữa anh chị
em trong nhà, giữa cô, dì, chú, bác với cháu cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau
1 Quan hệ giữa người nuôi và người được nhận nuôi
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 Luật HNGĐ 2014 thì: “1.Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Luật này, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.”…
Trang 8Theo Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “1.Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật khác có liên quan.”…
Theo đó, kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ với nhau theo quy định của pháp luật
a Quyền thay đổi một số nội dung trong giấy khai sinh của con
Theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 24 Luật NCN quy định:
“2.Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng
ý của người đó
3.Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc củ cha nuôi, mẹ nuôi.”
Họ, tên, dân tộc của con nuôi Trên nguyên tắc, việc nuôi con nuôi không đương nhiên có tác dụng thay đổi họ của con nuôi theo họ của người nuôi Cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (tức UBND) quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi Tuy nhiên, nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì việc thay đổi họ, tên phải được sự đồng ý của người đó Việc thay đổi họ, tên của con nuôi mất năng lực hành vi chỉ cần có
sự đồng ý và yêu cầu của cha, mẹ nuôi Đối với trẻ em được nhận nuôi là trẻ
em bị bỏ rơi thì dân tộc được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi
Trang 9b Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng của cha
mẹ nuôi với con nuôi.
*Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi:
- Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm
ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt, thương yêu con, tôn trọng
ý kiến của con để con trở thành người con hiếu thảo của gia đình Đồng thời cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập, phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội của con giúp con trở thành công dân có ích cho xã hội Ngoài ra cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được theo quy định tại Điều 72 Luật HNGĐ 2014
- Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định tại Khoản 2 Điều 69
và Khoản 1 Điều 71 Luật HNGĐ 2014
- Cha mẹ là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật Vì cha mẹ là người giám hộ cho con nên cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên
Trang 10mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ và cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con trong những trường hợp trên theo quy định tại Điều 73 Luật HNGĐ 2014
- Cha mẹ không được phân biệt đối xử với con về giới tính hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; nghiêm cấm tình trạng lạm dụng quyền làm cha mẹ của mình để bắt bán sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội theo quy định tại Khoản 4 Điều 69 Luật HNGĐ 2014
* Quyền và nghĩa vụ của con nuôi:
- Con có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức
- Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng đối với cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình
- Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ
- Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc
- Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi
và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
-Quyền có tài sản riêng của con được quy định tại Điều 75 Luật HNGĐ 2014: Dựa trên quy định pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu tài sản thì