Trong nền kinh tế hàng hoá tiền là phương tiện thanh toán chủ yếu trong tất cả các mối quan hệ kinh tế, nền kinh tế hàng hoá càng phát triển bao nhiêu thì tốc độ quay vòng của đồng tiền càng nhanh bấy nhiêu, lúc này bản thân mỗi chủ thể kinh tế không thể tự đáp ứng được nhu cầu về vốn của mình mà họ phải dựa vào các chủ thể kinh tế khác đặc biệt là các tổ chức tín dụng thông qua quan hệ tín dụng mới có thể đáp ứng được nhu cầu vốn của mình. Tuy nhiên các tổ chức tín dụng cũng không để đáp ứng hoàn toàn nhu cầu tín dụng của tất cả các khách hàng của mình chỉ dựa trên vốn của bản thân, khi đó các tổ chức tín dụng sẽ phải tiến hành huy động vốn để thực hiện cấp tín dụng. Không chỉ liên quan đến nhu cầu vốn, mối quan hệ giữa huy động vốn và cấp tín dụng của tổ chức tín dụng còn liên quan đến nhiều khía cạnh khác như lãi suất, vòng quay tiền… Do đó mối quan hệ giữa hai hoạt động này cần được làm rõ để có cái nhìn chân thực nhất về hoạt động cơ bản của định chế tài chính này.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A.ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I.KHÁI NIỆM CHUNG 3
1, Khái niệm tổ chức tín dụng: Tổ chức tín dụng (TCTD) là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010) 3
2 Đặc điểm của tổ chức tín dụng: 3
3 Phân loại tổ chức tín dụng: 4
II.CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 5
3 Hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ 7
4 Các hoạt động khác của tổ chức tín dụng 8
III HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA TCTD 8
Cho vay Khi nói đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, người ta thường nghĩ tới cho vay và đôi khi đồng nhất thuật ngữ “cho vay” với thuật ngữ “tín dụng” Thực ra khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng Như đã đề cập ở trên, tín dụng có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức mà cho vay chỉ là một trong các hình thức cấp tín dụng mà thôi Theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng thì khái niệm cho vay được hiểu là: 11
IV.MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CẤP TÍN DỤNG 13
V THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CẤP TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 17
C KẾT LUẬN 20
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế hàng hoá tiền là phương tiện thanh toán chủ yếu trong tất
cả các mối quan hệ kinh tế, nền kinh tế hàng hoá càng phát triển bao nhiêu thì tốc độ quay vòng của đồng tiền càng nhanh bấy nhiêu, lúc này bản thân mỗi chủ thể kinh tế không thể tự đáp ứng được nhu cầu về vốn của mình mà họ phải dựa vào các chủ thể kinh tế khác đặc biệt là các tổ chức tín dụng thông qua quan hệ tín dụng mới có thể đáp ứng được nhu cầu vốn của mình Tuy nhiên các tổ chức tín dụng cũng không để đáp ứng hoàn toàn nhu cầu tín dụng của tất cả các khách hàng của mình chỉ dựa trên vốn của bản thân, khi đó các tổ chức tín dụng
sẽ phải tiến hành huy động vốn để thực hiện cấp tín dụng Không chỉ liên quan đến nhu cầu vốn, mối quan hệ giữa huy động vốn và cấp tín dụng của tổ chức tín dụng còn liên quan đến nhiều khía cạnh khác như lãi suất, vòng quay tiền…
Do đó mối quan hệ giữa hai hoạt động này cần được làm rõ để có cái nhìn chân thực nhất về hoạt động cơ bản của định chế tài chính này
Trang 3B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I KHÁI NIỆM CHUNG
1, Khái niệm tổ chức tín dụng: Tổ chức tín dụng (TCTD) là doanh nghiệp
thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010)
2 Đặc điểm của tổ chức tín dụng:
Thứ nhất, với tính chất là một tổ chức thực hiện chức năng tìm kiếm lợi nhuận, TCTD được coi là một loại hình doanh nghiệp: Một là, TCTD là một tổ chức kinh tế hoạt động với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Hai là, các tổ chức tín dụng cũng có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định để thực hiện hoạt động ngân hàng Ba là, tổ chức tín dụng là một chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh và hoạch toán kinh tế độc lập với các chủ thể khác và chính các chủ thể sáng lập ra nó
Thứ hai, là một loại hình doanh nghiệp đặc thù, các tổ chức tín dụng còn thể hiện những dấu hiệu pháp lý riêng biệt Cụ thể như sau: Một là, các tổ chức tín dụng có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng Hai là, người quản trị và điều hành các tổ chức tín dụng phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
Thứ ba, các tổ chức tín dụng chịu sự giám sát, quản lý trực tiếp của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Ngân hàng nhà nước Việt Nam là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là
Trang 4ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của tổ chức tín dụng, ngân hàng làm dịch
vụ tiền tệ cho Chính phủ
Đối tượng kinh doanh của các tổ chức tín dụng : các tổ chức tín dụng hoạt động chủ yếu liên quan đến đối tượng là tiền tệ Hoạt động kinh doanh đặc thù của tổ chức tín dụng: tổ chức tín dụng có hoạt động kinh doanh đặc thù và chủ yếu đó là việc huy động vốn và sử dụng vốn sẵn có hoặc nguồn vốn huy động được
Thứ tư, tính rủi ro: nguy cơ mất vốn có thể gây ra rủi ro cho toàn hệ thống tín dụng Rủi ro trong hoạt động tín dụng được hiểu là những không may bất ngờ xảy đến, là sự kiện không may, trở ngại bất ngờ xảy ra gây nên thiệt hại trực tiếp tới hoạt động của các tổ chức tín dụng
3 Phân loại tổ chức tín dụng:
Căn cứ vào phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức tín dụng được phân chia làm hai loại: tổ chức tín dụng là ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng Trong đó:
- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
+ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận
Trang 5+ Ngân hàng chính sách là ngân hàng do Chính phủ thành lập, hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
+ Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân
do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
+ Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động
chính là cho thuê tài chính theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện
một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ
+ Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và
hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống
II CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.Họat động huy động vốn
Trang 6–Huy động vốn bằng nhận tiền gửi: Tiền gửi là số tiền khách hàng gửi tại tổ
chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi
và phải hoàn trả cho người gửi tiền
–Huy động vốn bằng cách phát hành các giấy tờ có giá: Các giấy tờ có giá
do tổ chức tín dụng phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng thư tiền gửi, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thời gian nhất định
–Huy động vốn bằng cách vay vốn giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường nội tệ liên ngân hàng Trong quá trình hoạt động của mình các tổ chức tín dụng
có lúc gặp khó khăn tạm thời về vốn để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán cho khách hàng, hoặc khách hàng rút tiền mặt
-Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam : Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng dưới hình thức tái cấp vốn cho các TCTD là ngân hàng thương mại
2 Hoạt động cấp tín dụng:
Theo quy định, cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các nghiệp vụ khác
-Cho vay là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng của Tổ chức tín dụng thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng tín dụng
-Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá là hình thức cấp tín dụng thông qua việc mua thương phiếu các giấy tờ có giá này của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán
Trang 7-Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng thông qua hoạt động thuê mua tài chính giữa bên cho thuê tài chính là các tổ chức tín dụng (hoặc công ty cho thuê tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng là ngân hàng) với bên thuê là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tài sản cố định
-Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng trên cơ sở tổ chức tín dụng đứng ra bảo lãnh cho bên được bảo lãnh theo quy định pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
-Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng đối với những chủ thể có tài khoản tại tổ chức tín dụng và có nhu cầu được tổ chức tín dụng bảo lãnh thanh toán trong các giao dịch thương mại
3 Hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ
Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán là nghiệp vụ chỉ riêng của
Tổ chức tín dụng là ngân hàng Tổ chức tín dụng là ngân hàng có quyền mở tài khoản tiền gửi (dùng để thanh toán) cho khách hàng trong và ngoài nước để thực hiện các dịch vụ thanh toán Trên cơ sờ tài khoản của khách hàng được mở tại tổ chức tín dụng, ngân hàng tiến hành các dịch vụ thanh toán bao gồm: – Cung ứng các phương tiện thanh toán cho khách hàng (thẻ tín dụng, séc,
– Tham gia hệ thống thanh toán trong nước, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng (chuyển khoản, thanh toán séc…)
– Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế và thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng nhà nước cho phép (thư tín dụng…)
– Thực hiện các dịch vụ thu hộ chi hộ
– Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ
Trang 8– Tổ chức tín dụng là ngân hàng có quyền thực hiện các hoạt động ngân quỹ bao gồm những hoạt động liên quan đến thu, phát tiền mặt cho khách hàng
4 Các hoạt động khác của tổ chức tín dụng
-Góp vốn mua cổ phần: Tổ chức tín dụng được góp vốn mua cổ phần cuả doanh nghiệp và các Tổ chức tín dụng khác theo từ vốn điều lệ và quĩ dự trữ cuả Tổ chức tín dụng
– Tham gia thị trường tiền tệ: Tổ chức tín dụng tham gia vào các giao dịch trên thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức bao gồm: Thị trường nội tệ, ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, thị trường giấy tờ có giá khác
-Kinh doanh ngoại hối, vàng khi được ngân hàng nhà nước cho phép
-Kinh doanh bảo hiểm (thành lập công ty độc lập) và cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
-Tổ chức tín dụng có quyền thực hiện các nghiệp vụ ủy thác, đại lý, tư vấn, bảo quản các hiện vật quí, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két…
III HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA TCTD
1 Hoạt động huy động vốn: Theo quy đinh của pháp luật, tiền gửi là khoản
tiền mà tổ chức, cá nhân gửi vào gửi vào tổ chức tín dụng với nhiều mục đích khác nhau Đối với loại hình tiền gửi không kỳ hạn, người gửi tiền có thể nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc nhận lãi từ tổ chức tín dụng hoặc phục vụ muc đích than toán tiền hàng hóa, dịch vụ Khi lựa chọn hình thức này, người
Trang 9gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng với lãi suất rất thấp hoặc có thể không có lãi
Tiền gửi có kỳ hạn là loại hình tiền gửi có thời hạn cố định và người gửi tiền chỉ được phép rút khi đến hạn Loại hình này sẽ là lựa chọn hoàn hảo nếu người gửi có vốn nhàn rỗi ổn định Trường hợp người gửi tiền muốn rút tiền trước hạn thì phải được tổ chức tín dụng đồng ý và phải chấp nhận mức lãi suất thấp hơn mức đã thỏa thuận
Tiền gửi tiết kiệm là lại hình tiền gửi của cá nhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm Đối với loại hình này, người gửi chỉ đạt được mục đích đầu tư kiếm lãi chứ không được yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ Tiền gửi tiết kiệm được xác nhận bằng sổ tiền gửi tiết kiệm nên người gửi tiền được sử dụng sổ này như một loại giấy tờ có giá để đảm bảo cho các giao dịch dân sự khác Tiền gửi tiết kiệ gồm: tiền gưi tiết kiệm
có kỳ hạn và không kỳ hạn
Với hình thức huy động vốn khá phổ biến này, pháp luật quy định cụ thể đối với các tổ chức tín dụng như sau:
• Ngân hàng thương mại và chi nhán ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam : không hạn chế về loại hình và chủ thể mà tổ chức này tiến hành huy động
• Công ty tài chính và cho thuê tài chính: chỉ được nhận tiền gửi của tổ chức
• Ngân hàng hợp tác xã: chỉ được nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam của các thành viên, nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân không là thành viên theo quy định của Ngân hàng nhà nước
• Tổ chức tài chính vi mô: Chỉ được nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam
Trang 10Thứ hai, huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tìn dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghãi vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết.giữa tổ chức tín dụng và người mua Các loại giấy tờ có giá gồm dài hạn, trung hạn và ngắn hạn như tín phiếu, trái phiếu
Thứ ba, huy động vốn bằng cách vay vốn của tổ chức tín dụng khác.
Các tổ chức tín dụng được phép vay vốn của nhau, chủ yếu được thực hiện trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng hoặc cũng có thể vay của tổ chức tín dụng nước ngoài nhưng phải tuân thủ các quy định về ngoại hối và vay nợ nước ngoài
Thứ tư, vay vốn của Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng nhà nước có thể cho vay dưới hình thức tái cấp vốn gồm:
• Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá
• Chiết khấu
• Các hình thức taí cấp vốn khác
2 Hoạt động cấp tín dụng
Trang 11Cho vay Khi nói đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại,
người ta thường nghĩ tới cho vay và đôi khi đồng nhất thuật ngữ “cho vay” với thuật ngữ “tín dụng” Thực ra khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng Như đã đề cập ở trên, tín dụng có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức mà cho vay chỉ là một trong các hình thức cấp tín dụng mà thôi Theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng thì khái niệm cho vay được hiểu là:
Cho vay là một hình thúc cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi
Chiết khấu được xem như một hình thức cấp tín dụng gián tiếp, thực chất
chiết khấu là việc ngân hàng tái tài trợ cho một quan hệ tín dụng đã hình thành trước đó, mà trong quan hệ tín dụng này, người đề nghị chiết khấu là chủ nợ, đã tài trợ vốn thông qua việc bán hàng hoá (nếu giấy nợ là thương phiếu) hoặc cho vay tiền, gửi tiền (nếu giấy nợ là các loại giấy tờ có giá khác) Như vậy, trong chiết khấu, ngân hàng chuyển tiền/ giải ngân cho một người (người chiết khấu)
và thu nợ từ một người khác (người phải thanh toán khi đáo hạn) Theo quy định của pháp luật về chuyển nhượng các quyền đòi nợ thì người chuyển nhượng khoản nợ phải thu (ở đây là người chiết khấu) phải có trách nhiệm trong việc thanh toán nếu khoản nợ không được trả khi đáo hạn Chính quy định pháp lý này làm giảm rủi ro cho ngân hàng trong chiết khấu Bởi lẽ ngân hàng
có thể truy đòi theo quy định của luật pháp nếu người mắc nợ không trả được, nói rõ hơn, chiết khấu là hình thức mua bán nợ có truy đòi và đây là lý do để đảm bảo khả năng thanh toán cho khoán nợ trong chiết khấu
Bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng
được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng/ tổ chức tín