- Cuộc sống là một đường thẳng tuyến tính mà ở đó luôn có những câu hỏi về sự mất; khen - chê; nhận thức được hay không về mình trong cuộc đời.. trích nguyên văn ý kiến Giải thích nhận
Trang 1Ở bài tiểu luận Sự đồng cảm trong phê bình thơ, nhà thơ Thanh Thảo lại viết:
“Thơ là chữ nghĩa mà cũng không là chữ nghĩa Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ”.
(Ngón thứ sáu của bàn tay, NXB Đà Nẵng, 1995, trang 66)
Bằng trải nghiệm về những tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 11, anh/chịhãy bình luận những ý kiến trên
Đáp án
Câu 1:
“Đọc” được các ý tưởng từ hai bức ảnh để xác định vấn đề nghị luận
- Facebook được hình tượng hóa như chiếc kính viễn vọng mà con người qua đó quansát về cuộc sống
- Facebook được hình tượng hóa như cái loa phát ngôn mà qua đó cong người bày tỏquan điểm
- Rộng ra,hai bức ảnh phản ánh hiện tượng con người lệ thuộc vào mạng xã hội, conngười dần dần bước vào thế giới ảo nhìn cuộc sống qua màn hình mạng xã hội, nghe vànói qua mạng xã hội
Bàn luận mở rộng vấn đề được gợi ra từ hai bức ảnh
- Tác dụng, tính tiện lợi của Facebook, mạng xã hội với đời sống con người
- Mặt trái, tác hại của Facebook, mạng xã hội:
+ Khiến con người lệ thuộc vào những gì mạng xã hội phản ánh, dễ bị dẫn dắt bởi đám
Trang 2+ Mối quan hệ trực tiếp con người – cuộc sống và con người – con người dần bị thaythế bởi mối quan hệ gián tiếp con người – mạng xã hội – cuộc sống/con người.
+ Bỏ lỡ vẻ đẹp, giá trị của đời sống thực
- Biết cách sử dụng Facebook và mạng xã hội cho hiệu quả và an toàn
CÂu 2:
Giải thích ý nghĩa của hai nhận định và mối quan hệ giữa chúng
- Hai nhận định bàn về đặc trưng của thơ:
+ Trần Dần cho rằng bản chất của thơ nằm ở ngôn từ, sự công phu, chắt lọc, gọt giũangôn từ; yếu tố đầu tiên người làm thơ cần quan tâm là tổ chức sắp xếp ngôn từ, ngôn từ
tự nó sẽ tạo ra nghĩa cho thơ
+ Thanh Thảo không phủ nhận vai trò của ngôn từ thi ca, nhưng nhấn mạnh bản chấttình cảm của thơ: tiếng nói mãnh liệt của cái tôi tác giả Thơ chân chính là phải bộc lộtiếng nói sâu thẳm, phẩn bản ngã sâu xa, ý nghĩ thầm kín trong trong tâm hồn nhà thơ
- Hai nhận định không mâu thuẫn, mà bổ sung làm rõ đặc trưng thơ trên hai phươngdiện: nội dung trữ tình và ngôn ngữ nghệ thuật
Bàn luận về hai nhận định
- Học sinh cần sử dụng kiến thức lý luận để bàn luận về sự đúng đắn của hai nhận định:+ So với tác phẩm tự sự, thơ có đặc trưng riêng, đòi hỏi riêng về ngôn từ: phải chắt lọc,
“tiết kiệm” nên chữ nghĩa trong thơ bao giờ cũng tinh, sắc, đa nghĩa Tính thể nghiệm
về ngôn từ của thơ cũng cao hơn các thể loại khác
+ Bản chất của thơ là cảm xúc Vì thế cái tôi của nhà thơ càng chân thành, mãnh liệt đếntận cùng thì thơ càng hay, càng ám ảnh
+ Thơ chân chính phải là sự tổng hòa của cả hai yếu tố trong trạng huống sáng tác thănghoa Nếu chỉ thiên về ngôn từ xác chữ mà khồn truyền được rung cảm thì thơ sáo, nếuchỉ thiên về cảm xúc suy nghĩ mà ngôn từ không tinh sắc ám ảnh thì không đọng lại dư
âm trong người đọc
- Học sinh bàn luận về mối quan hệ giữa hai nhận định: chúng không mâu thuẫn mà bổsung, trong đó có thể lựa chọn quan điểm của riêng mình để chỉ ra nhận định nào quantrọng hơn
Lấy dẫn chứng tiêu biểu để làm rõ cho phần bình luận
- Học sinh cần lựa chọn được những dẫn chứng thơ tiêu biểu về hai phương diện: ngôn
từ độc đáo giầu tính tạo hình giàu sức gợi và thể hiện cái tôi chân thành mãnh liệt của tác giả.
- Có thể chọn một số tác giả như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,
- Việc phân tích dẫn chứng cần tập trung vào hai phương diện được nhắc đến trong đềbài, tránh bình tán chung chung
- Học sinh nên sử dụng thao tác so sánh để chỉ ra nét riêng làm nên giá trị của bài thơ,phong cách của nhà thơ
Trang 3Anh/chị có suy nghĩ như thế nào về các ý kiến trên? Hãy bình luận và làm sáng tỏqua một hoặc một vài tác phẩm đã được học.
Hướng dẫn
Câu 1:
Giải thích
+ Hoài nghi: thái độ không tin tưởng, không chấp nhận một cách dễ dàng những vấn đề
được người khác thừa nhận Tuy nhiên, hoài nghi không chỉ là thái độ mà còn là ý thức
và tư duy khoa học biện chứng Hoài nghi nghiêng về lý trí
+ Tin tưởng: thái độ không nghi ngờ, dễ dàng chấp nhận và cho một ai, một vấn đề nào
đó là sự thật, chân lý Tin tưởng nghiêng nhiều về cảm xúc
+ Cuộc sống tốt đẹp hơn: cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, phát triển theo hướng tiến bộ.
=> Vấn đề cần nghị luận: chọn lựa giữa hai thái độ sống đối lập và ý nghĩa của chúng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống
Bàn luận
HS có thể có những quan điểm cá nhân, song cần có lập trường rõ ràng và có lý lẽ, dẫn chứng thuyết phục Sau đây là một vài gợi ý:
- Tại sao hoài nghi giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn?
Vì hoài nghi là cái gốc của tư duy khoa học Hoài nghi giữ gìn con mắt tò mò và khao khát khám phá của con người, từ đó rất nhiều phát minh, phát kiến được hình thành, thúc đẩy cuộc sống xã hội
- Tại sao tin tưởng giúp cuộc sống tốt đẹp hơn?
Tin tưởng giúp chúng ta nhìn cuộc sống và những con người xung quanh theo hướng tích cực, từ đó không chỉ khích lệ mọi người mà còn tạo niềm hứng khởi cho mỗi cá nhân Tin tưởng do đó là động lực tinh thần của sự tiến bộ và mỗi quan hệ giữa người – với người
Mở rộng, lật lại vấn đề
- Cuộc sống không chấp nhận thái độ sống cực đoan: không nên chỉ giữ thái độ hoài nghi, vì chúng ta sẽ luôn cảm thấy bất an với cuộc sống và những người xung quanh, song cũng không nên chỉ có thái độ tin tưởng tuyệt đối, vì nó không tạo động lực để phát triển và tạo nên bản sắc riêng
- Có thể giữ sự hoài nghi khoa học và niềm tin tưởng vào con người
Bài học liên hệ
Câu 2: Giải thích
- Ý kiến của Vô-rô-nin:
+ Câu đầu: câu văn mở đầu, phần mở đầu của một tác phẩm.
+ Âm chuẩn: âm thanh chuẩn xác, mẫu mực, chủ đạo
-> Giọng điệu, âm hưởng của phần mở bài sẽ chi phối và quyết định âm hưởng, giọngđiệu chung của cả tác phẩm
- Ý kiến của Phuốc-ma-nốp: Sức mạnh của cú đấm nghệ thuật thuộc về đoạn cuối ->
Với cách nói hình tượng, Phuốc-ma-nốp đã nói lên vị trí không thể thiếu của phần kếtluận trong một tác phẩm Giống như cú nốc-ao đầy thuyết phục trong một trận đấu, nó
là khâu then chốt đóng vai trò quyết định trong việc khẳng định giá trị, sức sống củamột tác phẩm và có tác động mạnh mẽ đến người đọc
=> Không hẹn mà gặp, hai nhà văn Nga cùng có chung quan điểm: nhấn mạnh và đánhgiá cao vai trò của phần mở đầu và kết thúc, nhấn mạnh khả năng kì diệu của sự gợi mở
Trang 4Bàn luận
Khẳng định tính đúng đắn của hai ý kiến:
- Phần mở đầu và kết thúc có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với một tác phẩmvăn học Điều này được thể hiện ở tất cả các thể loại, đặc biệt là truyện ngắn
- Tác phẩm tự sự nào cũng cần phải có cốt truyện Cốt truyện là một chuỗi các sự kiệnđược tạo dựng, là khung xương của tác phẩm Cốt truyện gồm 5 phần: trình bày(= mởđầu), thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút(= kết thúc) Các bước diễn biến của cốttruyện đi từ mở đầu đến phát triển và kết thúc Vì thế, trong các yếu tố của cốt truyện,nhà văn đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của đoạn mở đầu và đoạn kết Phần mở như mộtkhúc dạo đầu, định hình ý tưởng của tác giả, quyết định sự lôi cuốn, hấp dẫn của tácphẩm đối với bạn đọc; phần kết lại là khúc vĩ thanh gói lại tác phẩm đồng thời mở ratrong lòng bạn đọc những suy nghĩ, liên tưởng mới, kết tinh tư tưởng của tác phẩm
- Trong kết cấu của một tác phẩm văn học, sự sắp xếp các phần theo một trật tự hợp lí,thể hiện ý đồ nghệ thuật của người viết Nếu thay đổi trật tự hoặc thiếu đi phần nào sẽlàm mất đi tính thống nhất của một chỉnh thể toàn vẹn Trong chỉnh thể đó phần mở đầu
và kết thúc không thể thiếu, bởi theo Aristote: Cái hoàn chỉnh là cái có phần đầu, phần giữa và phần cuối, theo Lưu Hiệp thì phải tổng văn lí (thống nhất mạch lạc bài văn), thống đầu vĩ (liên kết mở đầu và kết thúc) hay theo Nhữ Bá Sĩ không đóng, mở, kết cấu thì không thành văn chương.
=> Tác dụng, ý nghĩa của phần mở - kết: vừa tạo cho tác phẩm một chỉnh thể thống nhấtvừa chuyển tải tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, thể hiện tư tưởng của nhà văn, đồng thờitác động mạnh mẽ tới tâm hồn bạn đọc
Chứng minh
Để chứng minh cho ý nghĩa, vai trò của phần mở đầu và kết luận trong một tác phẩm
văn học, HS có thể vận dụng vào tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Chí Phèo của Nam Cao.
C1 Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
* Phần mở đầu:
- Cách mở đầu: Truyện được mở đầu bằng đoạn văn miêu tả, nhận xét tiếng chửi củanhân vật chính - một kẻ đang say rượu Đây là cách giới thiệu trực tiếp nhân vật vàcách mở đầu không theo trình tự thời gian mà đi thẳng vào giữa truyện
- Ý nghĩa:
+ Cách vào truyện bằng hình ảnh rất sống động của một kẻ say đang vừa đi vừa chửi có
ý nghĩa lớn trong việc tạo tính hấp dẫn, gợi hứng thú, lôi cuốn người đọc vào diễn biếntiếp theo của câu chuyện
+ Cách chửi của nhân vật khá độc đáo: thoạt đầu vu vơ, sau đó thu hẹp dần và cuối
cùng bất ngờ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn
+ Cách sử dụng ngôn ngữ vô cùng linh hoạt (đan xen nhiều điểm nhìn, ngôn ngữ, giọngđiệu) làm đoạn văn có ấn tượng riêng khó quên
+ Ngay từ đoạn mở đầu, số phận, tích cách nhân vật đã được khái quát, khắc sâu giá trị
Trang 5+ Cái chết thảm khốc của nhân vật Chí Phèo
+ Nhà văn đã lặp lại hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang ở phần đầu tác phẩm - nơi Chí
Phèo bị bỏ rơi - để kết thúc truyện
- Ý nghĩa:
+ Với việc để Chí Phèo tự vẫn vì không thể trở về với cuộc đời lương thiện, tác giả
khắc sâu bi kịch số phận nhân vật và tố cáo sâu sắc xã hội
+ Hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang được lặp lại tạo thành một kết cầu vòng tròn, một kết
thúc để ngỏ, có giá trị biểu hiện sâu sắc, buộc người đọc phải suy ngẫm liên tưởngthêm những tầng nghĩa mới có thể có mà tác giả gửi gắm (phản ánh, tố cáo hiện thực;
dự báo, thức tỉnh,…
C2 Truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
* Mở đầu:
- Cách mở đầu: Truyện mở đầu bằng cuộc trò chuyện giữa quản ngục và thơ lại: quản
ngục nghe đồn Huấn Cao có tài viết chữ đẹp và có tài bẻ khoá vượt ngục; thơ lại cho rằng phải chém những người như thế thấy mà tiêng tiếc.
- Ý nghĩa:
+ Tạo ấn tượng ban đầu về nhân vật: Huấn Cao - con người của tài hoa, khí phách, bảnlĩnh ngang tàng; quản ngục, thơ lại - biết quý cái đẹp cái tài, biết trọng nhân cách bảnlĩnh
+ Cách vào truyện theo trật tự thời gian, nghệ thuật giới thiệu nhân vật uyên thâm, cổ
điển (gián tiếp, theo lối vẽ mây nẩy trăng) tạo ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc
về Huấn Cao - con người của huyền thoại, của danh tiếng lẫy lừng trong thiên hạ, đếnphe đối lập cũng phải nể vì, trọng thị
* Kết thúc
- Cách kết thúc: Truyện kết thúc bằng một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
+ Khung cảnh cho chữ chưa từng có: Trong đêm cuối cùng của người tử tù, nơi ngụcthất lại diễn ra cảnh cho chữ
+ Người cho chữ - xin chữ chưa từng có: người cho chữ ban phát cái đẹp, khuyên rănđiều thiện là tử tù; người xin chữ thoả được sở nguyện về cái đẹp và tìm ra con đườngchính đạo của cuộc đời lại là viên quan coi ngục
- Ý nghĩa:
+ Tạo kết cấu đầu cuối tương ứng: mở đầu bằng lời đồn - kết thúc bằng hành động; mở
đầu bằng huyền thoại - kết thúc bằng cảnh xưa nay chưa từng có.
+ Tô đậm chân dung nhân vật: Huấn Cao: ngôi sao hôm chính vị toả sáng ánh sáng của
tài - chí – tâm; quản ngục: đốm sáng đặc biệt, con người của nhân cách và sở nguyệncao đẹp, bậc liên tài tri kỉ xưa nay hiếm đối với người nghệ sĩ -> Đây là cuộc gặp gỡ kì
diệu giữa những tấm lòng trong thiên hạ: một Huấn Cao nghĩa khí tài hoa và một quản
ngục, thơ lại thành tâm trọng nghĩa, trọng tài
+ Thể hiện nổi bật cảm hứng lãng mạn và bút pháp lý tưởng hoá của Nguyễn Tuân:hướng tới cái đẹp và sự phi thường
+ Bộc lộ tập trung chủ đề tác phẩm: Ca ngợi một thú chơi tao nhã của một thời vangbóng; ca ngợi một bậc anh hùng hiên ngang bất tử; tôn vinh sự chiến thắng của cái đẹp,cái thiện với sức mạnh cảm hoá lớn lao, vĩ đại; thể hiện quan niệm của Nguyễn Tuân vềcon người và nghệ thuật chân chính
Đánh giá, nâng cao vấn đề
Trang 6- Ý kiến đúng đắn, quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật, được đúc rút từ chính nhữngtrải nghiệm của các nhà văn bậc thầy của văn học Nga và thế giới.
- Đây là công phu sáng tạo in đậm dấu ấn tài năng và phong cách tác giả: mở đầu - kết
thúc Chữ người tử tù khẳng định Nguyễn Tuân, nhà văn lãng mạn, nhà văn của cái đẹp
hoàn mĩ phi thường, nhà văn của lối viết vừa cổ kính trang trọng, vừa mới mẻ hiện đại
Mở đầu và kết thúc truyện ngắn Chí Phèo chứng tỏ Nam Cao là cây bút hiện thực tỉnh
táo, nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo lớn không chỉ với tình thương mà còn ở lòng tinvào con người
- Yêu cầu đặt ra cho công phu sáng tạo mở đầu và kết luận không chỉ đúng với truyệnngắn mà còn với tất cả các thể loại văn học khác (ký, kịch, thơ, tiểu thuyết), đòi hỏitrách nhiệm của người nghệ sĩ trong quá trình lao động nghệ thuật, đồng thời đòi hỏikhả năng đồng sáng tạo của bạn đọc trong tiếp nhận văn học
Lúc đầu, lừa ta không hiểu gì cả, không biết tại sao mọi người lại muốn dập đầubái lạy nó, liền hoảng sợ tránh né Tuy nhiên, suốt dọc đường đều như vậy cả, lừa ta bấtgiác tự đắc hẳn lên, lòng thầm nghĩ thì ra mọi người sùng bái ta đến thế Mỗi khi nhìnthấy có người qua đường thì lập tức con lừa nghênh ngang kiêu ngạo đứng ngay giữađường phố, yên dạ yên lòng nhận sự bái lạy của mọi người Về đến chùa, lừa ta chorằng bản thân mình thân phận cao quý, dứt khoát không chịu kéo cối xay nữa Vị tăngnhân hết cách, đành phải thả nó xuống núi
Lừa ta vừa mới xuống núi, xa xa đã nhìn thấy một nhóm người đánh trống khuachiêng đang đi về phía mình, lòng nghĩ, nhất định mọi người đến để nghênh đón mìnhđây mà, thế là nghênh ngang đứng ngay giữa đường lộ Thực ra, đó là đoàn người rướcdâu, đang đi lại bị một con lừa chắn ngang đường, người nào người nấy đều rất tứcgiận, gậy gộc tới tấp Lừa ta vội vàng hoảng hốt chạy về chùa, khi về đến nơi thì cũng
chỉ còn lại chút hơi tàn Trước khi chết, nó căm phẫn nói với vị tăng nhân rằng: “Thì ra lòng người hiểm ác đến thế, lần đầu khi xuống núi, mọi người đều lễ bái lạy ta, nhưng hôm nay họ lại ra tay tàn độc đến thế”, nói xong liền tắt thở Vị tăng nhân thở dài một tiếng: “Thật đúng là một con lừa ngu ngốc! Hôm đó, thứ mà mọi người bái lạy chính là bức tượng Phật được ngươi cõng trên lưng mà thôi”.
(Quà tặng cuộc sống, NXB Văn hóa 2014)
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về nghĩa được gợi ra câu chuyện trên
Câu 2: (12,0 điểm)
Bàn về thơ, có ý kiến cho rằng:
Trang 7“Tình cảm, cảm xúc trong thơ trước hết phải thuộc về “ngôi thứ nhất” Đó là
sức mạnh để những câu thơ ra đời cách đây hàng ngàn năm vẫn còn song hành với thời đại chúng ta và những câu thơ của ngày hôm nay sẽ còn làm bạn mãi vớ hậu thế.”
Anh (chị) hiẻu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ ý kiến qua một thi phẩmtrong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông
Hướng dẫn
Câu 1:
Giới thiệu đúng vấn đề nghị luận
Suy nghĩ về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện
* Phân tích khái quát nội dung mà câu chuyện đề cập:
- Hình ảnh chú lừa trong câu chuyện chính là hình ảnh của những con người khôngnhận thức được chính mình trong cuộc đời Chú lừa kia tưởng mọi người xung quanhsùng bái mình, tưởng mình mang thân phận cao quý nhưng đến tận lúc chết đi rồi, chúlừa đó vẫn không nhìn rõ được chính mình, hiểu được giá trị của mình Người ta bái lạy,nhường đường là bởi pho tượng Phật mà chú lừa đang cõng trên lưng chứ không phảibản thân chú lừa tội nghiệp đó
- Câu chuyện đưa đến một bài học trong cuộc sống: phải nhìn rõ chính mình, phải tựhiểu, tự nhận thức được giá trị của chính mình trong cuộc sống, từ đó có lối sống, cáchsống sao cho phù hợp
* Từ câu chuyện rút ra vấn đề xã hội cần nghị luận:
Cuộc sống có thể tác động đến ta theo chiều hướng tiêu cực hoặc tích cực Và để
sống, ta cần tự nhìn nhận rõ bản thân, luôn là chính mình để đứng vững trước những tácđộng ấy
- Cuộc sống là một đường thẳng tuyến tính mà ở đó luôn có những câu hỏi về sự mất; khen - chê; nhận thức được hay không về mình trong cuộc đời Nếu như bạn cótiền tài, điều người ta sùng bái chẳng qua là tiền tài của bạn chứ không phải chính bảnthân bạn Nếu như bạn có danh vọng, điều người ta tôn kính chẳng qua là danh vọngcủa bạn chứ không phải chính bạn Nếu như bạn có dung mạo đẹp đẽ, điều người tamến mộ chẳng qua chỉ là dung mạo đẹp đẽ mà tạm thời bạn đang có, chứ không phảichính bạn Khi tiền tài, danh lợi, vẻ đẹp của bạn không còn nữa, thì cũng là lúc bạn bịvứt bỏ, không còn chút giá trị trong cuộc sống Điều mà những người khác tôn sùngchẳng qua chỉ là những ước muốn trong tâm của họ, chứ không phải là chính bạn
được Giá trị của một con người xuất phát từ nội tâm chứ không phải những thứ bề ngoài,lao tâm khổ sở vì nó thật là điều bất hạnh nhất trên đời Vậy nên nhìn rõ, nhận thức rõ
về chính bản thân mình là điều vô cùng quan trọng và cần thiết
Đánh giá, mở rộng
- Câu chuyện chứa đựng bài học nhân sinh sâu sắc, ý nghĩa về việc nhận thức đúng giá
Trang 8- Phê phán những con người không nhận thức rõ về mình trong cuộc đời, kiêu căng, tựphụ.
Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động
- Học cách sống nhìn rõ chính mình trong cuộc đời để sống đúng, sống đẹp, sống có ýnghĩa
- Nhìn rõ chính mình cũng là để phấn đấu vươn lên, sống tự tin và bản lĩnh
CÂu 2: Giới thiệu vấn đề nghị luận (trích nguyên văn ý kiến )
Giải thích nhận định:
Từ ngữ:
- Tình cảm, cảm xúc: Yếu tố căn cốt nhất của thơ , làm nên bản chất của thơ ca …
- Tình cảm, cảm xúc trong thơ trước hết phải thuộc về “ngôi thứ nhất”: Nghĩa là trước
hết phải thuộc về cá nhân của người nghệ sĩ, phải được cá thể hoá cao độ
Nội dung ý kiến: Mượn cách nói hình ảnh với những thuật ngữ của văn học và ngônngữ học, câu nói muốn khẳng định tính chất cá thể hoá và tính điển hình, tính khái quátvươn tới tầm nhân loại của tình cảm, cảm xúc trong thơ Chính điều đó đã làm nên sức
mạnh, ý nghĩa tồn tại từ ngàn xưa cho tới ngàn sau của thơ ca Thơ là tiếng nói của tình cảm riêng tư nhưng không bao giờ lạc lõng mà có thể là bạn với đông đảo mọi người của muôn đời Làm cho thơ ca có sức sống lâu bền và luôn còn cần thiết như người bạn tinh thần nâng giấc tâm hồn cho con người bao nhiêu thế kỉ….
Lí giải ý kiến: Khẳng định sự đúng đắn của ý kiến, nhận định vì:
- Tình cảm , cảm xúc trong thơ trước hết phải bắt nguồn từ tiếng nói chân thành, trựctiếp trong trái tim cá nhân người nghệ sĩ, đó không bao giờ là những cảm xúc vay
mượn, chung chung mà nó phải rất riêng biệt tới mức độc đáo ( chỉ có niềm vui của chính anh, nỗi buồn trong chính trái tim anh mới khiến anh cầm bút R Gamzatop) Có
điều đó là vì mỗi nhà thơ luôn viết thơ từ nỗi niềm riêng, cảnh ngộ riêng…Ngay cảnhững tình cảm lớn lao chung của cả dân tộc, đất nước thì cũng phải thông qua trảinghiệm riêng, cảm nhận riêng của người nghệ sĩ…( VD)
- Điều này rất có ý nghĩa: Làm cho mỗi thi phẩm là một thế giới mênh mang của cảmxúc riêng tư, cho người đọc hiểu được nhiều nỗi lòng, nhiều tâm tư…và thơ ca muôn
đời là những điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu (Tố Hữu), thơ ca chẳng bao giờ là sự
lặp lại nhàm chán
Chứng minh làm sáng tỏ vấn đề nghị luuận
Học sinh phải chọn và cảm nhận được những dẫn chứng thơ tiêu biểu để làm nổi bật vấn đề (chú ý tới tính toàn diện của dẫn chứng có thể khái quát từ thơ ca cổ đến thơ ca hiện đại, đặc biệt là Thơ mới sau đó chọn một tác phẩm để cảm nhận làm sáng tỏ kiến Khi cảm nhận cần chỉ ra được đặc trưng tiêu biểu của thơ ca với yếu tố đầu tiên là tình cảm, cảm xúc, chính yếu tố này góp phần làm nên tính cá thể, tính vĩnh cửu,và những đặc sắc nghệ thuật tương ứng-> Từ đó khảng định sức sống mãnh liệt của những áng thơ ca chân chính)
Đánh giá, nâng cao vấn đề
- Khẳng định quan điểm trên là hoàn toàn đúng với đặc trưng thể loại thơ và được minhchứng thực tế sáng tác của nhiều tác giả, qua các tác phẩm tiêu biểu trong chương trình.Quan niệm trên đã nêu được đúng bản chất của tình cảm cảm, cảm xúc trong thơ ->Khẳng định sức mạnh, cho ta niềm tin vào sự tồn tại, ý nghĩa của thơ ca
- Muốn thế, người viết luôn phải có sự chân thực, đầy đặn trong tình cảm, cảm xúc…Người đọc, cũng cần phải là người biết tri âm cùng người viết…
Trang 9Kết thúc vấn đề hợp lí.
Đề 4: Câu 1 (8 điểm):
THƯỢNG ĐẾ CŨNG KHÔNG BIẾT
Thượng đế lấy đất nặn ra con người Khi Ngài nặn xong vẫn còn thừa ra một mẩu đất
- Cần nặn thêm cho mày gì nữa, con người?
Con người nghĩ một lúc: có vẻ như đã đầy đủ tay, chân, đầu,… rồi nói:
- Xin ngài nặn cho con hạnh phúc
Thượng đế dù đã thấy hết, biết hết nhưng cũng không hiểu được hạnh phúc là gì.Ngài trao cục đất cho người và nói:
- Này, tự đi mà nặn lấy cho mình hạnh phúc
(Nguyễn Viết Thắng – Những giai thoại hay nhất về tình yêu và cuộc sống)
Suy nghĩ của anh / chị về ý nghĩa của câu chuyện trên
Câu 2 (12 điểm):
Theo nhà văn Phạm Thị Hoàitruyện ngắn hay thường gắn với thơ.“Truyện ngắn dường như là đứa con tất yếu của người mẹ thơ và người cha văn xuôi Nó là thơ viết bằng văn xuôi, bề ngoài mang tính cha mà bên trong mang tính mẹ”.
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm sáng tỏ ý kiến trên qua một truyện ngắntrong văn học Việt Nam giai doạn 1930-1945
ĐA:
Câu 1:
a Giải thích ý nghĩa câu chuyện
- Thượng đế: đấng toàn năng, có khả năng hiểu biết và tạo nên con người nhưngkhông thể nặn được hạnh phúc để ban tặng cho loài người; Hạnh phúc tồn tại trongchính cuộc sống của con người nhưng hạnh phúc không sẵn có
- Lời nói của Thượng đế “tự đi mà nặn lấy hạnh phúc”: hạnh phúc là do chính conngười tạo nên
Câu chuyện nêu lên một triết lí về cuộc sống: hạnh phúc không bao giờ có sẵnhay là món quà được trao tặng, hạnh phúc của con người phải do chính con người tạonên
Trang 10- Thơ: là một thể loại thuộc phương thức trữ tình, lấy việc bộc lộ thế giới tình cảm,cảm xúc của con người làm nội dung chủ đạo Thơ phản ánh “cái nhụy của đời sống”thông qua trí tưởng tượng phong phú và một ngôn ngữ đẹp đẽ, giàu sức biểu cảm.
- “Truyện ngắn dường như là đứa con tất yếu của người mẹ thơ và người cha vănxuôi Nó là thơ viết bằng văn xuôi, bề ngoài mang tính cha mà bên trong mang tínhmẹ”:
Nhận định của Phạm Thị Hoài khẳng định truyện ngắn hay có sự giao thoa đặc biệtgiữa truyện ngắn và thơ Bề ngoài truyện ngắn tất yếu “mang tính cha”, tức là nhữngđặc điểm thông thường của một truyện ngắn, như: dung lượng ngắn, thường ít nhân vật,
ít sự kiện, cốt truyện thường chỉ xoay quanh một tình huống nhất định, một “lát cắt củacuộc sống”, ở đó, bản chất con người, cuộc đời hiện lên rõ nét nhất Truyện ngắn có thểxem “là một bàn tay siết chặt lại thành nắm đấm” (Hemingway)
Tuy nhiên, xét về bề sâu, những truyện ngắn hay lại là những đứa con “mang tínhmẹ”, tức là chất thơ vời vợi trong tác phẩm Chất thơ thường bộc lộ ở nội dung (giàutình cảm, cảm xúc, chú trọng chiều sâu tâm trạng, tâm lí nhân vật) và nghệ thuật (ngônngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, kết cấu theo dòng tâm trạng…)
2.Bàn luận, chứng minh
- Đặc trưng của truyện ngắn: phản ánh cuộc sống bằng phương thức tự sự, thông quacác chi tiết, sự kiện, nhân vật, tình huống nào đó, được kể lại bởi một người kể chuyệnnhất định, qua đó bộc lộ tư tưởng, quan điểm của tác giả về đời sống nhân sinh
- Nhưng tác phẩm văn học không phải sự lí giải dửng dưng, lạnh lùng mà phải gắn vớicảm xúc mãnh liệt Truyện ngắn hay khi thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả, khi tácgiả hóa thân vào nhân vật mà bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, toát lên từ tác phẩm là nỗi đau,khát vọng, niềm tin…
- Truyện ngắn cũng sẽ hấp dẫn người đọc trong cách nhà văn miêu tả những bức tranhthiên nhiên trữ tình, ngôn ngữ có chất thơ, chất họa, chất nhạc…
- Chứng minh:
Thí sinh có thể lựa chọn những truyện ngắn hay có chất thơ như: “Hai đứa trẻ”- ThạchLam, Chí Phèo của Nam Cao…
Khi phân tích cần làm rõ:
- Truyện ngắn đó “bề ngoài mang tính cha” như thế nào?
+ Cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình huống?
+ Giọng kể, người kể, điểm nhìn trần thuật?
- Truyện ngắn đó “bên trong mang tính mẹ” ra sao?
+ Nội dung: Giàu chất thơ (tác phẩm đã khai thác, diễn tả sâu sắc những cung bậctình cảm, cảm xúc, tâm trạng, “những rung động khẽ như một cánh bướm non” của tâmhồn nhân vật như thế nào…)
+ Nghệ thuật: ngôn ngữ (hình ảnh, nhịp điệu, nhạc điệu…), giọng điệu, kết cấu…giàu chất thơ đã được bộc lộ như thế nào trong tác phẩm?
Ý kiến trên là trải nghiệm của Phạm Thị Hoài với tư cách một người đọc- mộtnhà vănThực chất, sự giao thoa của truyện ngắn với các thể loại khác đã được ngườiđọc chú ý đến từ lâu Người ta đã nói đến những truyện ngắn- sử thi, truyện ngắn mangsức nén của tiểu thuyết trường thiên, truyện ngắn - kịch tính cao, và không thể khôngnhắc đến truyện ngắn giàu chất thơ
Sự giao thoa ấy càng thể hiện rõ nét trong văn học thời hiện đạikhi con người càngsống hối hả gấp gáp càng mong mỏi tìm về một cái gì đó bình yên sâu lắng cho tâm
Trang 11hồn Vậy nên những truyện ngắn hay thường là dấu gạch nối hòa giải cả hai thái cực,hiện thực và lãng mạn, văn xuôi và thơ Nó là “đứa con tất yếu của người mẹ thơ vàngười cha văn xuôi” là vì thế Vậy nên cũng sinh ra những nhà văn mà “cả đời như bịđóng đinh trên cây thập giá văn xuôi” mà người đọc khi thưởng thức những trang văncủa họ luôn cảm thấy cái nhã thú được tìm về với những gì “nhẹ nhõm, thơm lành vàmát dịu” VD: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Pautôpxki, Aimatôp…
Trong bài thơ “Cầu nguyện”, Lưu Quang Vũ viết:
Nguyện cho lòng tôi đừng sợ hãi Nguyện cho lòng tôi đừng nguội lạnh tình yêu
(Thơ tình – Lưu Quang Vũ, NXB Văn học, 2002, tr.172)
Suy nghĩ của anh/chị về những ý nghĩa gợi ra từ hai câu thơ trên
Câu 2 (12.0 điểm)
Mỗi nhà thơ viết câu thơ theo số phận của mình, chẳng bắt chước ai.
Tôi học phong cách đất ngoài vườn, mùa đến lại sinh sôi,
Mặc kệ ai đấy là hoả diệm sơn phun lửa,
Viết câu thơ ở thế đà đao, ở thế vu hồi.
(Trích Phong cách – Chế Lan Viên)
Anh/ chị hiểu ý thơ trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ điều đó qua bài thơ Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Tú Xương)
ĐA:
Câu 1:
1 Giải thích (nêu ngắn gọn ý nghĩa lời thơ của Lưu Quang Vũ)
- Nguyện: là cầu mong, thường là mong những điều tốt đẹp.
- Nguyện cho lòng tôi đừng sợ hãi: cầu mong bản thân không hèn nhát, yếu đuối, nói
khác đi đó là ước nguyện sống có bản lĩnh, dũng cảm
- Nguyện cho lòng tôi đừng nguội lạnh tình yêu: cầu mong bản thân không thờ ơ,
lạnh lùng vô cảm, luôn giữ được tình yêu với cuộc đời, con người
-> Như vậy, thực chất hai câu thơ của Lưu Quang Vũ nêu lên lời nguyện cầu, cũng làkhát vọng sống mạnh mẽ, dũng cảm, đầy tình yêu thương Đó cũng là sự tự ý thức củacon người để phấn đấu hướng tới những đức tính, phẩm chất tốt đẹp
2 Bàn luận
Lời thơ đã đặt ra những vấn đề đúng đắn, có ý nghĩa sâu sắc:
a Vì sao cần “Nguyện cho lòng tôi đừng sợ hãi”:
- Nỗi sợ là điều có thực và thường hiện hữu trong đời sống con người (Nêu những điều con người thường sợ hãi: đói, khổ, sự đau đớn, cái chết, sự bất hạnh, quyền lực, kẻ mạnh,…)
- Sự sợ hãi khiến con người yếu đuối, thiếu bản lĩnh, dũng khí, sức mạnh, thiếu khả năng đương đầu với khó khăn, nghịch cảnh, thậm chí bị tha hóa, hèn nhát, đánh mất danh dự, tự trọng
Trang 12- Nếu không sợ hãi, con người sẽ bình tĩnh, sáng suốt, có sức mạnh vượt qua khó khăn; có dũng khí, dám đối mặt với thử thách, hiểm nguy, dám đấu tranh vì sự tiến bộ của xã hội, được mọi người nể phục.
- Vì vậy con người cần tôi rèn cho mình sự dũng cảm, bản lĩnh, không chịu khuất phục, cúi đầu trước khó khăn, thử thách, trước sự đe dọa của các thế lực có sức mạnh
b Vì sao cần “Nguyện cho lòng tôi đừng nguội lạnh tình yêu”:
- Nếu nguội lạnh tình yêu: con người trở nên dửng dưng, vô cảm, không cảm nhận
được nỗi đau cũng như niềm hạnh phúc, mất khả năng đồng cảm, sẻ chia, không còn biết yêu thương con người và cũng không được mọi người tin yêu
- Khi giữ được tình yêu với cuộc đời, con người: cuộc sống có ý nghĩa, khi biết yêu
sẽ được nhận tình yêu (Học sinh nêu các dẫn chứng phù hợp)
3 Mở rộng, nâng cao vấn đề
- “Nguyện cho lòng tôi đừng sợ hãi” không có nghĩa là không biết sợ Có những nỗi
sợ rất người, rất nhân văn, ngăn con người không rơi vào vực thẳm tha hóa, thậm chí ngăn chặn tội ác
- “Nguyện cho lòng tôi đừng nguội lạnh tình yêu” không có nghĩa là dễ dàng trao đi
tình cảm, bị chà đạp, phản bội vẫn cố chấp níu kéo
4 Bài học:
- Rèn luyện bản lĩnh, sức mạnh, dũng khí; bồi đắp tình thương yêu với con người
- Biết thông cảm với những phút giây yếu đuối, sợ hãi của người khác; biết “nguội” bớttình thương yêu khi trao tình cảm chưa đúng nơi, đúng người
Câu 2:
1 Giải thích:
- Ý thơ của Chế Lan Viên đề cao sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ Ý thức ấy đã trởthành lòng tự trọng, một phẩm chất của những người nghệ sĩ lớn, chứ không dừng lại ởnhững vấn đề lý luận mang tính quan niệm - Chính vì vậy, Chế Lan Viên đã đặt ra yêucầu đối với người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác: phải có cá tính sáng tạo, không baogiờ lặp lại người khác và càng không được phép lặp lại chính mình
+ Cá tính sáng tạo có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp của một nhà văn Nó
là một loại “thước đo nghệ thuật” (Khrapchenkô) bởi “người nghệ sĩ đích thực, người nghệ sĩ có tài năng bao giờ cũng mang đến cho đời một cái gì mới, một cái gì riêng biệt chưa từng có Chính cái mới, cái riêng biệt đó làm cho cuộc sống luôn luôn phong phú,
lạ lùng, hấp dẫn” (Nguyễn Văn Hạnh) Chính nhà thơ Chế Lan Viên cũng ý thức rất rõ
về điều này khi cho rằng: nhà thơ phải là người “không nhai lại”, phải có “cái tạng riêng”, có “cách sút bóng riêng” trong “cái sân cỏ trang thơ nghìn thuở giống nhau” (Trích Đá bóng)
+ Xuất phát từ những đặc trưng cơ bản về quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn:
đó là một quá trình lao động nghiêm túc, luôn cần đến ở người nghệ sĩ lòng tâm huyết,
sự bản lĩnh và vốn hiểu biết sâu rộng
Trang 133 Chứng minh
Học sinh chứng minh làm rõ cá tính sáng tạo của Hồ Xuân Hương qua bài thơ Tự tình
II và Tú Xương qua bài thơ Thương vợ:
a) Cả hai bài thơ đều tập trung khám phá một đề tài: hình tượng người phụ nữ trongvăn học Đây là một đề tài quen thuộc, từ văn học dân gian đến những sáng tác tiêubiểu của văn học trung đại và hiện đại sau này đều dành sự quan tâm lớn cho hìnhtượng này
b) Tuy vậy, mỗi nhà thơ đều thể hiện rõ cá tính sáng tạo riêng của mình:
* Cá tính sáng tạo của Hồ Xuân Hương qua bài thơ Tự tình II:
- Thể hiện sâu sắc nỗi khổ của người phụ nữ: đó là nỗi khổ vì cô đơn, khao khát hạnhphúc nhưng chỉ nhận lại sự bẽ bàng duyên phận;
- Hé mở vẻ đẹp tâm hồn của một con người biết ý thức sâu sắc về giá trị bản thân đểkiêu hãnh và mạnh mẽ ngay trong những hoàn cảnh trớ trêu nhất;
- Hình tượng nhân vật trữ tình là một người phụ nữ bé nhỏ, tội nghiệp phải đối diệnvới không gian đêm khuya trống trải, rợn ngợp;
- Nghệ thuật: Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tácgiả:
+ Sử dụng từ ngữ giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa: trơ, cái hồng nhan, vầng trăng bóng xế, xuân
+ Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ, điệp, đối, ẩn dụ
+ Sử dụng động từ mạnh, cách ngắt nhịp mới mẻ, giọng điệu thơ đa dạng
=> Với cái nhìn của người trong cuộc, hình tượng người phụ nữ trong bài thơ chính làcon người của nhà thơ: vừa chân thành, thiết tha; vừa ngạo nghễ, thách đố; vừa đaubuồn, tuyệt vọng; vừa cứng cỏi, mạnh mẽ Tất cả đều thể hiện một sự tự ý thức đầy cátính, làm thay đổi ấn tượng về người phụ nữ trong xã hội xưa
* Cá tính sáng tạo của Tú Xương qua bài thơ Thương vợ:
- Phát hiện và cảm thông với nỗi thống khổ của bà Tú – đó là nỗi khổ vì cuộc sống cơcực, vất vả gánh vác lo toan chèo chống cả một gia đình mà thiếu sự đồng cảm, sẻ chia
về trách nhiệm;
- Khẳng định những phẩm chất của bà Tú: tần tảo lo toan, chịu thương chịu khó, tấmlòng khoan dung khi không nề hà trách nhiệm với gia đình dù phải đối diện với nhữnggian lao trong cuộc sống;
- Nghệ thuật: sáng tạo thi liệu văn học dân gian, hài hòa chất hiện thực trào phúng vàchất lãng mạn trữ tình, ngôn ngữ thơ bình dị
=> Với cái nhìn của người khác phái – một nhà nho đầy tự trọng và một người đàn ông
có tình, có ý thức về trách nhiệm của bản thân, chân dung bà Tú hiện lên hoàn chỉnh: từquan hệ bươn trải với đời, đến quan hệ với gia đình, từ con người của công việc làm ănđảm đang tháo vát đến con người của đức độ, thảo hiền, đầy tinh thần vị tha, xả kỉ
Trang 14- Ý kiến trên cũng trở thành phương châm, nguyên tắc sáng tạo của người nghệ sĩ chânchính đồng thời cũng giúp người đọc và giới nghiên cứu phê bình có hướng đi đúng đắnhơn trong quá trình đánh giá, thẩm định tác phẩm…
Người mẹ cầm tay con, đưa trở lại khu rừng Bà nói: “Giờ thì con hãy hét thật to: “Tôi yêu người” Lạ lùng thay, cậu bé vừa dứt tiếng thì có tiếng vọng lại: “Tôi yêu người” Lúc đó, người mẹ mới giải thích cho con hiểu: “Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó Ai gieo gió thì ắt gặt bão Nếu con thù hận ghét người thì người cũng thù ghét con Nếu con yêu thương người thì người cũng yêu thương con”.
(Theo Quà tặng cuộc sống, NXB Trẻ, 2002)
Hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em về bài học được gợi ra từ câuchuyện trên
Câu 2 (12 điểm):
Có ý kiến cho rằng: “Những kết luận khoa học như những thỏi vàng, chỉ lưu hành trong phạm vi nhỏ hẹp, còn tri thức từ các tác phẩm văn học như những đồng tiền nhỏ” (N Séc-nư-sép-xki)
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của mình về văn học hãylàm sáng tỏ ý kiến trên?
ĐA:
1 Mở bài:
Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận
2 Thân bài
a) Giải thích ý nghĩa của câu chuyện.
- Mối quan hệ giữa cá nhân và những người khác trong xã hội là mối quan hệ haichiều, những gì ta nhận đều là kết quả của những gì ta đã làm, cho điều gì sẽ nhận đượcđiều đó
+ Nếu con thù ghét người thì người cũng thù ghét con:Ghét không chỉ trong thái độtình cảm mà trong cách ứng xử, trong hành động: Nếu một ai đó làm một điều khôngtốt, đối xử với người khác bằng sự ích kỷ vụ lợi hay thực hiện hành động bằng động cơxấu thì chính họ sẽ phải nhận những gì họ đã gieo, đó là sự không thanh thản trong tâmhồn, hay những thái độ, hành động không tốt của người khác đáp trả lại Như vậy, vôtình chính họ đang làm hại bản thân
+ Nếu con yêu thương người thì người cũng yêu thương con: Quy luật này cũngchính là lời khuyên, là mong mỏi của người mẹ đối với con Thương yêu mọi người, đối
xử tốt với mọi người sẽ được mọi người yêu thương và đối xử tốt, như quan niệm
truyền thống “Ở hiền gặp lành”
b) Những suy nghĩ được gợi lên từ câu chuyện.
Trang 15- Đây là một ý kiến đúng đắn và có ý nghĩa sâu sắc: Nó hướng con người đến cáchsống tốt, giầu yêu thương, có trách nhiệm trước thái độ và hành động của bản thân với
cộng đồng (HS tìm dẫn chứng trong thực tế để chứng minh)
- Tuy nhiên, cũng có những trường hợp những gì mà ta nhận về không phải tương
ứng với những gì ta đã cho đi, hay có những người “gieo gió” không hẳn đã “gặt bão”,
nhưng không vì thế mà tính toán trong cách sống Sống tốt luôn phải là bản chất, là sự
tự nhiên không gò bó hay gượng ép
- Phê phán lối sống ích kỷ, chỉ biết “nhận” mà không biết “cho”.
c) Nêu bài học nhận thức và hành động.
- Cho điều gì sẽ nhận được điều đó: Nếu ta yêu thương người thì người sẽ yêu thươngta
- Gieo gió ắt gặt bão: Ta thù ghét người thì người cũng thù ghét ta
- Cần phải biết yêu thương và chia sẻ, sẵn sang cống hiến cho quê hương, đất nước
3 Kết bài:
Khẳng định ý nghĩa của truyện, liên hệ bản thân
Câu 2: 1 Giải thích nhận định:
- Những kết luận khoa học: là những phát minh, khám phá lớn thuộc các lĩnh vực tự
nhiên hoặc xã hội Chúng được ví như những “Thỏi vàng” – thứ kim loại quý giá đểthấy được giá trị to lớn đối với cuộc sống con người Ai cũng có thể nhìn và cảm nhậnđược
- Tri thức từ các tác phẩm văn học: là những bức tranh hiện thực cuộc sống, những bài
học nhân sinh sâu sắc được các nhà văn, nhà thơ gửi gắm kín đáo trong các tác phẩmcủa họ Chúng được ví là “những đồng tiền nhỏ” – có giá trị nhỏ, song lại vô cùng cầnthiết bởi có thể đem ra sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi
-> Câu nói sử dụng hình ảnh “thỏi vàng” và “những đồng tiền nhỏ” để nói về giá trịnhận thức của văn chương Không mang đến những giá trị lớn lao, hào nhoáng như cácphát minh khoa học, những tri thức về cuộc sống mà văn học mang lại nhỏ nhặt, bìnhthường song lại vô cùng cần thiết cho mỗi con người trong cuộc sống
2 Phân tích, chứng minh
- Những kết luận khoa học thực sự là những “thỏi vàng” bởi chúng có tác động mạnh
mẽ tới toàn thể xã hội Những tri thức văn học không thể so bì với những phát kiếnkhoa học đã góp phần đổi thay lịch sử của nhân loại (Thuyết tương đối của Anhxtanh;Thuyết tiến hóa của Đácuyn; chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác và Ăngghen; ), đemđến cho con người những tri thức chuyên sâu
- Những tri thức trong tác phẩm văn học chỉ là “những đồng tiền nhỏ” bởi:
+Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống qua đôi mắt của nhà văn Mỗitác phẩm là những bức tranh hiện thực cuộc sống chứa đựng những thông điệp mà nhàvăn muốn gửi gắm tới người đọc (Dẫn chứng)
+ Mỗi người đọc khi đến với tác phẩm, bằng năng lực và sở thích của mình lại khámphá ra những bài học khác nhau ẩn chứa trong tác phẩm và tự vận dụng vào cuộc sốngcủa mình (Dẫn chứng)
* Học sinh tùy chọn dẫn chứng văn học, tuy nhiên phải bám sát vấn đề và phải thuyết phục.
3 Bình luận
Trang 16-“ Đồng tiền nhỏ” có thể sử dụng ở khắp mọi nơi và không thể thiếu được trong đờisống của con người Bởi thế những tri thức mà văn học đem lại cho cuộc sống conngười là vô cùng thiết thực và quan trọng.
- Nhiều đồng tiền nhỏ gộp lại sẽ có giá trị ngang với những thỏi vàng lớn Bởi thếnhững tri thức ẩn chứa trong văn học là vô cùng quý giá, không kém gì các kết luậnkhoa học
- Để mỗi tác phẩm văn học thực sự trở thành những “đồng tiền nhỏ” được người đọc
“sử dụng” đòi hỏi mỗi nhà văn cần nỗ lực khám phá, sáng tạo không ngừng Để nhậnthức được những tri thức quan trọng, cần thiết ẩn chứa trong các tác phẩm văn học,người đọc cũng cần đến với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn mình, nâng cao kĩ năng đọchiểu,
Đề 7:
Câu 1 ( 8.0điểm)
Thần thoại Hy Lạp kể rằng: Ngày xưa có một ngôi sao đã đến xin thần Dớt thay đổi vị trí của mình trên bầu trời Ngôi sao nói: “ Con không thích đứng ở góc đường chân trời Ở đó không có gì nổi bật cả” Thần Dớt trả lời ngôi sao nhỏ: “ Quan trọng
là ngươi có tỏa sáng ở nơi mình đang đứng không”.
Suy nghĩ của anh ( chị) về ý nghĩa nhân sinh của câu chuyện trên
2.1 Giới thiệu vấn đề nghị luận
2.2 Giải thích ý nghĩa câu chuyện:
- Ngôi sao nhỏ mong muốn thay đổi vị trí trên bầu trời để được nổ bật vì cho rằng góc đường chân trời là vị trí tầm thường Lời nói của ngôi sao đã đánh đồng vị trí nó đang
đứng với giá trị của chính bản thân
- Lời nói của thần Dớt đã khẳng định: Điều quan trọng không phải vị trí đứng mà là sựtỏa sáng
-> Ý nghĩa của câu chuyện: Giá trị của bản thân chỉ được khẳng định khi nỗ lực hoànthành tốt nhất công việc của mình để cống hiến cho cuộc sống dù ở bất kì vị trí nào
2.3 Suy nghĩ , bàn luận về ý nghĩa triết lý nhân sinh được gợi lên từ câu chuyện
- Trong cuộc sống không có vị trí nào tầm thường, không có công việc nào thấp hèn, chỉ
có những người không cố gắng nỗ lực để làm tốt công việc của mình mà thôi
+ Mỗi vị trí, mỗi công việc trong cuộc sống đều có giá trị và ý nghĩa riêng Vì vậy, mỗingười cần không ngừng nỗ lực để tạo lập giá trị bản thân bằng cách làm tốt công việccủa mình
+ Nhận thức đúng vị trí và công việc mình đang có cũng là coi trọng bản thân Đổ lỗicho hoàn cảnh bắt nguồn từ sự tự ti và hèn nhát, tất yếu sẽ dẫn đến thất bại Bởi vì một
Trang 17công việc được cho là giản đơn cũng đòi hỏi tâm huyết và sự nỗ lực cao nhất của mỗingười.
-Con người làm thế nào để tỏa sáng trong cuộc đời?
+ Mỗi người tùy thuộc vào năng lực, sở trường, điều kiện thực tế để lựa chọn cho mình
mà trong suốt cuộc đời
- Đối với thanh niên , cần chủ động trang bị kiến thức, rèn luyện cách sống bản lĩnh, ýchí để vươn tới thành công
2.5 Khẳng định lại vấn đề.
Câu 2: *
*Yêu cầu về kiến thức:
- Học sinh có hiểu biết sâu sắc về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân và chứng minhsáng rõ qua tác phẩm cụ thể.Có thể trình bày theo cách riêng nhưng phải đảm bảonhững yêu cầu về nội dung, thể loại Trong đó đề cập được những ý cơ bản sau:
1 Giới thiệu khái quát về vấn đề nghị luận.
- Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo vào bậc nhất của văn học
Việt Nam hiện đại – có thể thâu tóm trong một chữ “ ngông”, mà cơ sở chủ yếu là sự tài hoa , uyên bác.
- Sự tài hoa, uyên bác trở thành nét phong cách nổi bật thống nhất trong các sáng tác
của ông cả trước và sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở các thể loại khác nhau, đặc
biệt đậm nét trong truyện ngắn “ Chữ người tử tù” ( lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in năm 1938 trên tạp chí Tao đàn, sau đó được tuyển in trong tập truyện Vang bóng một thời/1940- là tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước cách mạng, được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét là “ một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ”)
2 Giải thích + Bình luận
- Phong cách nghệ thuật (PCNT- hay còn gọi là phong cách văn học) là một phạm trù
thẩm mĩ chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phươngtiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trongtrào lưu văn học … Hay nói cách khác, PCNT chính là sự tìm tòi cái mới, cái của riêngmình, là sự sáng tạo, cách thức thể hiện, tạo dấu ấn riêng trong NT ngôn từ, giọng điệu,hình ảnh … giúp ta phân biệt nhà văn này với nhà văn khác
- PCNT của Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông” Người chơi “ngông”
Trang 18Thái độ ngông của Nguyễn Tuân có đặc sắc riêng: vừa kế thừa truyền thống, vừa tiếp
nhận ảnh hưởng tư tưởng cá nhân của văn hóa phương Tây hiện đại Thể hiện phongcách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác, mỗinhân vật dù thuộc lại người nào cũng đều phải là nghệ sĩ xuất chúng trong nghề nghiệpcủa mình và mọi sự vật luôn được ông khám phá ở phương diện văn hóa thẩm mĩ
-> Sự tài hoa, uyên bác là nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân Cụthể:
+ Tài hoa: quan sát, diễn tả thế giới ở góc độ thẩm mĩ; khám phá và thể hiện con người
ở phương diện tài hoa nghệ sĩ Nhà văn đặc biệt quan tâm, hứng thú với những tính cáchđộc đáo, những cảm giác mãnh liệt, những cảnh tượng tuyệt mĩ đập mạnh vào giác quanngười nghệ sĩ
+ Uyên bác: thể hiện kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực ( khoa học, nghệ thuật, ngônngữ, đời sống, lịch sử )tạo nên những trang viết vừa độc đáo , vừa có giá trị văn hoácao
3 Phân tích và chứng minh : Nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân là sự tài hoa, uyên bác được thể hiện đậm nét trong truyện ngắn “ Chữ người tử
tù”
3.1 Sự tài hoa:
* Khám phá và khắc hoạ nhân vật ở phương diện tài hoa nghệ sĩ:
- Nguyễn Tuân đã xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, một con người có tài viếtchữ đẹp, nhân cách đẹp, tài năng lớn, chí khí lớn
+ Điểm nhấn đầu tiên ở Huấn Cao đó là một người có tài viết chữ, tài năng ấy được thểhiện qua câu hỏi của viên quản ngục , qua sở nguyện của viên quản ngục: từ ngày học
vỡ nghĩa sách thánh hiền, ông ta chỉ ao ước có được chữ Huấn Cao treo ở trong nhà,
“chữ ông đẹp lắm, vuông lắm …là một vật báu ở trên đời”
+ Không chỉ có tài viết chữ , Huấn Cao còn là người có nhân cách đẹp: ông không vìvàng ngọc hay quyền thế ép mình viết câu đối bao giờ Ông đồng ý cho chữ viên quảnngục không phải vì được quản ngục biệt đãi mà vì trân trọng tấm lòng thiên lương củaquản ngục Nói như Huấn Cao: thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ+ Cùng với vẻ đẹp tài năng, Huấn Cao còn có khí phách lớn: ông dám đứng lên chốnglại triều đình Mặc dù bị kết tội tử hình song những ngày cuối sống trong lao tù ông vẫnthể hiện vẻ đẹp uy nghi, đĩnh đạc của mình khi bỏ qua những lời đe dọa của bọn lính coingục rồi ung dung cho chữ trong lao tù…
- Vẻ đẹp tài hoa của con người không chỉ được Nguyễn Tuân gửi gắm qua hình tượngHuấn Cao mà còn được thể hiện qua hình tượng viên quản ngục
+ Mặc dù làm nghề cai ngục song viên quản ngục ấy lại là người có phẩm chất tốt đẹp
“như 1 thứ thanh âm trong trẻo chen vào giữa 1 bản đàn mà cả nhạc và luật đều hỗnloạn, xô bồ” ; có sở thích cao quý: thích chơi chữ đẹp; có thiên lương trong sáng: quýtrọng, ngưỡng mộ người tài
* Xây dựng những cảnh tượng độc đáo, gây cảm hứng mãnh liệt, đập mạnh vào giác quan của người nghệ sĩ:
- Để xây dựng cảnh cho chữ như 1 cảnh hiếm có ở đời, N Tuân tạo lập ít nhất 5 tươngphản, cũng là 5 lí do cắt nghĩa vì sao đây là cảnh tượng xưa nay chưa từng có:
+ HCao, quản ngục đều là 2 tâm hồn nghệ sĩ: 1 người viết chữ đẹp, 1 người biết thưởngthức cái đẹp nhưng cả 2 đều bị ném vào chốn ngục tù nhơ bẩn Họ giống như nhữngthanh âm trong trẻo chen vào giữa bản đàn mà cả nhạc và luật đều hỗn loạn xô bồ
Trang 19+ Hai kẻ tương đắc về nghệ thuật bị đẩy vào thế đối đầu về xã hội tạo thành tương quangiữa tù nhân và quản ngục Vì thế họ không dễ hiểu nhau và chính điều đó làm tăngkịch tính của tp.
+ 1 công việc cao quý như cho chữ vốn chỉ diễn ra ở những nơi sang trọng như thưphòng, sảnh đường nhưng N.Tuân lại đặt nó vào giữa chốn hôi hám của ngục tù trênnền đất ẩm ướt đầy phân chuột, phân gián Đó là 1 sự lựa chọn nghiệt ngã cho sự rađời của cái đẹp
+ Người nghệ sĩ tài hoa HCao phô diễn cái đẹp trong tư thế cổ đeo gông, chân vướngxiềng và cái án chém treo trên đầu Đúng là 1 tình huống phi thường hiếm có bởi cáiđẹp bị dồn vào thế bất lợi trong cuộc đối đầu với cái xấu, cái ác Cái ác đầy quyền lựccòn cái đẹp cô đơn chỉ biết dựa vào chính mình
+ Điều lạ lùng hơn cả là làm chủ chốn ngục tù không phải là kẻ giữ tù mà chính là
người tử tù Vì thế đã diễn ra cuộc đảo lộn vị thế xã hội: quản ngục thì khúm núm, thầy thơ lại thì run run bưng chậu mực, trong khi đó HCao thì uy nghi, đường hoàng,dậm tô
nét chữ vuông vắn trên nền lụa trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ Quả là cái đẹp đãchiến thắng Đó cũng là sự chiến thắng vinh quang của ánh sáng, của cái thiện ngaytrong sào huyệt của bóng tối và cái ác mà biểu tượng rực rỡ nhất là hình ảnh ngọn đuốcsáng rực trong nhà ngục tối tăm
- Phần kết truyện mới thực sự là đoạn văn đạt đến mức thần bút khi NTuân miêu tả cáivái lạy của viên quản ngục" Ngục quan cảm động, vái người tù 1 vái, chắp tay nói mộtcâu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: kẻ mê muội này xin báilĩnh" Chỉ có N Tuân mới tạo ra chi tiết cái vái lạy có 1 không 2 này và chỉ có N Tuânmới phô diễn nổi cái cảnh quyền lực của nhà ngục bị khuất phục trước quyền uy của cáiđẹp Đây cũng là sự đăng quang của cái đẹp ngay giữa chốn tối tăm nhơ bẩn của ngục
tù Cái đẹp đã lên ngôi tỏa sáng và có sức cảm hóa sâu sắc đối với con người
* Nghệ thuật sử dụng ngôn từ: sáng tạo, sống động, tạo hình, tạo không khí, giàu chất
hoạ ( học sinh phân tích ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn tả cảnh cho chữ )
3.2 Sự uyên bác:
- Hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực khoa học nghệ thuật, vận dụng để diễn tả sinhđộng, phong phú, nhiều góc cạnh về hình tượng nhân vật và cảnh tượng được miêu tả:kiến thức lịch sử ( Huấn Cao được xây dựng trên nguyên mẫu Cao Bá Quát); văn hoánghệ thuật ( nghệ thuật thư pháp), điện ảnh ( cảnh cho chữ)
- Hiểu biết về cuộc sống và tâm hồn con người trong quá khứ
- Kho chữ nghĩa phong phú, giàu có: tạo sắc thái trang trọng, cổ kính; vốn từ thuộcnhiều lĩnh vực, miêu tả kĩ lưỡng từ nhiều góc độ,
4 Đánh giá
- Sự tài hoa, uyên bác là nét độc đáo, nổi bật trong PCNT của Nguyễn Tuân, giúp nhàvăn khắc hoạ thành công những hình tượng thẩm mĩ tuyệt đẹp ( Huấn Cao, cảnh chochữ)
- Nguyễn Tuân đã đóng góp cho văn học Việt Nam những trang viết uyên bác, tài hoa,sắc sảo, đầy tính nghệ thuật, tính thẩm mĩ Nhà văn xứng đáng với sự tôn vinh “ một cáiđịnh nghĩa về người nghệ sĩ” ( Anh Đức)
- Tạo nên ấn tượng, sức hấp dẫn, lôi cuốn, sức sống lâu bền của tp, tác giả trong lòngbạn đọc
5 Kết thúc, khẳng định lại vấn đề.
Trang 20Đề 8:
Câu 1 (8 điểm)
“Hạnh phúc vĩ đại nhất và cao quý nhất chúng ta có trên thế giới này là khám phá
ra những chân lý mới, và đứng sau nó chính là loại bỏ thành kiến cũ.” ( Friedrich II)
Anh/chị có suy nghĩ gì về quan điểm trên ?
- “Thành kiến”: được hiểu là quan niệm đơn giản, máy móc, có sẵn, thường không đúng
sự thật thể hiện trong lĩnh vực nhận thức hàng ngày về một nghiệm thể nào đó (của mộtngười, một nhóm người trong cộng đồng xã hội)
- Khái quát vấn đề Đây là một cách quan niệm đáng trân trọng về hạnh phúc: khám pháchân lí mới, loại bỏ các thành kiến cũ
2, Phân tích, bình luận
a) Vì sao hạnh phúc lớn nhất của con người là khám phá chân lí mới
- Chân lí vốn luôn được tôn trọng, bảo vệ
- Mà chân lí mới thường là kết quả của những nỗ lực, cố gắng Hành trình khám pháchân lí có thể phải đánh đổi bằng nỗ lực, khổ đau, mất mát, hi sinh Vì thế tìm ra chân límới, con người cảm thấy thật sự hạnh phúc
b) Vì sao đứng sau chân lí lại là các thành kiến cũ cần loại bỏ
- Có những chân lí bị bao phủ bởi lớp lớp những thành kiến đã từng tồn tại nhiều thập
kỉ (Dẫn chứng chứng minh)
- Thành kiến có khi chỉ của một cá nhân, nhưng phần lớn là định kiến của một nhómngười trong xã hội Thay đổi suy nghĩ, nhận thức của nhóm người đó là chuyện không
hề dễ (Dẫn chứng chứng minh) Chẳng hạn: Chúng ta thường nghĩ rằng, hòa bình là
sự vắng mặt của chiến tranh, rằng nếu các quốc gia hùng mạnh sẽ giảm các kho vũ khícủa họ thì chúng ta có thể có hòa bình Nhưng trên thực tế vũ khí nằm trong tâm trí,thành kiến riêng, trái tim khối óc chúng ta Hoạt động cho hòa bình chính là phải nhổ bỏgốc rễ chiến tranh từ chính trong trái tim con người
3) Bài học nhận thức và hành động
- Tin vào chính mình ( trí tuệ, khả năng…)
- Biết dũng cảm đấu tranh không khoan nhượng với thành kiến để bảo vệ chân lí
Câu 2:
1, Giải thích vấn đề
Câu nói của Ltônxtôi khẳng định vai trò quan trọng của cái tôi nhà văn trong sáng tạonghệ thuật Nhà văn khi viết là phải viết bằng tất cả con người mình: nghĩa là nhà vănphải tạo ra một phong cách riêng, mang cá tính sáng tạo riêng được biểu hiện qua: