+ Vị trí: đoạn thơ nằm ở phần đầu của bài thơ Việt Bắc+ Nội dung: Đây là lời của người đi những cán bộ kháng chiến đã từng gắn bó và công tác ở Việt Bắc, trong đó có Tố Hữu, kh
Trang 11 Yêu cầu về kĩ năng
- Vận dụng kiến thức đọc hiểu trả lời các câu hỏi
- Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Nêu được luận điểm, nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, bài thơ
- Biết huy động kiến thức sách vở và những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài nghị luận xã hội
- Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận (phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh, bác bỏ…) để làm bàivăn nghị luận xã hội, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
2 Yêu cầu về kiến thức
- Học sinh nắm được mục đích, yêu cầu, đối tượng của bài nghị luận nghị luận xã hội, nghị luận về một bàithơ, đoạn thơ
- Các bước triển khai bài nghị luận nghị luận xã hội, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
II LUYỆN ĐỀ:
Đề số 1: I PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
MÙA XUÂN XANH
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi người yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh (Nguyễn Bính, theo Thơ Nguyễn Bính, NXB Giáo dục, 2002)
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Bài thơ đã gợi tả những sắc xanh gì? Qua đó tác giả đã thể hiện vẻ đẹp của mùa xuân như thế nào?
Câu 3: Hình ảnh cái thắt lưng xanh gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 4 đến câu 6
Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, người châu Âu vẫn chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quần đảo Trường Sa với quần đảo Hoàng Sa Cho đến năm 1787-1788, đoàn khảo sát Kergariou Locmaria mới xác định rõ vị trí của quần đảo Paracel (là quần đảo Hoàng Sa hiện nay) và từ đó người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc với một quần đảo khác ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa Đến năm 1791, Henry
Spratly, người Anh, du hành qua quần đảo và đặt tên cho đá Vành Khăn là Mischief Năm
1843 Richard Spratly đặt tên cho một số thực thể địa lý thuộc Trường Sa, trong đó có Spartly’s Sandy Island cho đảo Trường Sa Kể từ đó, Spartly dần trở thành tên tiếng Anh của cả quần đảo Đối với người Việt, thời nhà Lê các hải đảo ngoài khơi phía đông được gọi chung là Đại Trường Sa đảo Đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng thì tên Vạn Lí Trường Sa xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn thổ của Phan Huy Chú Bản đồ này đặt nhóm Vạn Lí Trường Sa ở phía nam nhóm Hoàng Sa Về mặt địa lí thì cả hai nhóm đều nằm dọc bờ biển miền trung nước Đại Nam…
Câu 4: Đoạn văn trên viết về vấn đề gì? Đặt tiêu đề cho đoạn văn.
Trang 2Câu 5: Đoạn văn trên có những cơ sở nào chứng tỏ quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam?
Câu 6: Đọc đoạn văn trên trong không khí chính trị – xã hội hiện nay, em có suy nghĩ gì về chủ quyền biển đảo Tổ quốc? (Viết đoạn văn 5-7 câu)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
(Trích Tây Tiến – Quang Dũng)
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
I PHẦN ĐỌC HIỂU
1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ thất ngôn 2 – Bài thơ gợi lên bạt ngàn sắc xanh từ mọi tầng không gian: trời xanh, lá xanh, lúa xanh, cỏ xanh, tre xanh, thắt lưng xanh,… Các sắc xanh này giao hòa, lan tỏa
– Nhà thơ đã thể hiện vẻ đẹp căng tràn, tươi mới của mùa xuân và mối giao hòa giữa thiên nhiên và con người
3 Trên nền không gian tươi mới của mùa xuân, nổi bật lên hình ảnh cái thắt lưng xanh của người con gái Đó là màu xanh của tuổi trẻ, của tình tình yêu và hi vong Vẻ đẹp của thiên nhiên đã hòa làm một với vẻ đẹp của con người
4 – Đoạn văn trên viết về lịch sử và các tên gọi khác nhau của 2 quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, đưa những cơ sở chứng tỏ 2 quần đảo này là của Việt Nam
– Đặt nhan đề: Trường Sa và Hoàng Sa – Lịch sử và tên gọi
5 Trong đoạn văn trên đã nêu những cơ sở chứng tỏ quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam:
Thứ nhất, thời nhà Lê các hải đảo ngoài khơi phía đông được gọi chung là Đại Trường Sa đảo.
Thứ hai, đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng thì tên Vạn Lí Trường Sa xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn thổ của Phan Huy Chú.
6 (0,5đ)
HS biết cách viết đoạn văn theo đúng qui định về số câu.
Thể hiện suy nghĩ, thái độ và có ý thức hành động về việc bảo vệ chủ quyền dân tộc nói chung và quyền biển đảo nói riêng.
II PHẦN LÀM VĂN
Câu 1 (3,0 điểm) Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp.
Trang 3+ Nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người (0,5đ)
Bản thân nghề nghiệp không làm nên sự cao quí cho con người, sự cao quí ấy phải do tự thân con người làm nên trong quá trình thực hiện nghề nghiệp của mình
Trong xã hội, không có nghề tầm thường, bất cứ nghề nào mang lại lợi ích cho con người
và cộng đồng đều đáng được trân trọng, tôn vinh.
+ Chính con người mới làm nên sự cao quí cho nghề nghiệp (0,5đ)
Thước đo giá trị nghề nghiệp là hiệu quả và phẩm chất đạo đức của người lao động trong công việc.
Sự cao quí của nghề nghiệp là do con người biết đem hết tài năng, sức lực và phẩm chất đạo đức của mình để làm nên các giá trị vật chất hoặc tinh thần, giúp cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
+ Phê phán một số quan niệm lệch lạc trong xã hội hiện nay khi cho rằng có nghề cao quí,
có nghề tầm thường và chạy theo những ngành nghề chỉ đem lại lợi ích trước mắt cho cá nhân (0,25đ)
- Bài học nhận thức và hành động (0,25đ)
Cần phải biết chọn nghề phù hợp với năng lực và trình độ của bản thân.
Cần nuôi dưỡng niềm say mê, tình cảm yêu nghề để có thể tận tâm và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.
Câu 2 (4,0 điểm) Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ
* Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về hai tác giả, hai tác phẩm
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn Còn Tố Hữu một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc.
Tây Tiến (1948), Việt Bắc (1954) đều là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.
*Thân bài:
- Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
+ Vị trí đoạn thơ: nằm ngay phần mở đầu của bài thơ.
+ Nội dung: Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhơ da diết, vời vợi về miền Tây và người lính Tây Tiến Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu mà thơ mộng; con người miền Tây gian khổ mà hào hoa.
- Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu
Trang 4+ Vị trí: đoạn thơ nằm ở phần đầu của bài thơ Việt Bắc
+ Nội dung: Đây là lời của người đi (những cán bộ kháng chiến đã từng gắn bó và công tác
ở Việt Bắc, trong đó có Tố Hữu), khẳng định với người ở lại rằng: dù về xuôi, dù xa cách nhau về không gian địa lí nhưng vẫn nhớ Việt Bắc như nhớ người yêu Từ đó, muốn nói nỗi nhớ của tình yêu là nỗi nhớ cháy bỏng, nỗi da diết nhất, thường trực nhất, để từ đó khẳng định nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của mình với Việt Bắc – suối nguồn nuôi dưỡng của cách mạng.
Sau lời khẳng định là những hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc đẹp như khúc hát đồng quê Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương, là hình ảnh rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm, thơ mộng ở Việt Bắc Trên cái nền trữ tình
là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương chịu khó Con người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người về xuôi.
+ Nghệ thuật:
Các hình ảnh trong hoài niệm nhưng hiện lên thật cụ thể, rõ nét, chứng tỏ sự gắn bó sâu sắc
và nỗi nhớ tha thiết.
Thể thơ lục bát cùng với biện pháp so sánh, điệp từ… đã góp phần thể hiện sâu sắc nỗi nhớ
và tấm lòng thủy chung của người về.
- So sánh hai đoạn thơ
+ Điểm khác biệt:
Nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng được bộc lộ trực tiếp, cụ thể: nỗi nhó đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi Hai chữ chơi vơi vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ và nỗi nhớ da diết, thường trực, ám ảnh, mênh mông bao trùm cả không gian, thời gian Nỗi nhớ của Tố Hữu trong đoạn thơ dùng nỗi nhớ tình yêu để khẳng định nỗi nhớ với quê hương cách mạng.
Hai đoạn thơ (cũng như toàn bài thơ) sử dụng hai hình thức khác nhau để bộc lộ cảm xúc: Tây Tiến sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát.
- Lí giải:
Hai bài thơ đều được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
Quang Dũng và Tố Hữu là hai nhà thơ, hai chiến sĩ, viết về nỗi nhớ của người trong cuộc Mỗi nhà thơ có phong cách sáng tạo nghệ thuật riêng.
* Đánh giá chung về giá trị hai đoạn thơ:
Với hồn thơ đậm đà tính dân tộc, lãng mạn, hào hoa, phóng khoáng, Tố Hữu và Quang Dũng đã làm nổi bật nỗi nhớ thiết tha, sâu nặng về quê hương cách mạng và đơn vị cũ.
Đề số 2:
PHẦN I ĐỌC - HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới, từ câu 1 đến câu 4:
(1) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vừa đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ mất hơn
40 năm nữa để vượt qua mốc thu nhập trung bình 40 năm nữa nghĩa là chúng ta, những người đang đọc bài viết này đều đã già, rất già Thậm chí, có những người có thể đã ở thế giới bên kia Nhưng điều nguy hiểm là không chỉ từng cá nhân, mà ngay cả đất nước này khi ấy cũng đã già nua.
…(2) Cũng giống như một đời người, thời điểm dân số già là lúc quốc gia sẽ phải tiêu tốn tiền bạc đã tích lũy được trong suốt “thời trẻ khỏe” để phục vụ cho giai đoạn không còn
Trang 5hoặc suy giảm khả năng sản xuất Chẳng hạn, năm 2009 cứ hơn bảy người đi làm mới phải
“nuôi” một người già Nhưng đến năm 2049, cứ hai người làm việc đã phải gánh một người già (chưa kể còn trẻ em) Khi ấy, nếu chúng ta chưa tạo dựng được một nền kinh tế
đủ mạnh, cùng nền tảng khoa học kỹ thuật phát triển thì gánh nặng an sinh xã hội cũng như nguy cơ tụt hậu là rất lớn.
(3) Hành động vì tương lai ngay từ lúc này theo tôi, là điều cần thiết với cả xã hội Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách Nợ công được khẳng định vẫn trong giới hạn an toàn Nhưng cần tính toán trước rằng, 10 -20 năm nữa, khoản nợ ấy sẽ dồn lên vai một cộng đồng dân số đã già, chưa chắc nuôi nổi bản thân, huống hồ là trả nợ Từng giọt dầu, từng mẩu tài nguyên… cũng cần được tiết kiệm Bởi đó chính là “của để dành” khi đất nước về già, năng suất lao động đã sụt giảm.
(4) Trong bối cảnh đó, tôi nhận thấy, với một bộ phận thế hệ trẻ, nỗi sợ thời gian dường như vẫn còn rất mơ hồ Họ vẫn dành thì giờ buôn chuyện, chém gió thay vì tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng
ta, đất nước chúng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu.
(Phan Tất Đức, Già trước khi giàu, Vn.Express,Thứ sáu, 26/9/2014 )
Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)
Câu 2: Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Tác dụng? (0,5
điểm)
Câu 3: Theo tác giả, chúng ta, đất nước chúng ta cần làm gì để không rơi vào hoàn cảnh
già trước khi kịp giàu? (0,5 điểm)
Câu 4: Hãy viết một đoạn văn (từ 5- 10 dòng) nhận xét thái độ, quan niệm của tác giả thể
hiện trong câu: Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ
già trước khi kịp giàu (1,5 điểm)
PHẦN II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Cái mạnh của con ngườì Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén với cái mới nhưng bên cạnh cái mạnh
đó vẫn còn tồn tại không ít cái yếu Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học "thời thượng", nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chạy theo học vẹt nặng nề.
(Theo Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới)
Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên
Câu 2 (4,0 điểm)
Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa
kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc Hãy phân tích để làm sáng tỏ điều đó
Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được: trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất
cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng vàquyền tự do
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
"Người ta sinh ra bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được bình đẳng về quyền lợi".
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được (Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)
Phần đọc hiểu:
Câu 1 Phương thức biểu đạt nghị luận/nghị luận.
Câu 2 Thao tác lập luận so sánh/thao tác so sánh/lập luận so sánh/so sánh.
Tác dụng: Giúp người đọc dễ hình dung hơn về những khó khăn của thời điểm dân số già đối với một đất nước, đặc biệt là nước đang phát triển Từ đó, mỗi người có nhận thức và
hành động đúng để Việt Nam không bị già trước khi giàu
-
Trang 6Câu 3 Nội dung chính:
Bài viết đã đề cập đến nguy cơ tụt hậu, không đạt được mục tiêu phát triển của đất nước ta nếu không biết chớp thời cơ, bứt phá để vượt lên trong thời điểm dân số vàng Do vậy, chúng ta cần hành động vì tương lai ngay từ lúc này, cụ thể:
+ Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách, biết tiết kiệm tài nguyên
+ Với tất cả mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ cần tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc.
Câu 4: Viết được đoạn văn nhận xét về quan điểm, thái độ của tác giả trong câu kết của
bài Cần thấy được thái độ lo lắng cũng như niềm hi vọng của người viết trước tình hình thực tế của đất nước Từ đó, nêu suy nghĩ chân thành, nghiêm túc về trách nhiệm của mỗi người trước tương lai của dân tộc.
a Giải thích ý nghĩa câu nói:
- Vế 1: Cái mạnh của con người Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén về cái mới.Tác giả khẳng định người Việt Nam có những điểm mạnh đáng tự hào, đó là sự thông minh trong việc giải quyết vấn đề và sự nhạy bén, nhanh chóng tiếp thu những tri thức mới, thông minh, nhanh nhạy từ lâu đã là bản chất thiên phú của con người Việt Nam.
- Vế 2: Bên cạnh cái mạnh vẫn tồn tại cái yếu Ấy là những lỗ hổng kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học "thời thượng", nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chạy theo học vẹt nặng nề, đó là tình trạng học lệch , học chay, học vẹt diễn ra trong hầu hết học sinh trên mọi miền đất nước.
=> Ý nghĩa của câu nói là nêu những điểm mạnh và yếu của đất nước, con người Việt Nam trong xã hội Ngày nay để nêu lên bài học cần phát huy những mặt mạnh và hạn chế những mặt yếu, hướng tới một đất nước giàu mạnh, phát triển.
b Phân tích, lí giải:
* Những điểm mạnh, điểm yếu của đất nước ta Thái độ của tác giả đối với những quan niệm ấy?
- Điểm mạnh cuả con người Việt Nam:
+ Sự thông minh, nhạy bén (lấy dẫn chứng trong học tập, trong các lĩnh vực khác)
+ Những thế mạnh của con người Việt Nam là ngợi ca và khích lệ đối với việc phát huy những thế mạnh
đó (Dẫn chứng)
- Điểm yếu của đất nước ta:
+ Giáo dục có sự thiếu sót: hiện tượng học sinh học lệch, chỉ chú trọng vào các môn "thời thượng", cácmôn liên quan tới thi Đại học (Dẫn chứng)
+ Tác giả của bài viết cũng bày tỏ mong muốn người dân Việt Nam sẽ khắc phục mọi khó khăn, hạn chếtối đa những điểm yếu của mình để đưa đất nước phát triển (Dẫn chứng)
* Vấn đề đặt ra đối với đất nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: Phát huy những điểm mạnh, khắcphục những điểm yếu: Giáo dục Việt Nam cần phải học tập các Quốc gia trên thế giới về việc điều chỉnh
hệ thống giáo dục (Dẫn chứng)
c Bình luận, liên hệ bản thân:
- Nhận định của Vũ Khoan đến nay vẫn là một bài học, một vấn đề tâm sự nhức nhối, chưa có nhữngchuyển biến rõ rệt, con người Việt Nam vẫn phải từng bước khắc phục để đưa đất nước phát triển
- HS - những chủ nhân tương lai của đất nước phải làm gì để đất nước ngày một phát triển?
3 Kết bài:
Khẳng định lại ý kiến, suy nghĩ của cá nhân
Câu 2: - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập
- Phân tích làm sáng tỏ đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao
tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc
Trang 7* Nhiệm vụ của phần mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài Nguyên lícủa Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếpnguyên lí ấy mà lại dựa vào hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền vàDân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” của tất cả cácdân tộc trên thế giới Đây chính là nghệ thuật “Lấy gậy ông đập lưng ông”
* Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, ngườiPháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của nhữngdân tộc ấy Cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết:
- Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ để “khoá miệng” bọn đếquốc Pháp, Mĩ đang âm mưu xâm lược và can thiệp vào nước ta (sự thật lịch sử đã chứng tỏ điều này)
- Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm dấy bùn lên lá cờ nhân đạo của nhữngcuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam
* Đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàngnhau (và thực sự, cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của
Mĩ (1776) và của Pháp (1791)
Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Tuyên ngônĐộc lập của Mĩ, Bác viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bìnhđẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Ý kiến “Suy rộng ra”ấy quả là mộtđóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó như phát súng lệnh khởiđầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau
TK XX
- Đánh giá khái quát vấn đề, cách lập luận của tác giả trong đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập
Đề 3:
I PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:
Đánh giá đời sống của mỗi người cao hay thấp hãy nhìn vào thời gian nhàn rỗi của họ Có người làm việc “đầu tắt mặt tối” không có lấy chút nhàn rỗi Có người phung phí thời gian ấy vào các cuộc nhậu nhẹt triền miên Có người biết dùng thời gian ấy để phát triển chính mình Phải làm sao để mỗi người có thời gian nhàn rỗi và biết sử dụng hữu ích thời gian ấy là một vấn đề lớn của xã hội có văn hóa.
Đánh giá đời sống một xã hội cũng phải xem xã hội ấy đã tạo điều kiện cho con người sống với thời gian nhàn rỗi như thế nào Công viên, bảo tàng, thư viện, nhà hát, nhà hàng, câu lạc bộ, sân vận động, điểm vui chơi,…là những cái không thể thiếu Xã hội càng phát triển thì các phương tiện ấy càng nhiều, càng đa dạng và càng hiện đại Xã hội ta đang chăm lo các phương tiện ấy, nhưng vẫn còn chậm, còn sơ sài, chưa có sự quan tâm đúng mức, nhất là ở các vùng nông thôn.
Thời gian nhàn rỗi chính là thời gian của văn hóa và phát triển Mọi người và toàn xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi người.
(Phỏng theo Hữu Thọ, dẫn theo SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam,
2011, tr.94)
Câu 1 Đoạn trích trên chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)
Câu 2 Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích trên? (0,5 điểm)
Câu 3 Đặt nhan đề cho đoạn trích? (0,25 điểm)
Câu 4 Nêu ít nhất 03 biện pháp để sử dụng thời gian nhàn rỗi của bản thân một cách hợp lí Viết một
đoạn văn ngắn 5 -7 dòng (0,5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 5 đến 7:
Năm 20 của thế kỷ 20 Tôi sinh ra Nhưng chưa được làm người Nước đã mất Cha đã làm nô lệ
Ôi những ngày xưa Mưa xứ Huế Mưa sao buồn vậy, quê hương ơi!
Ngẩng đầu lên, không thấy mặt trời Ðất lai láng những là nước mắt
Có lẽ vậy thôi Tôi đã trôi như con thuyền lay lắt Trên dòng sông mù sương
Tôi đã khô như cây sậy bên đường
Trang 8Ðâu dám ước làm hoa thơm trái ngọt Tôi đã chết, lặng im, như con chim không bao giờ được hót Một tiếng ca lảnh lót cho đời
Nếu chậm mùa xuân ấy, em ơi!
(Một nhành xuân – Tố Hữu) Câu 5 Trong đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)
Câu 6 Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh mặt trời và nước mắt trong đoạn thơ (0,5 điểm)
Câu 7 Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất được thể hiện trong 7 dòng thơ
Khi bàn về hình tượng âm thanh tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca- Thanh Thảo có ý
kiến cho rằng: “Tiếng đàn là thân phận của Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một
thực tại mà cái ác ngự trị” Lại có ý kiến khẳng định: “Tiếng đàn là sức sống và cũng là nghệ thuật bất
tử của Lorca”.
Qua việc cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn trong bài thơ anh/ chị hãy bình luận hai ýkiến trên
ĐỌC- HIỂU
1 Đoạn trích chủ yếu sử dụng thao tác lập luận bình luận
2 Nội dung chính của đoạn trích: Nói về việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của mỗi người, nêu thực trạng và
kêu gọi mọi người, xã hội hãy chăm lo
thời gian nhàn rỗi bởi đó là vấn đề văn hóa
3 Đặt nhan đề: Thời gian nhàn rỗi/ Sử dụng thời gian nhàn rỗi/ Thời gian nhàn rỗi- vấn đề văn hóa… 4
- Hình thức: HS viết đúng hình thức đoạn văn, đúng quy định về số dòng (không đúng trừ 0,25)
- Nội dung: Nêu ít nhất 3 biện pháp để sử dụng thời gian nhàn rỗi của bản thân một cách hợp lí:
Ví dụ: đọc sách, chơi thể thao, tham gia các câu lạc bộ, du lịch…
5 Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
6
- Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh:
+ Mặt trời – tượng trưng cho tự do/ ánh sáng của lí tưởng/cuộc sống tươi đẹp;
+ Nước mắt - tượng trưng cho sự thương đau/ mất mát/ nô lệ/ lầm than/ cuộc sống tối tăm.
7
- Biện pháp nghệ thuật tiêu biểu nhất: So sánh
- Tác dụng: thể hiện rõ tình trạng mất phương hướng, mất niềm tin và mơ ước, sống vô nghĩa, lay lắt của
nhân vật trữ tình/ tôi khi chưa gặp được mùa xuân của lí tưởng.
Phần làm văn:
Câu 1: 1 Giải thích.
+ Nghịch cảnh là hoàn cảnh trớ trêu, nghịch lý, éo le mà con người không mong muốn trong cuộc sống.
Ví dụ: Ốm đau, tai nạn, chiến tranh, xung đột,…
+ Nghịch cảnh không chỉ là phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ và bản lĩnh: Nghĩa là
qua nghịch cảnh, con người không chỉ hiểu thêm về tâm hồn, tình cảm của mình và của người mà quantrọng hơn, thấy được trí tuệ và bản lĩnh trong cuộc sống
+ Ý cả câu: Khẳng định ý nghĩa của nghịch cảnh trong quá trình nhận thức và tự nhận thức của con người
2 Bàn luận ý kiến
+ Nghịch cảnh là một phần tất yếu của cuộc sống và ai cũng phải trải qua ít nhất một lần trong đời
+ Qua nghịch cảnh, ta hiểu thêm về trái tim mình và trái tim người, thấy được tình cảm của tập thể và cảdân tộc
+ Đối diện và vượt qua nghịch cảnh, mỗi người và cả dân tộc sẽ chứng tỏ được tầm vóc của trí tuệ và bảnlĩnh của mình
+ Phê phán quan niệm và hành động sai lầm: chạy trốn hay đầu hàng nghịch cảnh, thiếu tỉnh táo sáng suốtkhi gặp hoàn cảnh éo le, ngang trái, dễ thất bại trong công việc, thậm chí bị kẻ thù lợi dụng
Trang 93 Bài học nhận thức và hành động.
+ Tự làm giàu cho tâm hồn và trí tuệ để có sức mạnh vượt qua nghịch cảnh Nhưng không chỉ trongnghịch cảnh mới giúp ta nhận thức được nhiều điều mà ngay trong những hoàn cảnh bình thường của cuộcsống thường ngày thì mỗi người cần luôn có ý thức học hỏi, cầu tiến để rút kinh nghiệm cho mình, traudồi kiến thức cho bản thân
+ Sống yêu thương, đoàn kết, tỉnh táo để cùng nhau chiến thắng nghịch cảnh với cả cộng đồng
Câu 2: 1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề
- Thanh thảo là nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ, có nhiều nỗlực cách tân thơ sau năm 1975, nổi bật là sự tìm kiếm những cách biểu đạt mới trong thơ
- Đàn ghi ta của Lorca rút từ tập thơ Khối vuông Ru- bích (1985) là thi phẩm tiêu biểu của Thanh Thảo.
Bài thơ được lấy cảm hứng từ nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của Lor- ca, là tiếng nói tri âmcủa Thanh Thảo đối với người nghệ sĩ Tây Ban Nha Hình tượng âm thanh tiếng đàn là một sáng tạo độcđáo của nhà thơ Việt Trích dẫn 2 ý kiến
2 Giải thích 2 ý kiến.
- Hai ý kiến là hai nhận xét khác nhau về ý nghĩa của hình tượng tiếng đàn
+ Ý kiến trước nhìn tiếng đàn như một thực thể mong manh, ngắn ngủi để thấy tiếng đàn là thân phận
Lor-ca, nghệ thuật Lor-ca
+ Ý kiến sau lại nhận ra tiếng đàn như một sinh thể có sức sống bất diệt để thấy tiếng đàn tượng trưng cho
vẻ đẹp tâm hồn, cho sức sống của nghệ thuật Lor-ca
3 Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn và bình luận 2 ý kiến.
a Cảm nhận về hình tượng âm thanh tiếng đàn:
* Tiếng đàn là thân phận Lor-ca, thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị.
- Những tiếng đàn bọt nước mong manh và ngắn ngủi được đặt trong sự tương phản, đối lập với sắc đỏ gắt
của trận đấu bò sinh tử, của nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân chủ, gợi liên tưởngtới thân phận đơn độc nhỏ nhoi, khiêm nhường, số phận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca trong bối cảnhchính trị căng thẳng, dữ dội Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát vọng dân chủ của nhân dânnói chung, của Lor-ca nói riêng với nền chính trị độc tài Xét trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là cuộc xungđột giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua Xét ở phương diện nào thì Lor-cacũng một nghệ sĩ- chiến sĩ đơn độc
- Tiếng ghi ta vỡ tan và ròng ròng máu chảy: Tiếng đàn đã thành thân phận đau thương của
Lor-ca, của nghệ thuật trước sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù Hai tiếng “vỡ tan”, vừa là sự vỡ ra của bọt nướcvừa là sự phập phồng thổn thức của tiếng đàn Nó đã cất lên lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủydiệt cái tài, hủy diệt cái đẹp Và vì thế, bản ghi ta bi tráng đẩy đến độ cao trào của sự bi phẫn, nó ròngròng máy chảy, nó uất nghẹn, tức tưởi đến bật máu thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giaohưởng hào sảng Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi khát vọng chưa thành Âmthanh tiếng đàn như tiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trước thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt Thì
ra, nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinh mệnh
* Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hồn Lor-ca, là sức sống bất diệt của nghệ thuật.
- Tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh: Tiếng đàn mang âm vang và sắc màu của một tâm hồn rạo rực, say
đắm trong tình yêu, thiết tha, khắc khoải với sự sống của người nghệ sĩ đa tài Màu nâu xuất hiện suy tư,trầm tĩnh đến lạ thường Đó là màu nâu của vỏ cây đàn, màu nâu của đất đai, màu nâu của làn da, mái tóc
cô gái Digan Trước giây phút từ li, chàng đã ngước lên nhìn bầu trời xanh tha thiết, bầu trời khát vọng,bầu trời yêu thương nơi có bóng hình nàng Maria thủy chung Đó là màu xanh, là sự hóa thân của Lor-ca
và tiếng đàn vào thiên nhiên mang sức sống cỏ cây Hai tiếng “biết mấy” nằm ở cuối câu vừa là sự thathiết trong tình cảm của người nghệ sĩ Thanh Thảo vửa tôn thêm vẻ đẹp của tuổi trẻ Lor-ca – vẻ đẹp củangười chiến sĩ suốt đời hi sinh vì lý tưởng
- Tiếng đàn mãi trường tồn “không ai chôn cất tiếng đàn/ tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: “tiếng đàn”
tượng trưng cho nghệ thuật của Lor-ca, cho tình yêu tự do, yêu con người mà suốt đời ông theo đuổi; đó làcái đẹp không thể bị hủy diệt, nó sẽ sống, sẽ lan truyền mãi, giản dị mà kiên cường như cỏ dại Giai điệu
li-la li-la li-la mãi vang ngân là một ẩn dụ tượng trưng cho sức sống bất diệt của Lor-ca, của nghệ thuật,
của những giá trị chân chính trên cõi đời này Tiếng đàn mang tên loài hoa Li La như sự sống vẫn lặng lẽtỏa hương, hiện hữu giữa cuộc đời
(Lưu ý: HS có thể trình bày theo cách khác nhưng phải làm nổi bật được vấn đề: Ví dụ:
- Hình ảnh đầu tiên mà Thanh Thảo gợi ra là những tiếng đàn bọt nước (0,25)
- Hình tượng tiếng ghi ta trong những giây phút bi phẫn trong cuộc đời Lor-ca (0,75)
Trang 10- Hình ảnh tiếng đàn sau cái chết của Lor-ca (0,5)
b Bình luận 2 ý kiến.
- Hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau cùng khẳngđịnh những ý nghĩa tượng trưng của hình tượng tiếng đàn: Tiếng đàn vừa là một ẩn dụ nghệ thuật của thânphận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca, của nghệ thuật vừa là hỉnh ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp sức sốngbất diệt của tâm hồn Lor-ca, của nghệ thuật nói chung
- Hình tượng có được nhiều ý nghĩa ấy là do Thanh Thảo đã sử dụng phối kết hợp nhiều biện pháp nghệthuật: Đối lập, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, điệp ngữ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh để tạo nên nhiều hình ảnhthơ lạ hóa giàu sắc thái tượng trưng, siêu thực, hình thức câu thơ tự do, ngắt nhịp bất thường, giàu chấtnhạc, chất họa…
4 Đánh giá chung
- Khẳng định lại hai ý kiến trên và đánh giá chung về hình tượng Lor-ca, khẳng định sự bất tử của Lor-ca,của tiếng đàn Lor-ca Người nghệ sĩ ấy đã chết nhưng tiếng đàn của ông vẫn sống mãi với Tây Ban Nha,với lòng người yêu tự đo, yêu hòa bình
- Khẳng định tài năng độc đáo, sự trăn trở của người nghệ sĩ Thanh Thảo trên hành trình sáng tạo ông đãhóa thân, nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật vào cuộc đời và số phận của Lor-ca, sự cộng hưởngcùng khát vọng sáng tạo để suy ngẫm sâu xa về nỗi đau, niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ lớn đã dânghiến trọn vẹn cho cái đẹp
Đề số 4:
Phần I Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4
Những hiện tượng nảy sinh trong giới trẻ thể hiện qua âm nhạc, thời trang, và lối sống
cho thấy một lớp văn hoá mới - văn hoá giới trẻ - đã ra đời, hoàn toàn phù hợp với những biến đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội của đất nước trong thời đại mới, đặc biệt là ở những đô thị lớn…Với những đặc điểm của một xã hội mang tính chất hiện đại phản ánh xã hội đô thị Việt Nam đương đại mang lại cho giới trẻ nhiều tự do và chọn lựa hơn…Tuy nhiên, bên cạnh đó, chủ nghĩa hiện đại phản ánh cũng đem đến những lo âu và bấp bênh khi những đổi thay ồ ạt đang diễn ra trên toàn thế giới bao gồm trong nó cả sự mơ hồ do không hề có những chuẩn mực nhất định nào cho những thay đổi này Đây là những khó khăn mà thế
hệ trẻ phải đối mặt trong quá trình xây dựng bản sắc cho riêng mình, những bản sắc đang trong giai đoạn định hình được miêu tả là vụn vặt và rời rạc Quá trình này đòi hỏi thanh niên phải luôn tỉnh táo, độc lập, làm chủ được những mối quan hệ cũng như tương lai của bản thân Thực tế cho thấy thanh niên ngày nay phải đối mặt với rất nhiều khó khăn
Những định kiến dựa vào văn hoá truyền thống do vậy sẽ chỉ làm tăng thêm nơi họ sự mơ
hồ vốn có Văn hoá giới trẻ là một thực tế xã hội cần được công nhận Thanh niên ngày nay rất năng động và luôn nỗ lực hết sức để khẳng định mình Chúng ta cần khuyến khích điều đó Cách suy nghĩ cởi mở, khách quan là rất cần thiết trong việc hỗ trợ thế hệ trẻ chọn lựa cho mình một hướng đi đúng đắn.
(Dẫn theo Lê Thu Hường- Lê Duy Thể, http: // www.vanhoahoc.com.)
Câu 1 Đoạn văn trên đề cập tới vấn đề gì? (0.5 điểm)
Câu 2 Tác giả quan tâm đến những hiện tượng nào nảy sinh trong giới trẻ? (0,25 điểm) Câu 3 Tác giả xác định thanh niên cần phải làm gì để xây dựng bản sắc riêng cho mình?
(0,25 điểm)
Câu 4 Theo tác giả, xã hội cần làm gì để hỗ trợ giới trẻ lựa chọn con đường đi đúng đắn?
Đánh giá về góc nhìn này? (0,5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8.
Nấm mồ xanh
như một giọt lệ ngưng
trên hình hài Tổ quốc
Trang 11chúng tôi đến bên anh như lá xanh non cúi nhìn cội rễ
một màu thạch thảo thanh tao.
Từ nơi nào mẹ đã tiễn anh đi?
mái rạ, bờ đê hàng cây, góc phố…
đê vẫn xanh và bờ cây còn gió…
(Viết bên mộ liệt sĩ vô danh- Tuyết Nga)
Câu 5 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ ? (0,25 điểm )
Câu 6 Xác định biện pháp tu từ có trong đoạn thơ trên? Tác dụng? (0,5 điểm)
Câu 7 Từ đoạn thơ, nghĩ gì khi thấy có những người làm giả hồ sơ thương binh, bệnh
Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó
Sao ta không tròn ngay tự trong tâm.
(Trích Tự sự- Nguyễn Quang Hưng)
Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày những suy nghĩ của anh/chị được gợi ra từ hai câu thơ trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”…
mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
(Đất Nước-Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập
một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.118 )
Bàn về đoạn thơ trên, có ý kiến cho rằng: Trong đoạn thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cố
gắng thể hiện hình ảnh Đất nước gần gũi, giản dị Đó là cách để đi vào lòng người, cũng
là cách nhà thơ đi con đường riêng của mình không lặp lại người khác.
Ý kiến của anh (chị)
Phần I Đọc hiểu (3,0 điểm)
Câu 1 Đoạn văn trên đề cập tới vấn đề: về vấn đề văn hóa của giới trẻ
Câu 2 Tác giả quan tâm đến những hiện tượng nảy sinh trong giới trẻ : âm nhạc, thời
trang, lối sống.
Câu 3 Tác giả xác định thanh niên cần phải tỉnh táo, độc lập, làm chủ được những mối
quan hệ cũng như tương lai của bản thân.
Câu 4 Theo tác giả, xã hội cần: cần khuyến khích, có cách suy nghĩ cởi mở, khách quan để
hỗ trợ giới trẻ lựa chọn con đường đi đúng đắn
- Đánh giá về góc nhìn này: Đây là góc nhìn biện chứng, khoa học, dân chủ, nhân văn.
Câu 5 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.
Câu 6.
Trang 12- Xác định biện pháp tu từ có trong đoạn thơ trên và nêu tác dụng
+ Biện pháp ẩn dụ, so sánh: Nấm mồ xanh như một giọt lệ ngưng trên hình hài Tổ
quốc.; chúng tôi đến bên anh như lá xanh non cúi nhìn cội rễ
+ Tác dụng: Khẳng định nỗi xúc động của tác giả khi nghĩ về mất mát đau thương, sự cống hiến, sự hi sinh của các anh- những liệt sĩ sĩ vô danh Xương máu các anh đã vẽ nên hình hài đất nước Đồng thời thể hiện tấm lòng biết ơn của thế hệ hôm nay với các liệt sĩ đã ngã xuống vì sự bình yên của Tổ quốc.
Câu 7 Từ đoạn thơ, nghĩ gì khi thấy có những người làm giả hồ sơ thương binh, bệnh
binh Suy nghĩ: sự phẫn nộ, day dứt, xót xa vì đó là hành động vô đạo đức, vi phạm pháp luật.
Câu 8 Viết đoạn văn ngắn (6-8 dòng) trình bày cảm xúc của anh (chị) khi đọc đoạn thơ
trên.
- Về hình thức: đúng yêu cầu một đoạn văn, đúng dung lượng
- Nội dung: trình bày được cảm xúc: sự xúc động, tự hào, biết ơn
II Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
* Giải thích ý kiến để thấy được: Cuộc đời “méo mó: không bằng phẳng, gập ghềnh, ẩn chứa nhiều cái xấu cái ác, ẩn chứa gian nhiều truân, thử thách, …không như con người mong muốn Bởi vậy con người cần “tròn tự trong tâm”: cần có cái nhìn lạc quan, tích cực, cần có ý chí nghị lực để vượt qua khó khăn, nghịch cảnh chứ không phải chỉ chê bai, oán trách.
* Chứng minh tính đúng đắn (hoặc sai lầm; hoặc vừa đúng, vừa sai) của ý kiến bằng việc bày tỏ sự đồng tình (hoặc phản đối; hoặc vừa đồng tình, vừa phản đối) đối với ý kiến Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
- Bản chất cuộc đời là không đơn giản, không bao giờ hoàn toàn là những điều tốt đẹp, thậm chí có vô vàn những điều “méo mó”, thử thách bản lĩnh, ý chí của con người Thái độ
“tròn tự trong tâm” là thái độ tích cực, chủ động trước hoàn cảnh.
- Thái độ “tròn tự trong tâm” sẽ giúp ích nhiều cho cá nhân và xã hội Thái độ, suy nghĩ của bản thân sẽ chi phối hành động, từ đó quyết định công việc ta làm Cùng một hoàn cảnh
có người chỉ ngồi than khóc còn người “tròn tự trong tâm” sẽ nỗ lực để đi qua thử thách đó
và hướng đến thành công Đây là thái độ sống đúng, làm đúng, không gục ngã trước khó khăn, trước phi lý bất công.
- Nêu và phê phán một số hiện tượng tiêu cực: “ta hay chê”, chỉ biết than thở, không tích cực suy nghĩ và hành động.
* Bình luận để rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh về vấn đề lựa chọn thái độ sống đúng đắn: đứng trước cái “méo mó” của nhân sinh, cần có cái nhìn lạc quan, hành động quyết đoán, tôi rèn nghị lực để chống chọi với hoàn cảnh, để cải tạo hoàn
cảnh…để cuộc sống có ý nghĩa hơn.
Câu 2 (4,0 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trong đoạn thơ đầu tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã
xây dựng một hình ảnh Đất nước gần gũi, giản dị bằng những hình thức nghệ thuật đặc biệt nhất là sử dụng thành công chất liệu văn hóa dân gian.
* Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, trường ca Mặt đường khát vọng và chương Đất
nước.
* Giải thích ý kiến: Ý kiến này khẳng định: nhà thơ đã xây dựng hình ảnh một Đất nước giản dị, quen thuộc với tất cả mọi người chứ không phải là một Đất nước kì vĩ, xa xôi Nội dung đó được thể hiện qua những hình thức nghệ thuật đặc biệt Đây chính là nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ.