32 CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC GIỮA CÁC NHÓM TỈNH THÀNH PHÂN THEO THU NHẬP CỦA VÙNG ĐBSCL... Trong kinh tế, thu nhập bình quân là tiêu chí quan
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Người thực hiện đề tài
Trần Thị Tuyết
Trang 2ii
LỜI CÁM ƠN
Luận năn này không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ hỗ trợ, động viên từ gia đình, giảng viên hướng dẫn, các thầy cô trong trường và những người bạn của tôi Tôi vô cùng biết ơn mọi người đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian qua
Đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn PGS
TS Nguyễn Thuấn Thầy đã định hướng gợi mở cho tôi những ý tưởng mới, giúp tôi tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, sửa cho tôi từng câu chữ trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thầy luôn khích lệ và đốc thúc tôi hoàn thành luận văn này
Hơn nữa, tôi cũng gửi lời cám ơn đến tất cả các quý Thầy cô đang giảng dậy, công tác tại Khoa Sau Đại Học trường Đại Học Mở Tp HCM đã tận tình chỉ dậy, giúp đỡ tôi và các bạn trong khóa hoàn thành tốt các môn học trong chương trình
Sau cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến các bạn cùng lớp Cao Học Kinh Tế Học khóa 7 và những người bạn thân thiết của tôi đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin trân thành cám ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Người thực hiện đề tài
Trần Thị Tuyết
Trang 3Số liệu thứ cấp được lấy từ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm
2014 Luận văn tiến hành trích lọc số liệu riêng của khu vực ĐBSCL, sau đó trích lọc riêng ra số liệu của nhóm 1 và nhóm 2 tiếp theo tiến hành hồi quy theo phương pháp OLS và Thống kê mô tả Các mô hình nghiên cứu đều có ý nghĩa thống kê với kết quả cho thấy các yếu tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đó đến chi tiêu cho giáo dục của các nhóm hộ là khác nhau
Các nhân tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục của vùng ĐBSCL là: Thu nhập, chi tiêu y tế, chi ăn uống thường xuyên, tổng số người, dân tộc của chủ hộ (dân tộc kinh), TĐHV chủ hộ, giới tính chủ hộ (nam), tình trạng hôn nhân chủ hộ (đang có vợ chồng), khu vực sinh sống (thành thị) và nghề nghiệp của chủ hộ (lao động giản đơn)
Với kết quả phân tích, để nâng cao chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL, luận văn khuyến nghị Chính phủ cần ưu tiên nguồn lực và ngân sách đầu tư cho giáo dục đào tạo của khu vực ĐBSCL Bên cạnh đó chính quyền địa phương khu vực ĐBSCL cần đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị dạy học ở các địa bàn còn khó khăn của vùng Đồng thời, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trợ cấp giáo dục cho các hộ nghèo của vùng Luận văn tuy còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định, kết quả nghiên cứu vẫn là tài liệu có giá trị tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề giáo dục
Trang 4iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 6
2.1 Các khái niệm 6
2.1.1 Hộ gia đình 6
2.1.2 Chi tiêu cho giáo dục của hộ 6
2.1.3 Sự cần thiết của phân nhóm thu nhập 7
2.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 7
2.2.1 Định nghĩa 7
2.2.2 Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng 7
Trang 5v
2.2.3 Lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu 8
2.3 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục 11
2.4 Lý thuyết về hành vi ra quyết định của hộ gia đình 12
2.5 Lý thuyết về kinh tế hộ gia đình 13
2.6 Các nghiên cứu trước 14
2.6.1 Mô hình nghiên cứu của Aysit Tansel (1999) 14
2.6.2 Mô hình nghiên cứu của Mauldin và các cộng sự (2001) 15
2.6.3 Mô hình nghiên cứu của Tilak (2002) 16
2.6.4 Mô hình nghiên cứu của Meng Zhao và Paul Glewwe (2007) 18
2.6.5 Mô hình nghiên cứu của Dang (2007) 19
2.6.6 Mô hình nghiên cứu của Qian và Smyth (2010) 19
2.6.7 Mô hình nghiên cứu của Vu (2012) 20
2.6.8 Mô hình nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012) 21
2.6.9 Mô hình nghiên cứu của Đào Thị Yến Nhi (2013) 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 30
3.1 Phương pháp nghiên cứu 30
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 30
3.1.2 Phương pháp phân tích số liệu 31
3.1.3 Thống kê mô tả 31
3.2 Mô hình nghiên cứu 32
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC GIỮA CÁC NHÓM TỈNH THÀNH PHÂN THEO THU NHẬP CỦA VÙNG ĐBSCL 38
4.1 Một số thông tin chung về tình hình giáo dục của khu vực ĐBSCL 38
Trang 6vi
4.1.1 Khái quát về tình hình giáo dục khu vực ĐBSCL 38
4.1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 40
4.1.4 Tình trạng hôn nhân của chủ hộ 46
4.1.5 Giới tính của chủ hộ 46
4.1.6 Dân tộc của chủ hộ 47
4.1.7 Khu vực sinh sống của hộ 47
4.1.8 Trình độ học vấn của chủ hộ vùng ĐBSCL theo hai nhóm tỉnh 48
4.2 Phân tích thống kê mô tả 49
4.2.1 Thu nhập và chi tiêu giáo dục của hộ 51
4.2.2 Chi tiêu y tế và chi giáo dục 52
4.2.3 Chi ăn uống thường xuyên và Chi giáo dục 52
4.2.4 Tổng số người và chi giáo dục của hộ 53
4.2.5 Trình độ học vấn của chủ hộ và chi giáo dục 54
4.2.6 Dân tộc, giới tính, khu vực sinh sống chủ hộ và chi giáo dục 55
4.2.7 Nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân của chủ hộ và chi tiêu giáo dục 56
4.2.8 Cơ cấu chi tiêu của các hộ dân trong vùng theo hai nhóm tỉnh 57
4.3 Kiểm định mô hình 60
4.3.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 60
4.3.2 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Adjusted R Square) 61
4.3.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến và tương quan giữa các biến 61
4.3.4 Kiểm định phương sai phần dư thay đổi 62
4.4 Kết quả nghiên cứu 63
4.4.1 Kết quả mô hình hồi quy bằng phương pháp OLS 64
Trang 7vii
4.4.2 Thảo luận kết quả 64
4.4.2 Mô hình hồi quy đối với nhóm 1 và nhóm 2 của khu vực ĐBSCL 68
Mô hình hồi quy nhóm 1 68
4.5 Giải pháp nhằm nâng cao trình độ hoc vấn cho người dân vùng ĐBSCL 72
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Khuyến nghị 76
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 85
Trang 8viii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước 22
Bảng 3 1: Thông tin nguồn dữ liệu được trích cho vùng ĐBSCL 30
Bảng 3 2: Bảng diễn giải và kỳ vọng các biến trong mô hình 33
Bảng 4 1: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ giai đoạn 2010 – 2014 38
Bảng 4 2: Tỷ lệ biết đọc biết viết dân số từ 15 tuổi trở lên, 2014 39
Bảng 4 3: Tỷ lệ đi học chung và tỷ lệ đi học đúng tuổi, 2014 39
Bảng 4 4: Tỷ trọng dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo TĐHV cao nhất, 2014 41
Bảng 4 5: Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên theo trình độ CMKT đạt được, 2014 42 Bảng 4 6: Trình độ học vấn của chủ hộ trong khu vực ĐBSCL 43
Bảng 4 7: Số người trong gia đình theo từng hộ của người dân vùng ĐBSCL 44
Bảng 4 8: Tình trạng hôn nhân của chủ hộ 46
Bảng 4 9: Giới tính của chủ hộ 46
Bảng 4 10: Dân tộc của chủ hộ 47
Bảng 4 11: Khu vực sinh sống của các hộ gia đình ĐBSCL 48
Bảng 4 12: Trình độ học vấn của chủ hộ vùng ĐBSCL theo 2 nhóm tỉnh 48
Bảng 4 13: Thống kê mô tả các biến 49
Bảng 4 14: Chi tiêu giáo dục theo các khoảng thu nhập 51
Bảng 4 15: Chi tiêu giáo dục theo khoảng chi tiêu y tế 52
Bảng 4 16: Chi tiêu giáo dục theo khoảng Chi ăn uống thường xuyên 52
Bảng 4 17: Chi tiêu giáo dục theo số người trong hộ 53
Bảng 4 18: Chi tiêu giáo dục theo trình độ học vấn Chủ hộ 54
Trang 9ix
Bảng 4 19: Chi giáo dục theo Dân tộc, Giới tính và Khu vực sinh sống 55
Bảng 4 20: Chi tiêu giáo dục theo nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân 56
Bảng 4 21: Nhóm tỉnh thành theo thu nhập của người dân vùng ĐBSCL 57
Bảng 4 22: Bảng phân tích phương sai ANOVA của vùng ĐBSCL 60
Bảng 4 23: Bảng phân tích phương sai ANOVA nhóm tỉnh nghèo vùng ĐBSCL 60
Bảng 4 24: Bảng phân tích phương sai ANOVA nhóm các tỉnh giàu vùng ĐBSCL 61
Bảng 4 25: Bảng kết quả mô hình 64
Trang 10x
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2 1: Đường tiêu dùng theo thu nhập 9
Hình 2 2: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa thiết yếu 9
Hình 2 3: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa xa xỉ 10
Hình 2 4: Đường cong Engel đối với X là hàng hóa cấp thấp 10
Hình 2 5: Khung phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng chi tiêu cho giáo dục 28
Hình 4 1: Tỷ lệ đi học chung chia theo cấp học, thành thị/nông thôn 2009 - 2014 40
Hình 4 2: Trình độ học vấn của chủ hộ khu vực ĐBSCL 41
Hình 4 3: Trình độ học vấn của chủ hộ vùng ĐBSCL 43
Hình 4 4: Số người trong hộ ở vùng ĐBSCL 45
Trang 11xi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VHLSS Dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình
Trang 121
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng sản xuất, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Bởi tri thức và phẩm chất của người lao động là sản phẩm của quá trình giáo dục và đào tạo Các quốc gia đều nhìn nhận rằng một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ, toàn diện sẽ tạo ra những nhà khoa học, những người lao động có tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp, năng động và sáng tạo Đối với mỗi người, giáo dục và đào tạo còn là quá trình hình thành, phát triển thế giới quan, tình cảm, đạo đức, hoàn thiện nhân cách Đối với xã hội, giáo dục và đào tạo còn là quá trình tích tụ nguồn vốn con người để chuẩn bị cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội Với ý nghĩa và tầm quan trọng ấy, đầu tư cho giáo dục được xem như là đầu tư cho phát triển
Việt Nam là nước đang trong giai đoạn phát triển thì giáo dục càng cần được coi trọng Do đó, Đảng và nhà nước luôn giành sự đầu tư đặc biệt cho sự nghiệp phát triển giáo dục Chính phủ Việt Nam đã đưa giáo dục vào vị trí ưu tiên hàng đầu với hàng loạt các cơ sở pháp lý như Nghị quyết 14/2005/NQ-CP do Chính phủ ban hành về cải cách giáo dục đại học ra đời năm 2005 giai đoạn 2006-2020, Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13 ngày 18/06/2012 của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày 26/09/2012 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế được Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua ngày 04/11/2013 Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành điều lệ trường đại học Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
Tuy nhiên thực trạng của nền giáo dục Việt Nam còn rất lạc hậu Theo báo cáo tổng kết công trình nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Trang 132
của Giáo sư Kinh tế David Dapice của đại học Harvard và các Cộng sự có tên
“Lựa chọn thành công bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” đã nêu: “hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay đang khủng hoảng, còn nền khoa học và công nghệ của Việt Nam nếu sử dụng mọi thước đo khách quan thì dường như là một thất bại” Trong khi đó tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP của Việt Nam cao hơn hầu hết các nước trong khu vực: Việt Nam 20% năm 2014, Indonesia 1,2% năm 2012, Philippines 20,3% năm 2014, Malaysia 7,7% năm 2013 năm 2014, Singapore 3% năm 2013, (theo bà Đào Thị Liên Hương-trưởng ban đối ngoại, hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam, tổng thư ký liên đoàn các hiệp hội tư vấn giáo dục và ngôn ngữ thế giới – FELCA) Hiện nay, các trường đại học của Việt Nam được xem như kém nhất so với hầu hết các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á”
Bên cạnh đó, còn có sự chênh lệch đáng kể về trình độ giáo dục giữa các vùng, miền, đặc biệt là vùng ĐBSCL nơi có trình độ giáo dục thuộc vào loại gần như thấp nhất cả nước Khu vực ĐBSCL nằm liền kề với Tp.HCM là vùng kinh tế-văn hóa đặc biệt quan trọng của khu vực phía nam, với dân số khoảng 18 triệu người, diện tích hơn 40 nghìn km2, gồm 13 tỉnh thành là vựa lúa gạo, vựa trái cây
và là trung tâm thủy hải sản lớn nhất của cả nước (tổng cục du lịch Việt Nam, 2015)
Tuy nhiên, chất lượng giáo dục đào tạo tại ĐBSCL được đánh giá là gần như thấp nhất cả nước, chưa tương xứng với tầm vóc và vị trí chiến lược của vùng Theo phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại hội nghị về giáo dục ở Cần Thơ vào ngày 25/09/2015 thì khu vực ĐBSCL đã thoát khỏi “vùng trùng sâu” về giáo dục nhưng vẫn còn là “vùng trũng” về giáo dục Trong những năm qua ĐBSCL luôn được coi là “vùng trũng” về phát triển giáo dục đào tạo, dạy nghề
và có tỷ lệ học sinh bỏ học cao nhất cả nước Cụ thể, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chưa qua cấp học nào khoảng 45%, số học sinh bỏ học niên học 2013-2014 là 30.747 học sinh giảm 0,23% so với niên học 2012-2013, tỷ lệ bỏ học cấp tiểu học
là 0,45% (cả nước là 0,16%), THCS là 3,26% (cả nước 1,37%), cấp THPT là
Trang 143
3,94% (cả nước 1,79%) (Bộ giáo dục & đào tạo, 2015) Tại hội nghị tổng kết quá trình thực hiện 5 năm quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30/06/2011 về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề khu vực ĐBSCL giai đoạn 2011-2015 do Bộ giáo dục & đào tạo, Bộ thương binh & xã hội, phối hợp cùng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ tổ chức tại Cần Thơ vào ngày 25/09/2015 đã nêu ra các nguyên nhân vì sao khu vực ĐBSCL lại có tỷ lệ học sinh bỏ học nhiều như vậy: Nguyên nhân thứ nhất do gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thu nhập thấp, thứ hai do năng lực tiếp thu của một số học sinh quá kém không theo kịp, thứ ba do trường lớp quá xa nhà thiếu phương tiện giao thông, thứ tư do một số phụ huynh không coi trọng việc học hành của con cái và còn nhiều nguyên nhân sâu xa khác liên quan đến lỗi của cả hệ thống giáo dục của nền giáo dục nước ta
Vậy nguyên nhân chính dẫn đến vùng ĐBSCL là “vùng trũng” về giáo dục
là gì? Có phải do thu nhập bình quân đầu người tương đối thấp (2.327 nghìn đồng/người/tháng xấp xỉ thu nhập bình quân cả nước 2.637 nghìn đồng/người/tháng) (Niên giám thống kê ,2014) hay do thu nhập khác nhau gây nên sự khác biệt trong cơ cấu chi tiêu nói chung cũng như chi tiêu trong giáo dục nói riêng trong người dân Ngoài ra cũng có thể do người dân chưa đánh giá được hết vai trò của giáo dục trong kinh tế gia đình cũng như tương lai của con em mình nên họ hạn chế trong việc chi tiêu cho giáo dục
Có phải chỉ có một nguyên nhân chủ yếu là do lượng chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL là quá ít hay còn chưa đúng hướng Vì giáo dục là vấn đề mà xã hội hết sức quan tâm, giáo dục là quốc sách, đặc biệt với vùng ĐBSCL vùng có tiềm năng phát triển kinh tế ở phía Nam và cũng là “vùng trũng” về giáo dục Do đó, em chọn đề tài “phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL” để tìm hiểu rõ nguyên nhân và thực trạng về chi tiêu cho giáo dục của vùng là như thế nào qua đó đưa ra các khuyến
nghị để cải thiện chính sách phát triển giáo dục của vùng ĐBSCL
Trang 15đình Việt Nam (VHLSS) năm 2014 của tổng cục thống kê
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích sự khác biệt trong chi tiêu cho giáo dục của nhóm các tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn thu nhập bình quân của vùng (nhóm tỉnh nghèo – nhóm 1) và nhóm các tỉnh có thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của vùng (nhóm tỉnh giàu – nhóm 2)
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL
Đưa ra một số khuyến nghị góp phần cải cách chính sách phát triển giáo
dục khu vực ĐBSCL
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong hai nhóm thu nhập của vùng là như thế nào? Có hay không có sự khác nhau trong chi tiêu giữa hai nhóm tỉnh?
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình của vùng ĐBSCL? Và chúng ảnh hưởng như thế nào?
Các giải pháp nào có thể tác động vào các yếu tố đó, nhằm nâng cao trình
độ học vấn của người dân khu vực ĐBSCL?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL gồm 13 tỉnh : An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long
Trang 165
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu VHLSS năm 2014
của tổng cục thống kê công bố
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính:
Phương pháp thống kê mô tả: Dùng để xử lý, so sánh, tổng hợp các số liệu và đưa ra những nhận xét cơ bản
Phương pháp phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy đa biến bằng phương pháp OLS để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục
của các hộ gia đình tại ĐBSCL
1.6 Kết cấu luận văn
Bài luận này gồm các chương:
Chương 1: Phần mở đầu sẽ giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn sẽ giới thiệu về cơ sở lý luận làm nền tảng cho bài nghiên cứu và tóm tắt các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu sẽ trình bày các mô hình kinh tế sự lựa chọn mô hình của tác giả cho nghiên cứu này, trình bày cơ sở dữ liệu và phân tích để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL
Chương 4: Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày kết quả của mô hình và phân tích kết quả
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Nội dung chương này sẽ tóm lược lại những kết quả đáng chú ý của đề tài và đặc biệt là kết quả phân tích định lượng Từ đó sẽ đưa ra những khuyến nghị, hàm ý về chính sách về mức chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình khu vực ĐBSCL
Trang 176
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
Trong chương 2 tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết dùng làm nền tảng cho các phân tích trong bài nghiên cứu Ngoài ra, chương này cũng trình bày và phân tích một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan mà tác giả đã
tham khảo để lựa chọn các biến đưa vào trong mô hình nghiên cứu
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Hộ gia đình
Hộ gia đình: Theo sổ tay khảo sát mức sống hộ gia đình (2012), hộ gia đình
là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành cuộc phỏng vấn trở về trước
Chủ hộ: Theo sổ tay khảo sát mức sống hộ gia đình (2012), chủ hộ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ Thông thường chủ hộ là người thường có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ Đa số chủ hộ theo khái niệm trên trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng có trường hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát này khác với chủ hộ theo đăng ký
hộ khẩu
2.1.2 Chi tiêu cho giáo dục của hộ
Được hiểu là số tiền cả hộ gia đình dành cho giáo dục của các thành viên trong gia đình trong 12 tháng qua Theo sổ tay khảo sát mức sống hộ gia đình (2012) chi tiêu cho giáo dục của hộ bao gồm:
Các khoản chi cho việc đi học của thành viên có đi học trong 12 tháng qua cho những môn học nhà trường quy định, bao gồm: học phí, trái tuyến, đóng góp cho trường lớp, quỹ phụ huynh học sinh, quỹ lớp, quần áo đồng phục và trang phục theo quy định: sách giáo khoa, sách tham khảo, dụng cụ học tập khác học thêm cho môn học thuộc chương trình quy định
Trang 187
Chi phí cho giáo dục đào tạo khác trong 12 tháng qua: Chi học các bằng
ngoại ngữ, vi tính, cắt tóc, làm đầu
2.1.3 Sự cần thiết của phân nhóm thu nhập
Trong kinh tế, thu nhập bình quân là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức sống, sự phân hóa giàu nghèo hay tính tỷ lệ nghèo và nhiều chỉ tiêu quan trọng khác của các hộ dân, làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách nhằm nâng cao mức sống cho người dân Hơn nữa, thu nhập có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chi tiêu của người dân trong gia đình Việc phân nhóm các tỉnh thành theo thu nhập ở khu vực ĐBSCL sẽ làm rõ được sự khác biệt trong thu nhập đến hoạt động chi tiêu
đặc biệt là tình hình chi tiêu cho giáo dục của người dân trong vùng ĐBSCL
2.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng
2.2.1 Định nghĩa
Theo James F Engel và các cộng sự (2005): “Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/dịch vụ Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó”
Qua định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu, hành vi tiêu dùng là một quá trình
mà một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn mua sắm, sử dụng sản phẩm/dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ Quá trình này bao gồm những suy
nghĩ, cảm nhận, thái độ và các hành động mua sắm, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ
2.2.2 Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng
Theo Mas-Colell và các cộng sự (1995), lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn, tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hàng hóa Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình Người tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu dụng của mình u(x)
Max u(x) với điều kiện p*x ≤ I
Với x = (x1, x2, x3, ) rổ hàng hóa tiêu dùng x1, x2, x3, là các loại hàng hóa
Trang 198
P = (p1, p2, p3 ) giá của rổ hàng hóa p1, p2, p3 giá của từng loại hàng hóa trong rổ hàng hóa
I là ngân sách của người tiêu dùng
Với mức giá p của thị trường và ngân sách I của người tiêu dùng, người tiêu dùng lựa chọn sử dụng hàng hóa sao cho đạt mức thỏa dụng cao nhất Với các giả định như thông tin thị trường là hoàn hảo, người tiêu dùng chấp nhận giá và giá của
hàng hóa có dạng tuyến tính
2.2.3 Lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu
Theo Ernet Engel (1821-1896), ông đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về ngân sách gia đình để đưa ra kết luận về các mô hình chi tiêu tiêu dùng, đó là chi phí cho các hàng hóa dịch vụ khác nhau của các hộ gia đình ở những mức thu nhập khác nhau
Theo nghiên cứu của ông, khi thu nhập tăng lên, tỷ trọng trong thu nhập chi cho các hàng hóa thiết yếu như thực phẩm thì giảm còn chi cho các hàng hóa xa xỉ như các hàng hóa dịch vụ công nghiệp lại tăng Hay nói cách khác, các hộ nghèo thường dành tỷ trọng tương đối lớn trong thu nhập của họ cho các nhu cầu thiết yếu, trong khi các hộ giàu lại dành phần lớn thu nhập của họ cho các nhu cầu xa xỉ Sự thay đổi này trong các mô hình chi tiêu tiêu dùng với sự gia tăng của thu nhập hộ gia đình gọi là quy luật Engel
Để đơn giản ta sẽ mô tả và giải thích mối quan hệ giữa thu nhập và số lượng hàng hóa thay cho chi tiêu và giả định giá của hàng hóa là không thay đổi
Giả định ban đầu thu nhập là I1, giá các sản phẩm là Px, Py, đường ngân sách tương ứng là I1, đường đẳng ích là U1 Điểm phối hợp tối ưu là E(x1,y1) là tiếp điểm của đường ngân sách và đường đẳng ích
Nếu thu nhập tăng lên là I2, giá của các sản phẩm không đổi là Px, Py thì đường ngân sách sẽ là I2, điểm phối hợp tối ưu mới là F(x2,y2) là tiếp điểm giữa đường ngân sách I2 và đường đẳng ích U2 Nối các điểm E và F ta sẽ được đường
Trang 209
tiêu dùng theo thu nhập (ICC)
Đường tiêu dùng theo thu nhập là tập hợp các phối điểm tối ưu giữa hai sản phẩm khi thu nhập thay đổi, giá các sản phẩm không đổi
Hình 2 1: Đường tiêu dùng theo thu nhập
Đường tiêu dùng – thu nhập ICC (Income Consumption Curve): Đường tiêu dùng – thu nhập đối với hàng hóa X cho biết lượng hàng hóa X được mua tương ứng với từng mức thu nhập khi giá cả các loại hàng hóa là không đổi
Như vậy, đường cong tiêu thụ – thu nhập (ICC) có thể được sử dụng để giải thích các mối quan hệ giữa mức độ thu nhập của người tiêu dùng với số lượng mua của một mặt hàng và được gọi là đường cong Engel
Hình 2 2: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa thiết yếu
Độ dốc của đường cong Engel như hình 2.2 là ∆I/∆X với ∆I là viết tắt của
I2
I1
XO
Trang 2110
sựa thay đổi trong thu nhập và ∆X là sự thay đổi trong lượng cầu của hàng hóa X và tỷ lệ này sẽ có dấu dương Điều quan trọng cần lưu ý là độ dốc của đường cong Engel trong hình 2.2 tăng lên khi thu nhập tăng lên Điều này cho thấy rằng với mỗi mức tăng bằng nhau trong thu nhập, thì số lượng hàng hóa mua sẽ giảm dần Như vậy, đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa thiết yếu thì số lượng mua của hàng hóa tăng lên cùng với sự gia tăng của thu nhập nhưng với tốc độ giảm dần
Hình 2 3: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa xa xỉ
Đường cong Engel trong hình 2.3 có hướng lên trên dốc nhưng lõm Điều này cho thấy độ dốc của đường cong Engel (∆I/∆X) đang giảm với sự gia tăng của thu nhập Nghĩa là, với mỗi mức tăng bằng nhau trong thu nhập thì số lượng hàng hóa mua sẽ tăng cao hơn Như vậy, trong trường hợp này, số lượng mua của hàng hóa tăng lên cùng với sự gia tăng thu nhập nhưng với tốc độ nhanh hơn Hàng hóa như vậy được gọi là hàng hóa xa xỉ
Hình 2 4: Đường cong Engel đối với X là hàng hóa cấp thấp
I2
I1
I
XO
Trang 2211
Đối với hàng hóa cấp thấp thì độ dốc của đường cong Engel có hệ số âm Nghĩa là khi thu nhập tăng lên thì người ta sẽ giảm chi tiêu cho hàng hóa này
Như vậy dựa vào hình dạng của đường cong Engel của từng loại hàng hóa ta
có thể biết được, đó là sản phẩm thiết yếu, sản phẩm xa xỉ hay là sản phẩm cấp thấp 2.3 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục
Lý thuyết vốn con người liên quan đến giáo dục như là một sự đầu tư để tối
đa hóa chất lượng cuộc sống (Schultz, 1961và Becker, 1993) Việc đầu tư thêm cho giáo dục sẽ tạo ra lợi ích về mặt nâng cao thu nhập trong tương lai Đồng thời, đòi hỏi chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội vì không làm việc trong thời gian đi học Mỗi người sẽ so sánh những chi phí trực tiếp và những chi phí cơ hội với những lợi ích nhận được trong tương lai của việc đầu tư cho đi học Việc đầu tư cho đi học sẽ được tiếp tục nếu tỷ lệ lợi nhuận biên cao hơn chi phí biên bây giờ đã bỏ ra Việc đầu tư cho giáo dục sẽ tăng theo lợi nhuận kỳ vọng đạt được trong tương lai và giảm theo chi phí đi học
Schultz (1961) và Becker (1993), hai ông nhận định những đối tượng có trình độ học vấn khác nhau thường có thu nhập khác nhau Từ sự khác biệt trong thu nhập đó, cha mẹ sẽ có những quyết định cho con cái đi học trong bao năm tùy thuộc vào nhận thức của từng cha mẹ đối với thu nhập của con cái họ trong tương lai
Các giả định về sự quan tâm của cha mẹ và nguồn ngân sách có giới hạn tạo
ra mối quan hệ giữa trình độ học vấn của cha mẹ và thu nhập của hộ đến việc đầu
tư giáo dục cho trẻ em Cha mẹ có học vấn cao sẽ quan tâm nhiều đến phúc lợi của con cái của họ (Becker và Tomes, 1976) Giáo dục của cha mẹ có thể đại diện cho hành vi của họ đối với việc học của trẻ và các yếu tố giáo dục của cha mẹ có thể phản ánh các khoản đầu tư cho trẻ em học tiểu học Giáo dục của người mẹ cũng
có thể đại diện cho thu nhập cố định, chi phí cơ hội của mẹ trong thị trường lao động và sản xuất của hộ gia đình
Trong khuôn khổ lý thuyết vốn con người, những nghiên cứu khác lại giải
Trang 2312
thích rằng có sự phân biệt giới tính liên quan đến đầu tư của cha mẹ trong giáo dục của trẻ (Alderman và King, 1998; Pasqua, 2005; Yeuh, 2006) Đây là một phần trong lý thuyết vốn con người với lý do cha mẹ sẽ đầu tư nhiều hơn vào việc học của các bé trai hơn các bé gái Có 4 nguyên nhân được đúc kết trong các nghiên cứu trên Đầu tiên, con gái sẽ nhận ít học phí nếu chi phí (trực tiếp và gián tiếp) của các bé gái cao hơn so với các bé trai Điều này được xem là hợp lý nếu xem xét chi phí cơ hội của một bé gái đang học có thể cao hơn một bé trai khi bé gái ấy
có thể giúp đỡ gia đình trong việc chăm sóc em ít tuổi hơn hoặc lấy củi và xách nước (Pasqua, 2005; Gerler và Glewwe, 1990) Thứ hai, việc đầu tư trong giáo dục của một bé gái sẽ ít hơn một bé trai nếu như lợi nhuận từ bé gái thấp hơn Lợi nhuận từ việc học của bé gái có thể thấp hơn như là kết quả của phân biệt giới tính trong thị trường lao động Nghiên cứu của Kingdon (2005) chỉ ra rõ sự phân biệt giới tính trong lợi nhuận từ việc học ở Ấn Độ Thứ ba, sẽ có một sự thiên vị đối với các bé trai so với các bé gái nếu sự kỳ vọng về việc chu cấp của các bé trai cho bố mẹ khi về già sẽ cao hơn so với các bé gái Điều này hoàn toàn phù hợp dưới chế độ phụ quyền nơi mà phụ nữ phải rời khỏi gia đình của mình khi họ kết hôn và trở thành một thành viên bên gia đình chồng Cuối cùng, bé gái sẽ bị đối xử bất công hơn các bé trai nếu cha mẹ có xu hướng ưu tiên cho giáo dục của các bé trai Có nghĩa là sẽ có sự thiên vị giới tính đối với các bé gái, nếu cha mẹ có nhiều lợi
ích từ việc học của các bé trai
2.4 Lý thuyết về hành vi ra quyết định của hộ gia đình
Khi ra quyết định cho một vấn đề nào đó của hộ gia đình thì đó là quyết định của người chủ hộ hay của tập thể các thành viên trong hộ gia đình đó Trong nghiên cứu của Douglas (1983), về quá trình ra quyết định của hộ gia đình thì quyết định này được xem xét bởi các yếu tố:
Quá trình này được xem xét dựa trên các ý kiến của các thành viên trong gia đình chứ không phải là ý kiên riêng của chủ hộ và việc này bảo đảm tối đa lợi ích của các thành viên trong gia đình cũng như hạn chế các quyết định gây bất lợi
Trang 2413
Việc ra quyết định của hộ gia đình còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tư vấn của người bán hàng hay các điều kiện sống cũng như các môi trường kinh tế
xã hội, các chính sách quy định quyền và nghĩa vụ mà hộ gia đình đó bị tác động
Vì thế mà việc ra quyết định cho một vấn đề nào đó nói chung và việc chi tiêu cho giáo dục hay thực phẩm nói riêng của hộ gia đình cần xem xét nhiều yếu tố,
từ các yếu tố bên trong hộ gia đình đến các yếu tố bên ngoài xã hội
2.5 Lý thuyết về kinh tế hộ gia đình
Một vài nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã xem xét cách thức hộ gia đình phân phối các nguồn lực (Becker, 1965) đã mở rộng mô hình tân cổ điển về cầu tiêu thụ của gia đình Trong mô hình này, hàm hữu dụng được tối đa hóa
là hàm hữu dụng chung, theo đó tất cả các thành viên trong hộ gia đình ban đầu đều có một mức hữu dụng tối đa như nhau Thu nhập được phân phối theo phương thức tỷ lệ thay thế biên giữa bất kỳ hai hàng hóa nào là như nhau đối với từng thành viên Tất cả các nguồn lực có được của từng thành viên ban đầu được gộp chung lại, sau đó mới tái phân phối cho từng thành viên theo một nguyên tắc chung
Theo mô hình của Becker, sở thích của cá nhân là sở thích chung của hộ gia đình Tuy nhiên, trên thực tế sở thích của từng thành viên có thể khác nhau Hơn nữa, các nguồn lực được phân phối hướng về các loại hàng hóa, cho nên sẽ khác với mong muốn của từng thành viên trong hộ gia đình
Một vài nghiên cứu thực nghiệm ở các quốc gia cho thấy việc gộp chung nguồn lực của từng thành viên để tái phân phối lại cho từng thành viên phụ thuộc vào người kiểm soát các nguồn lực Chủ hộ thường là người kiểm soát các nguồn lực Các đặc điểm của chủ hộ: giáo dục, giới tính, thu nhập và công việc có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ
Tuổi của cha mẹ có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ Theo nghiên cứu của Mauldin và cộng sự (2001) ở Mỹ chỉ ra rằng cha mẹ lớn tuổi chi tiêu cho giáo dục tiểu học và trung học càng nhiều Tuy nhiên, nghiên cứu thực
Trang 2514
nghiệm của Donkoh và Amikuzumo (2011) ở Ghana lại chứng minh điều ngược lại Nghiên cứu cho thấy rằng xác suất chi tiêu cho giáo dục của hộ nhiều hơn khi chủ hộ còn trẻ và giảm đi khi chủ hộ về già
Tình trạng việc làm của cha mẹ cũng có thể liên quan đến chi phí giáo dục của trẻ em Thậm chí sau khi đã kiểm soát được thu nhập, tình trạng việc làm có thể ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ lên mối quan hệ giữa việc đầu tư nguồn nhân lực và lợi nhuận thu về của họ Nghiên cứu cho thấy rằng có mối quan hệ tích cực giữa việc làm của cha mẹ đến chi tiêu cho giáo dục của trẻ em (Haveman và cộng sự, 1991; Ribar,1993)
Tình trạng hôn nhân của cha mẹ cũng có thể liên quan đến chi tiêu cho giáo dục của trẻ em Theo Ribar (1993), trưởng thành trong một gia đình cha mẹ đơn thân có tác động tiêu cực đến việc hoàn thành trung học của trẻ Điều thú vị là lớn lên trong một gia đình có bố dượng hoặc mẹ kế giúp trẻ em hoàn thành việc học tốt hơn là gia đình cha mẹ đơn thân
Các kết quả nghiên cứu khác cho thấy, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình còn phụ thuộc vào hành vi của gia đình được đo bằng lượng tiền chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ Sự gia tăng thu nhập của gia đình có thể có liên quan đến việc chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục của con cái (Tansel và Bircan, 2006)
Từ những lý thuyết trên, có thể thấy rằng kết cấu hộ gia đình có thể ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục tức là số lượng trẻ em trong hộ gia đình Hơn nữa, không chỉ kết cấu hộ gia đình mà các đặc điểm cá nhân của những thành viên trong
hộ như chủ hộ cũng có thể ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình
2.6 Các nghiên cứu trước
2.6.1 Mô hình nghiên cứu của Aysit Tansel (1999)
Nghiên cứu xem xét các yếu tố tác động đến việc nhập học của bé trai và bé gái ở Thổ Nhĩ Kỳ Mục đích của nghiên cứu là kiểm tra các yếu tố quyết định thành tựu giáo dục ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và cao hơn Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Probit để ước lượng số năm đi học
Trang 2615
của trẻ với các bậc như 0, 2, 5, 8, 11, 15 và nhiều năm học hơn Tương ứng, những
ai không biết chữ nhận giá trị 0, biết chữ nhưng không tốt ngiệp bất cứ trường nào nhận giá trị 2, tốt nghiệp bậc tiểu học, trung học, phổ thông nhận giá trị là 5, 8, 11, còn tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn nhận giá trị 15 Trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng các nhân tố cá nhân và hộ gia đình như thu nhập của hộ, trình độ của cha
mẹ, nghề nghiệp của cha mẹ, các yếu tố đặc điểm cộng đồng như khu vực nông thôn-thành thị, khoảng cách đến các trung tâm tàu điện ngầm, thành phần lao động của địa phương, sự di dân để giải thích việc nhập học của trẻ em ở Thổ Nhĩ Kỳ
Kết quả của nghiên cứu cho thấy, ở bậc tiểu học tỷ lệ trẻ em nhập học cao ở cả bé trai và bé gái Tuy nhiên, ở vùng Đông Nam thì tỷ lệ bỏ học của bé gái nhiều hơn Và chỉ một nửa số học sinh tốt nghiệp tiểu học đăng ký học trung học Biến thu nhập của hộ gia đình có tác động tích cực đến việc đi học của trẻ Điều này cho thấy giáo dục là hàng hóa thông thường Biến số năm đi học của cha mẹ cũng như biến nghề nghiệp của cha mẹ có liên quan mạnh mẽ đến thành tựu học tập của trẻ và các biến này cũng có tác động đến các bé gái mạnh hơn các bé trai Các hộ gia đình ở
thành thị thường cho con đi học cao hơn các hộ gia đình ở nông thôn
2.6.2 Mô hình nghiên cứu của Mauldin và các cộng sự (2001)
Nghiên cứu chi tiêu của cha mẹ đối với giáo dục của con cái họ ở bậc tiểu học và trung học cơ sở trên căn cứ phân tích bộ dữ liệu có được từ cuộc khảo sát chi tiêu năm 1996 của Cục thống kê Lao động Hoa Kỳ Qua phân tích nghiên cứu khẳng định thu nhập sau thuế của cha mẹ càng cao thì họ càng sẵn lòng hơn trong việc chi tiêu cho giáo dục của con cái họ Các bậc cha mẹ trong nghiên cứu nhận thức được rằng nếu họ đầu tư nhiều tiền cho việc học của con cái mình thì chính con của họ sẽ nhận được kết quả tốt đẹp trong tương lai về tri thức, chất lượng cuộc sống
Nơi sinh sống của hộ gia đình cũng có tác động không nhỏ đến chi tiêu cho giáo dục của hộ đó chính là kết quả trong nghiên cứu của Mauldin và các cộng sự (2001) Nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ gia đình sinh sống ở vùng Đông Bắc và phía Tây Hoa Kỳ chi tiêu cho giáo dục ít hơn các hộ gia đình sống ở phía Nam Đặc
Trang 2716
điểm của vùng Đông Bắc và phía Tây của Hoa Kỳ chủ yếu là các vùng nông thôn với những thảo nguyên rộng lớn, mật độ dân cư thấp, ít các đô thị sầm uất, giàu có như ở vùng miền nam đất nước Như vậy, sự khác biệt trong chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục ở các vùng nêu trên gần như tương đương với so sánh chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở khu vực nông thôn và thành thị của Hoa Kỳ
Nghiên cứu của Mauldin và các cộng sự (2001) cũng cho thấy, trình độ học vấn và nghề nghiệp của người có quyền quyết định trong gia đình có tác động tích cực đến việc chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Theo đó, những gia đình có cha, mẹ chỉ có bằng trung học trở xuống thì số tiền chi cho giáo dục của con cái họ ít hơn những người đạt bằng cử nhân hoặc sau đại học Trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì họ chi cho giáo dục của hộ càng nhiều
Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, Mauldin và các cộng sự (2001) cũng nhận thấy có mối liên hệ giữa tuổi tác của cha mẹ và số tiền mà họ chi cho giáo dục của con em mình Cụ thể, nếu hộ gia đình nào có các bậc cha mẹ tuổi đời càng cao thì họ sẵn lòng chi nhiều hơn cho giáo dục, có thể họ đã có nhiều sự trải nghiệm và
hiểu biết hơn về lợi ích và tác động tích mang lại từ đầu tư phát triển vốn con người
2.6.3 Mô hình nghiên cứu của Tilak (2002)
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình nông thôn ở ấn độ Nghiên cứu sử dụng mô hình tuyến tính logarit với phương pháp xử lý số liệu là phương pháp bình phương tối thiểu (OLS) để phân tích các nhân tố tác động đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục của mỗi học sinh Theo đó, Tilak đã ước lượng chi tiêu cho giáo dục cho trẻ em trong các hộ gia đình nông thôn ở Ấn Độ phụ thuộc vào các yếu tố như: Thu nhập của hộ, trình độ giáo dục và nghề nghiệp của chủ hộ, giới tính của trẻ, quy mô hộ gia đình, đẳng cấp và tôn giáo của hộ, các chỉ số phát triển của làng xã nơi hộ gia đình sinh sống và các khoản trợ cấp Kết quả cho thấy thu nhập của hộ gia đình có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục của trẻ, quy mộ hộ gia đình làm tăng chi tiêu hộ gia đình mang tính gánh nặng tiêu cực, các yếu tố còn lại không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến
chi tiêu cho giáo dục của hộ Cụ thể:
Trang 2817
Đặc điểm hộ gia đình:
Thu nhập hộ gia đình, quy mô hộ gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ là yếu tố quyết định quan trọng trong chi tiêu cho giáo dục Thu nhập tăng, hộ gia đình có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục Trình độ học vấn của chủ hộ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chi tiêu cho giáo dục Giáo dục làm tăng nhận thức về những lợi ích của việc đi học, khi trình độ học vấn của người đứng đầu tăng, chi tiêu cho giáo dục của hộ tăng với mức ý nghĩa 1% Khi gánh nặng nhân khẩu của hộ gia đình (quy mô hộ gia đình) tăng lên, các hộ gia đình có thể không có khả năng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục
Đẳng cấp và tôn giáo cũng có tác động, nhưng có một vài trường hợp ngoại lệ giữa các nhóm dân cư và ở các bang Địa vị xã hội được thể hiện trong biến giả đẳng cấp (bằng 1 nếu không theo bộ lạc, bằng 0 nếu theo bộ lạc) Kết quả cho thấy hộ gia đình không theo bộ lạc có chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn hộ theo bộ lạc Đối với các biến giả được giới thiệu về tôn giáo, ngoại trừ biến giả hồi giáo không có ý nghĩa thống kê, tất cả các biến khác có ý nghĩa thống kê Kết quả cho thấy chi tiêu cho giáo dục sẽ cao hơn nếu đó là người Sikh và ít nhất nếu là người hồi giáo
Nghề nghiệp của chủ hộ là một hệ thống biến giả (10 biến giả) Kết quả cho thấy chỉ một số nghề nghiệp (lao động nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp, nghệ nhân, tổ chức kinh doanh thương mại) là có tác động đến chi tiêu
cho giáo dục của hộ
Đặc điểm liên quan đến trường học
Trong đặc điểm liên quan đến trường học, các biến: Loại trường, sự tồn tại của trường học trong dân cư, bữa ăn, đồng phục miễn phí, dụng cụ học tập miễn phí, cấp học có tác động đến chi tiêu cho giáo dục
Loại hình trường học mà trẻ theo học: trường công, trường do chính phủ hỗ trợ hoặc trường tư nhân là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Chi tiêu trong các trường tư thục là cao nhất, tiếp theo là các trường được chính phủ hỗ trợ và theo thứ tự đó là các trường công lập Sự tồn tại của trường học (tiểu học hoặc trung học) trong dân cư làm giảm chi
Trang 29cho giáo dục của hộ gia đình
Đặc điểm phát triển kinh tế
Trong đặc điểm phát triển kinh tế chỉ có biến chỉ số phát triển làng có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục Chỉ số này phản ánh mức độ phát triển của làng về các tiện nghi phục vụ Chỉ số càng cao, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình
càng tăng
Đặc điểm cá nhân
Trong đặc điểm cá nhân, giới tính của đứa trẻ cũng có tác động đến chi tiêu
cho giáo dục của hộ Chi tiêu cho giáo dục của bé trai sẽ cao hơn 1% so với bé gái
2.6.4 Mô hình nghiên cứu của Meng Zhao và Paul Glewwe (2007)
Đề tài nghiên cứu “các nhân tố tác động đến việc nhập học của cá nhân trong hộ gia đình ở nông thôn của Trung Quốc” Nghiên cứu cho rằng, nhu cầu cho
số năm đi học của hộ gia đình là một hàm các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí và lợi ích của việc học thêm gốm 4 nhóm: Đặc tính cá nhân của trẻ (giới tính, tuổi, tình trạng dinh dưỡng) Đặc điểm của hộ gia đình (trình độ học vấn, nhận thức về giáo dục và mong muốn của cha mẹ về trình độ đạt được của trẻ, chi tiêu bình quân) Đặc điểm công cộng (khoảng cách từ nhà đến trường) Đặc điểm của trường học, giáo viên (học phí, số phòng thí nghiệm khoa học, thư viện, kinh nghiệm, lương của giáo viên) Bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy Probit để ước lượng số năm đi học của trẻ Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, tình trạng dinh dưỡng của trẻ và thu nhập của hộ gia đình có tác động tích cực đến số năm đi học của trẻ em Trình độ và thái độ của cha mẹ đối với giáo dục của trẻ cũng có tác động tích cực đến số năm đi học của trẻ Các phòng thí nghiệm khoa học và kinh nghiệm của giáo
viên cũng có tác động đáng kể đối với việc học của trẻ
Trang 3019
2.6.5 Mô hình nghiên cứu của Dang (2007)
Dang (2007) nghiên cứu “các yếu tố quyết định việc học thêm và tác động của các lớp học thêm ở Việt Nam”, nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit phân tích số liệu cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1997-
1998 và 1992-1993 Phương pháp ước lượng mô hình Tobit là phương pháp maximum likehood (MLE)
Với các nhóm nhân tố được đưa vào mô hình để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho việc học thêm ở cấp độ tiểu học và trung học cơ sở Tác giả tìm thấy mối quan hệ giữa chi phí học thêm và tổng chi tiêu hộ gia đình ở cấp trung học cơ sở và xu hướng học thêm càng cao ở các cấp cao hơn Ngoài ra học thêm cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh Tuy nhiên chi tiêu cho học thêm sẽ giảm đáng kể nếu chất lượng của giáo viên ở cấp tiểu học tăng lên và không
có sự khác biệt về giới tính trong chi tiêu cho học thêm
2.6.6 Mô hình nghiên cứu của Qian và Smyth (2010)
Hai ông đã nghiên cứu về “chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở vùng thành thị của Trung Quốc” sử dụng mô hình hồi quy Tobit để đánh giá tác động của thu nhập và các đặc điểm của hộ gia đình đến nhu cầu giáo dục Kết quả của nghiên cứu là thu nhập của hộ gia đình vẫn là nhân tố ảnh hưởng lớn đến chi tiêu cho giáo dục của hộ, bên cạnh đó trình độ học vấn của cha mẹ, tính chuyên nghiệp của nghề nghiệp của cha mẹ cũng có tác động tích cực Hộ gia đình có nhiều trẻ đến trường thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều Hộ gia đình sống ở ven biển có xu hướng chi tiêu cho giáo dục khác với các hộ ở các vùng còn lại
Qian và Smyth (2010) đã sử dụng dữ liệu điều tra từ 32 thành phố được lựa chọn trên toàn đất nước Trung Quốc năm 2003, số quan sát của mẫu nghiên cứu khá lớn (gần 11.000 quan sát) Để ước lượng chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục, nhóm tác giả sử dụng mô hình Tobit để xử lý dữ liệu qua đó tối ưu được kết quả phân tích Nghiên cứu đã tách biệt được rõ ràng nhu cầu và chi phí cho giáo dục trong nước và đi du học nước ngoài
Trang 3120
Các nhân tố được đưa vào mô hình: Thu nhập hộ gia đình (phân theo 5 nhóm thu nhập) trình độ học vấn của cha mẹ, nghề nghiệp của cha mẹ, số lượng học sinh của gia đình ở các cấp độ (mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học), cư dân ven biển, người mẹ độc thân, người cha độc thân
Kết quả cho thấy, thu nhập của hộ gia đình là yếu tố quan trọng quyết định đến việc học của con cái Trong đó, có sự khác biệt trong chi tiêu cho giáo dục của nhóm 4, nhóm 5 với nhóm 1, chi tiêu cho giáo dục của hai nhóm này đều cao hơn so với nhóm 1
Có sự tác động tích cực của trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Họ phát hiện ra rằng Các hộ gia đình
có các bà mẹ học hết phổ thông hay đại học trở lên, các bà mẹ làm công nhân và dịch vụ, cha đang làm trong những nơi chuyên nghiệp có khả năng chi tiêu nhiều hơn cho việc học của con cái
Số lượng trẻ em trong gia đình cũng dự đoán mức độ chi cho giáo dục cao hơn Số lượng trẻ em trong độ tuổi tiểu học và trung học làm tăng chi tiêu cho giáo dục của hộ, số lượng trẻ em trong độ tuổi mầm non lại có tác động ngược lại
Tình trạng hôn nhân của cha mẹ cũng có tác động đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Những người cha độc thân có xu hướng chi tiêu cho giáo dục ít hơn các hộ gia đình có cả cha và mẹ với mức ý nghĩa 10%
Ngoài ra, kết quả mô hình hồi quy chi tiêu cho giáo dục ở nước ngoài của các hộ gia đình cũng chỉ ra rằng các hộ gia đình có thu nhập cao nhất ở khu vực ven biển với cha mẹ là những cán bộ, những nhà chuyên môn có nhiều khả năng
gửi con cái của họ ra nước ngoài du học
2.6.7 Mô hình nghiên cứu của Vu (2012)
Vu (2012), nghiên cứu các yếu tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam Tác giả đã sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt
Trang 3221
Nam 2006 Nghiên cứu chỉ xem xét các hộ gia đình có con trong độ tuổi từ 22 trở xuống, có 4.578 hộ thỏa mãn điều kiện trên Nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit để đánh giá các nhân tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình tại Việt Nam Kết quả của nghiên cứu là:
Thu nhập của hộ gia đình có tác động đáng kể đến chi tiêu cho giáo dục của hộ, ảnh hưởng của các nhóm thu nhập là khác nhau chứng tỏ có sự khác biệt đối với chi tiêu cho giáo dục của các nhóm
Biến nghề nghiệp và trình độ học vấn của chủ hộ cũng có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục Chủ hộ gia đình là cán bộ, chuyên môn bậc cao, chuyên môn bậc trung và thấp dành 123%, 104%, 99% và 118% để chi tiêu cho giáo dục so với chủ hộ là công nhân Chủ hộ không nằm trong lực lượng lao động lại chi tiêu cho giáo dục cao nhất so với các chủ hộ có nghề nghiệp khác, và cao hơn 165% so với các hộ có chủ hộ là công nhân Theo Vu nguyên nhân của việc chủ hộ là người không nằm trong lực lượng lao động thì hơn 50% trong số đó là người thất nghiệp, nghỉ hưu, tự làm chủ hoặc là sinh viên
Biến số lượng trẻ em trong gia đình cũng dự đoán mức độ chi tiêu cho giáo dục cao hơn Ngoài ra nếu chủ hộ là nam hay người đứng đầu của hộ đã kết hôn hoặc ly hôn thì không tác động đến chi tiêu cho giáo dục của hộ Tuy nhiên, hộ gia đình có chủ hộ ly thân hoặc góa dành ít chi tiêu cho giáo dục hơn so với các chủ hộ độc thân Hơn nữa nghiên cứu còn chỉ ra các hộ gia đình ở miền Bắc và Nam chi tiêu cho giáo dục ít hơn ở miền Trung Theo Vu xuất phát từ yếu tố văn hóa khi các hộ gia đình ở miền trung Việt Nam thường dành một khoản đầu tư lớn cho giáo dục
của con cái họ
2.6.8 Mô hình nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012)
Trần Thanh Sơn (2012), “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình: nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ” Nghiên cứu đã sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2008 của tổng cục thống kê với phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu thông thường (OLS) để xem xét các yếu tố tác động đến
Trang 3322
chi tiêu cho giáo dục của hộ Mô hình được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa mô hình của Tilak và việc đánh giá dạng phân phối dữ liệu của từng biến cũng như mối quan hệ giữa từng biến độc lập với biến phụ thuộc qua đồ thị phân tán Theo Trần Thanh Sơn (2012) các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình vùng Đông Nam Bộ là: Tổng chi tiêu, quy mô hộ, nơi sinh sống của hộ, dân tộc, giới tính, trình độ học vấn, tuổi của chủ hộ và các trợ cấp cho giáo dục
Kết quả cho thấy: Tổng chi tiêu của hộ, nơi sinh sống, trình độ học vấn của chủ hộ, các khoản trợ cấp cho giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu cho giáo
dục của các hộ gia đình vùng Đông Nam Bộ
2.6.9 Mô hình nghiên cứu của Đào Thị Yến Nhi (2013)
Đào Thị Yến Nhi (2013), đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu giáo dục trung học của các hộ gia đình Việt Nam Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2010 và phương pháp hồi quy OLS để ước lượng các yếu tố tác động đến giáo dục trung học Kết quả cho thấy chi tiêu bình quân có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục nhưng chi tiêu thực phẩm bình quân lại có tác động tiêu cực Ngoài ra các nhân tố khác như dân tộc, trình độ học vấn, tuổi của chủ hộ, nơi sinh sống của hộ gia đình đều có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục trung
học của hộ gia đình
Bảng 2 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước
ở Thổ Nhĩ
- Dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ
cuộc điều tra chi tiêu và thu nhập của hộ
gia đình của viện thống kê nhà nước Thổ
Nhĩ Kỳ năm 1994
- Phương pháp nghiên cứu hồi quy Probit với hai mô hình riêng biệt cho bé trai và
bé gái
- Thu nhập của hộ gia đình có tác động tích cực đến thành tựu học tập của trẻ nhưng tác động đến bé gái mạnh hơn bé trai
- Trình độ học vấn của
Trang 3423
Kỳ - Aysit
Tansel
(1999)
- Các biến trong mô hình:
+ Thu Nhập của hộ gia đình + Trình độ học vấn của cha mẹ + Nghề nghiệp của cha mẹ + Khu vực thành thị - nông thôn + Khoảng cách đến các trung tâm tàu điện ngầm
+ Thành phần lao động địa phương + Sự di dân
cha mẹ cũng có tác động tích cực đến số năm đi học của trẻ và mạnh dần khi các bé gái học ở các cấp cao hơn
+ Trẻ ở khu vực thành thị thường có số năm
đi học cao hơn trẻ ở khu vực nông thôn
“Nghiên cứu
chi tiêu của
cha mẹ đối
với giáo dục
của con cái”
của tác giả
Mauldin và
các cộng sự
(2001)
- Dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ
cuộc điều tra chi tiêu tiêu dùng của Cục thống kê Lao động Hoa Kỳ năm 1996
- Các nhân tố trong mô hình gồm:
+ Thu nhập sau thuế
+ Số trẻ em trong hộ
+ Trình độ học vấn của cha mẹ + Tuổi của cha mẹ
+ Màu da + Tình trạng hôn nhân của cha mẹ + Khu vực địa lý
+ Đặc điểm của địa bàn sinh sống
Số tiền chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình phụ thuộc vào thu nhập sau thuế của cha mẹ, trình độ học vấn, tuổi tác của cha
mẹ và nơi sinh sống của gia đình
Nghiên cứu
các yếu tố
tác động đến
- Dữ liệu được lấy từ cuộc điều tra NCAER về sự phát triển của con người ở
khu vực nông thôn Ấn Độ năm 1994
- Thu nhập là yếu tố quan trọng có tác động mạnh đến chi
Trang 3524
chi tiêu cho
giáo dục của
hộ gia đình
ở nông thôn
- Phương pháp nghiên cứu OLS
- Các biến trong mô hình:
+ Thu nhập của hộ
+ Quy mô hộ
+ Trình độ học vấn của chủ hộ
+ Nghề nghiệp của chủ hộ
+ Giới tính của trẻ + Đẳng cấp và tôn giáo của hộ
+ Các chỉ số phát triển nơi sinh sống của hộ
+ Các khoản trợ cấp
tiêu cho giáo dục của hộ
- Trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính của trẻ có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục của hộ
- Nghề nghiệp của chủ hộ thì không có tác động rõ rệt
- Dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ
cuộc điều tra Cam Túc của trẻ và gia đình (GSCF) năm 2000 và 2004
- Phương pháp nghiên cứu hồi quy Probit
- Các biến trong mô hình:
+ Giới tính của trẻ + Tuổi của trẻ + Tình Trạng dinh dưỡng của trẻ + Trình độ học vấn của cha mẹ + Nhận thức về giáo dục giới tính của cha và mẹ
+ Mong muốn của cha mẹ về trình độ đạt
- Thu nhập của hộ gia đình càng tăng thì số năm đi học của trẻ càng cao
- Tình độ học vấn và thái độ của cha mẹ về việc học của trẻ có tác động rất mạnh mẽ đến số năm đi học của trẻ
- Phòng thí nghiệm khoa học và kinh nghiệm của giáo viên có tác động tích cực đến số năm đi học của
Trang 3625
được của trẻ + Chi tiêu bình quân đầu người + Khoảng cách từ nhà đến trường + Học phí
+ Phòng khoa học + Thư viện
+ Kinh nghiệm + Lương của giáo viên
- Dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ
cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1992-1993 và 1997-1998
- Phương pháp ước lượng mô hình Tobit là phương pháp maximum likehood (MLE)
- Các biến trong mô hình:
+ Chi tiêu bình quân đầu người + Tuổi của học sinh
+ Trình độ học vấn của cha + Trình độ học vấn của mẹ + Lớp trước khi cuối cấp + Dân tộc thiểu số
+ Giáo viên có trình độ
+ Trường học có điện + Khu vực và vùng miền sinh sống
- Chi phí học thêm và tổng chi tiêu hộ gia đình ở cấp trung học
cơ sở và xu hướng học thêm càng cao ở các cấp cao hơn
- Ngoài ra học thêm cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh Tuy nhiên chi tiêu cho học thêm sẽ giảm đáng kể nếu chất lượng của giáo viên ở cấp tiểu học tăng lên và không
có sự khác biệt về giới tính trong chi tiêu cho học thêm
Trang 3726
Nghiên cứu
đánh giá tác
động của thu
- Các nhân tố trong mô hình:
+ Thu nhập của hộ gia đình + Trình độ học vấn của cha mẹ + Nghề nghiệp của cha mẹ + Số trẻ trong hộ gia đình + Khu vực sinh sống của hộ gia đình + Tình trạng hôn nhân của cha, mẹ
- Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập của hộ gia đình, nghề nghiệp của cha mẹ, trình độ học vấn của cha mẹ và khu vực sinh sống có tác động tích cực đến nhu cầu giáo dục của trẻ
Nghiên cứu
các yếu tố
tác động đến
chi tiêu cho
giáo dục ở
Việt Nam –
Vu (2012)
- Dữ liệu trong nghiên cứu được lấy từ
cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2006
- Nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit để
đánh giá các nhân tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình tại Việt Nam
- Các biến trong mô hình:
+ Thu nhập của hộ gia đình + Nghề nghiệp của chủ hộ
+ Trình độ học vấn của chủ hộ
+ Số lượng trẻ em trong gia đình (mầm non, tiểu học, trung học và đại học)
- Thu nhập của hộ gia đình, nghề nghiệp và trình độ học vấn của chủ hộ có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục của hộ
- Biến số lượng trẻ em trong gia đình cũng dự đoán mức độ chi tiêu cho giáo dục cao hơn Hộ gia đình có chủ hộ
ly thân hoặc góa dành
ít chi tiêu cho giáo dục hơn so với các chủ hộ độc thân Hơn
Trang 3827
+ Tình trạng hôn nhân của chủ hộ
+ Vùng miền sinh sống
nữa nghiên cứu còn chỉ ra các hộ gia đình ở miền Bắc và Nam chi tiêu cho giáo dục ít hơn ở miền TrungNghiên cứu
các nhân tố
ảnh hưởng
đến chi tiêu
cho giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu hồi quy OLS
- Các biến trong mô hình:
+ Tổng chi tiêu hộ
+ Quy mộ hộ gia đình + Nơi sinh sống của hộ
+ Dân tộc của chủ hộ
+ Giới tính của chủ hộ
+ Trình độ học vấn + Tuổi của chủ hộ
+ Các trợ cấp cho giáo dục
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng chi tiêu, nơi sinh sống của hộ, trình độ học vấn của cha mẹ và các khoản trợ cấp cho giáo dục của chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực Đông Nam Bộ
Nghiên cứu
đánh giá tác
động của
đặc điểm hộ
gia đình đến
chi tiêu cho
giáo dục
trung học
- Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình 2010
- Phương pháp nghiên cứu OLS
- Các biến trong mô hình:
+ Chi tiêu bình quân + Chi tiêu thực phẩm bình quân
- Chi tiêu thực phẩm bình quân có tác động tiêu cực đến chi tiêu cho giáo dục của hộ
- Các biến còn lại: Chi tiêu bình quân, dân tộc, trình độ học vấn
Trang 39+ Dân tộc của chủ hộ
+ Trình độ học vấn của chủ hộ
+ Tuổi của chủ hộ
+ Nơi sinh sống của hộ
+ Các vùng trong nước + Nằm trong thành phố trực thuộc trung ương
của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, nơi sinh sống có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu trước
2.7 Khung phân tích của nghiên cứu
Theo Aysit Tansel (1999) thì giáo dục là loai hàng hóa thông thường nên chi tiêu cho giáo dục sẽ chịu tác động từ chính hộ gia đình và các yếu tố khách quan từ bên ngoài Hay các nghiên cứu của Meng Zhao và Paul Glewwe (2007), Tilak (2002) đều xem xét các nhóm nhân tố như: Đặc điểm của trẻ, đặc điểm của hộ gia đình, đặc điểm nơi sinh sống và đặc điểm về trường lớp
Sau khi tham khảo sơ lược lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả dựa vào số liệu của bộ dữ liệu VHLSS 2014 được sử dụng cho nghiên cứu này để xây dựng khung phân tích xác định các yếu tố kinh tế - xã hội có tác động đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình khu vực ĐBSCL
Hình 2 5: Khung phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng chi tiêu cho giáo dục
Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Đặc điểm kinh tế hộ gia đình
Đặc điểm khu vực sinh sống của
hộ gia đình
Đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình
Trang 4029
Tóm tắt chương 2:
Nội dung chương 2 trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết mà nghiên cứu ứng dụng như: lý thuyết hành vi tiêu dùng, lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng và lý thuyết về đầu tư cho giáo dục cũng như hành vi ra quyết định của hộ gia đình
Chương này cũng tóm tắt các nghiên cứu liên quan để tổng hợp và lựa chọn các biến đưa vào mô hình Ngoài ra chương này còn trình bày các thực trạng tiêu biểu của giáo dục ở Việt Nam và vùng nghiên cứu