Kết quả phân tích và ước lượng với 2 mô hình Probit và Tobit từ 1.672 quan sát nông hộ từ mẫu VARHS cho thấy: 1 việc tiếp cận nguồn vốn chính thức của nông hộ có những thuận lợi quan trọ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGỌC LÂM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN VỐN VAY CHÍNH THỨC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
nguồn vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam” này là bài
nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam
đoan rằng, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố
hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận
văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hồ Ngọc Phương, người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian định hướng và góp ý cho Tôi trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian Tôi theo học tại Trường
Và cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, góp ý và động viên Tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Một lần nữa xin gửi lời tri ân đến toàn thể quý Thầy Cô, đồng nghiệp, bạn bè
và gia đình
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015
Trang 4
TÓM TẮT
Nông nghiệp – nông thôn là nền tảng cơ bản của kinh tế Việt Nam Phát triển khu vực nông thôn và nâng cao phúc lợi cho người dân là một trong những mục tiêu
cơ bản để đảm bảo sự phát triển bền vững trong dài hạn Với mục tiêu đó, nhà nước
đã có nhiều chương trình thúc đẩy tín dụng và khả năng tiếp cận tín dụng đến với nông thôn và nông dân
Bằng dữ liệu điều tra nguồn lực Việt Nam VARHS năm 2012, bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và mức
độ vay nợ chính thức của các nông hộ Kết quả phân tích và ước lượng với 2 mô hình Probit và Tobit từ 1.672 quan sát nông hộ từ mẫu VARHS cho thấy: (1) việc tiếp cận nguồn vốn chính thức của nông hộ có những thuận lợi quan trọng về chính sách, nguồn vốn vay, lãi suất vay cũng như các điều kiện thế chấp; (2) các yếu tố về nhân khẩu học ít ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay cũng như lượng vốn vay của nông hộ nhưng các điều kiện về nền tảng sinh kế, quan hệ xã hội và điều kiện vay vốn có ảnh hưởng mạnh đến khả năng tiếp cận dòng vốn tín dụng chính thức cũng như mức độ vay nợ của hộ nông dân; (3) Lượng vốn vay chính thức của nông
hộ phụ thuộc lớn vào tài sản thế chấp (sổ đỏ) cũng như khả năng tích lũy tài sản của hộ; đồng thời, nghiên cứu cũng xác nhận về xu hướng các gia đình có quan hệ xã hội cao thường vay thấp hơn gia đình bình thường và các gia đình trẻ có xu hướng vay nhiều hơn so với các hộ gia đình cao tuổi
Các hàm ý chính sách từ nghiên cứu này là cần mở rộng quy mô và hình thức cho vay đối với các hộ nông dân không có tài sản thế chấp Ngoài ra, ngân hàng chính sách xã hội có thể thông qua các hiệp hội để mở rộng hơn nữa các hình thức cho vay thông qua các hiệp hội vì đây là những hiệp hội đi sát với điều kiện sống, sản xuất và khả năng cải thiện phúc lợi của từng hộ dân trong khu vực
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Đóng góp của đề tài 5
1.7 Cấu trúc của đề tài 5
2.1 Tổng quan về lý thuyết 7
2.1.1 Các khái niệm liên quan 7
2.1.2 Lý thuyết liên quan 9
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước liên quan đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay 12 2.2.1 Nghiên cứu trong nước liên quan đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay 12
2.2.2 Nghiên cứu nước ngoài liên quan đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay 14
2.3 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan 16
3.1 Thiết kế nghiên cứu 19
3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 20
3.2.1 Mô tả biến nghiên cứu và phương pháp đo lường 21
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 28
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 30
3.4.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính 30
Trang 64.1 Tổng quan tình hình 33
4.2 Mô tả mẫu dữ liệu 34
4.2.1 Các thông tin về nhân khẩu học của hộ 34
4.2.2 Các thông tin về sinh kế -phúc lợi hộ gia đình 36
4.2.3 Các thông tin về vay vốn 38
4.3 Kiểm định khác biệt các đặc tính giữa hai nhóm vay và không vay 40
4.4 Phân tích tương quan và đa cộng tuyến 42
4.5 Ước lượng mô hình hồi quy 43
4.5.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng tiếp cận nguồn vốn vay 43
4.5.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức 47
4.6 Phân tích kết quả 50
4.6.1. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận nguồn vốn vay 50
4.6.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức 53
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị chính sách 56
5.3 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 57
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang 9QTDNDTW Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương
QTDNDCS Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở
VARHS Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam
(Vietnam Access to Resources Household Survey)
(World Trade Organization)
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 trình bày tổng quan chung về nội dung của nghiên cứu, bao gồm: lý
do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu
1.1 Lý do nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi là nền móng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Đặc biệt khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thương mại nông nghiệp đã đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ, tăng thu nhập cho khu vực nông nghiệp, cải thiện đời sống của người dân nông thôn Vì vậy trong thời gian qua NHNN cũng đã rất chú trọng đến việc phát triển tín dụng nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ tín dụng nông thôn phát triển, nâng cao năng lực của các định chế tài chính, nhất là các định chế tài chính hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, kêu gọi các nguồn vốn nước ngoài cho vay trong lĩnh vực này
Mục tiêu của hoạt động tín dụng của NH trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là đáp ứng đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triển toàn diện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người nông dân Để đạt được mục tiêu này, trong thời gian qua hoạt động tín dụng nông nghiệp nông thôn đã có những bước phát triển nhất định, thể hiện ở việc: mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng gia tăng; doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càng tăng; đối tượng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng mở rộng Hoạt động tín dụng đã thực sự gắn với làng, bản, xóm thôn, gần gũi với bà con nông dân Vốn cho vay đã tạo thêm nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, công nghiệp, dịch vụ
Trang 11Ở Việt Nam, khoảng 75% dân số và 90% người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn Nguồn thu nhập của họ phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, do đó bị ảnh hưởng đáng kể bởi thiên tai và dịch bệnh Cung cấp cho người nghèo các dịch
vụ tài chính hiệu quả sẽ giúp họ đối phó với tính dễ tổn thương và do đó có thể giảm nghèo Tiếp cận tín dụng cho các hộ quy mô nhỏ là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi Nó tạo thành một yếu tố thiết yếu của bất kỳ chiến lược giảm nghèo nào cho sự phát triển trong tương lai của
hệ thống tài chính (Barslund & Tarp, 2007) Tuy nhiên, các cá nhân nông thôn bị hạn chế do thị trường tài chính nông thôn kém phát triển
Hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong nhiều năm qua tuy đạt được những kết quả nhất định, song so với mức tăng tín dụng chung của toàn bộ nền kinh tế còn thấp Điều đó cho thấy tín dụng nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn Hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chưa cao, chưa gắn kết được giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ Mặt khác, thu nhập của các hộ nông dân còn thấp, cùng với việc xử
lý quyền sử dụng đất của người nông dân còn có những bất cập, nên việc cho vay các khoản vốn lớn để mở rộng sản xuất của hộ gia đình nông thôn là rất hạn chế Hiện nay nguồn cung tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn nước ta bao gồm tín dụng chính thức (TDCT) và tín dụng phi chính thức, trong đó TDCT ngày càng phát triển, thể hiện ở tính đa dạng, nhiều thành phần sở hữu, và mở rộng về quy mô Mạng lưới TDCT cho vay đến nông nghiệp - nông thôn không chỉ các Ngân hàng thương mại (NHTM) như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT), Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH), Quỹ tín dụng Nhân dân (QTDND), mà còn cả các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể Nguồn vốn, doanh số cho vay và dư nợ tín dụng trong những năm gần đây ngày càng tăng, đối tượng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng cũng ngày càng được mở rộng Mặc dù đã
có những thành công nhất định, song so với mức tín dụng chung của cả nền kinh tế, mức tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu và mục tiêu phát triển của khu vực này Nông dân - những người “đói vốn”
Trang 12vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với TDCT, do vậy họ vẫn phụ thuộc vào mạng lưới tín dụng phi chính thức ở nông thôn (Trần Tiến Khai, 2014)
Theo đánh giá nghèo Việt Nam trong năm 2012 của Ngân hàng Thế giới, các
hộ gia đình nghèo của Việt Nam sống chủ yếu ở khu vực nông thôn Vì vậy, xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn luôn được đặt ưu tiên đầu tiên và nó là một trong những chủ trương lớn của Nhà nước Việt Nam để cải thiện thu nhập và đời sống tinh thần của người nghèo cũng như thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, các địa phương, quốc gia và các nhóm
Do vậy, việc tạo điều kiện cho các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam tiếp cận được tín dụng, thoát nghèo thì nhà nước cần có các chính sách để người dân có thể tiếp cận các nguồn vay để tăng gia sản xuất góp phần giảm nghèo tránh tạo áp lực cho
xã hội Vì lý do đó, việc nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam” là đề tài mang tính
cấp thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
Mức độ tác động của các yếu tố đó đến nguồn vốn vay chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài đặt ra các câu hỏi nghiên cứu để tìm câu trả lời cụ thể như sau:
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức của các hộ gia đình ở Nông thôn Việt Nam ?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó như thế nào đến việc tiếp cận nguồn vốn vay chính thức của các hộ gia đình ?
Những đề xuất, gợi ý chính sách nào được rút ra nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn vay chính thức của các hộ gia đình ở Nông thôn Việt Nam ?
Trang 131.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tác giả kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay chính thức gồm: Đặc điểm chủ hộ (Giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ), đặc điểm hộ (Tỷ lệ phụ thuộc, Số lượng lao động), Đặc điểm tải sản sinh kế (Diện tích đất, Giá trị tài sản, Giá trị tiết kiệm, Thu nhập), Vốn xã hội, Lãi vay, Có sổ đỏ, của các hộ gia đình trong toàn quốc ở Nông Thôn Việt Nam được khảo sát trong Bộ
dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam – VARHS (Vietnam Access to Resources Household Survey) năm
2012
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Dựa trên các nguồn số liệu thu thập từ nguồn đáng
tin cậy Bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn
Việt Nam – VARHS năm 2012
Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu dữ
liệu bao gồm toàn bộ các hộ gia đình trong toàn quốc ở Nông Thôn Việt Nam được khảo sát trong Bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực
hộ gia đình nông thôn Việt Nam – VARHS
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trước hết, tác giả nghiên cứu các mô hình lý thuyết tổng quát trên thế giới nhằm xác định mô hình nghiên cứu phù hợp Sau đó, trích lọc dữ liệu từ Bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam – VARHS
Với tập dữ liệu thu về, sau khi hoàn tất việc gạn lọc, kiểm tra, tổng hợp, mã hóa và làm sạch, sẽ tiến hành xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 13.0 Trình tự thực hiện: thống kê mô tả, kiểm định khác biệt trung bình (t test), ước lượng và kiểm định mô hình bằng phương pháp Probit để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp
Trang 14cận vốn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam và phương pháp Tobit để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam
1.6 Đóng góp của đề tài
Tìm ra các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận và lượng vốn chính thức của các hộ gia đình qua đó đánh giá mức độ tác động và đề xuất một số giải pháp giúp các hộ gia đình tiếp cận được nhiều hơn các nguồn vay (tín dụng) nhằm phục vụ việc tăng gia sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu, phát triển kinh tế xã hội
1.7 Cấu trúc của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện và báo cáo trong luận văn này với cấu trúc
như sau:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu
Nội dung này bao gồm lý do chọn đề tài; trình bày mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; phạm vi và đối tượng nghiên cứu; cấu trúc đề tài; đồng thời tóm lược về phương pháp và số liệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan như các khái niệm, các lý thuyết nghiên cứu, tóm lượt các nghiên cứu trong nước và ngoài nước trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 3 này, tác giả giới thiệu về thủ tục nghiên cứu và quy trình nghiên cứu được thực hiện trong quá trình nghiên cứu Qua đó sẽ chỉ ra cách mà tác giả trả lời
và giải thích các hiện tượng và tuyên bố đã nêu trong chương 1, bao gồm: Thiết kế nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến xử lý được sử dụng trong nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trang 15Chương 4 trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích và kiểm định khác biệt trung bình giữa các hộ gia đình có vay vốn và không vay vốn, ước lượng và kiểm định mô hình bằng phương pháp Probit để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vấn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam và phương pháp Tobit để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam Phân tích các kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và đề xuất các chính sách
Từ những kết quả đã phân tích ở chương 4, chương 5 sẽ tóm lược kết quả nghiên cứu chính, đưa ra kết luận và gợi ý chính sách Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến khái niệm, lý thuyết nghiên cứu Bên cạnh đó, kết hợp các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay chính thức của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam và về các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay chính thức Trên cơ sở đó, Tác giả tổng hợp các nghiên cứu và các biến làm cở sở đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết cho nghiên cứu của mình
2.1 Tổng quan về lý thuyết
2.1.1 Các khái niệm liên quan
Hộ gia đình: Khái niệm hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên trong một gia đình có tài sản chung, cùng có quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt và cùng có trách nhiệm dân sự đối với khối tài sản đó (Bộ luật Dân sự năm 2005)
Nông thôn: Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Tín dụng: Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009) tín dụng là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật dựa trên nguyên tắc người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay cả vốn lẫn lãi sau một thời hạn nhất định Nguyên tắc tín dụng: Nợ vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn cam kết; Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích; Việc bảo đảm tiền vay phải được thực hiện theo quy định của chính phủ và Thống đốc NHNN
Tín dụng chính thức: Theo Trần Tiến Khai (2014), tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp được sự cho phép của nhà nước Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt
Trang 17động dưới sự giám sát và chi phối của ngân hàng nhà nước Các nghiệp vụ hoạt động phải tuân theo luật NH như quy định về khung lãi xuất, huy động vốn, cho vay…và những dịch vụ mà chi có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp được Các tổ chức tín dụng chính thức bao gồm các NH thương mại, NH phục vụ người nghèo (NH CSXH), Quỹ tín dụng nhân dân, các chương trình trợ giúp chính phủ (theo luật NHNN VN)
Vốn vay chính thức: Ở Việt Nam, vốn vay chính thức được cung cấp cho các hộ gia đình ở khu vực nông thôn thông qua: Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT), Ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức quỹ tín dụng nhân dân, các hiệp hội và các quỹ khác theo chương trình hỗ trợ của chính phủ Nhằm mục tiêu giảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản vay không cần tài sản thế chấp, vay với lãi suất thấp cho người nghèo với mục đích đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hoặc kinh doanh khác Các hộ gia đình đủ điều kiện vay vốn là các hộ gia đình nghèo theo tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và đơn xin vay vốn được chứng nhận bởi
Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã (Trần Tiến Khai, 2014)
Trang 18Nguồn: Ngân hàng phát triển ASIAN 2010
Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống tài chính vi mô Việt Nam
2.1.2 Lý thuyết liên quan
Theo nhiều nghiên cứu học thuật phổ quát đã nhấn mạnh rằng: Hỗ trợ tín dụng cho người nghèo các hộ gia đình là điều quan trọng giúp ích cho họ để thúc đẩy quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh, thúc đẩy sản xuất hàng hoá và cũng cải thiện khả năng tiếp cận thị trường Nó sẽ tiếp tục góp phần tăng thu nhập hộ gia đình nghèo cũng như chi tiêu
và sẽ cải thiện của cuộc sống nghèo đói (Armendáriz & Morduch, 2010) Hỗ trợ với các khoản tín dụng sẽ trao quyền cho các hộ gia đình nghèo liên quan đến khả năng tiếp cận của khu vực tài chính Nó sẽ cung cấp cho các lợi ích khác nhau cho các hộ gia đình nghèo chẳng hạn như cơ hội việc làm mới, thu nhập mới, dòng tiêu thụ Đây là một cơ hội cho họ để thoát khỏi cảnh nghèo đói của họ Ngoài ra, tín dụng được xem như là một
CÁC NHÀ CUNG CẤP DVTCVM
Nhà GD nhỏ
CH cầm đồ
Trang 19công cụ quan trọng đối với các hộ gia đình để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và cũng để giảm biến động tiêu thụ Trong đó, tín dụng vi mô và các dịch vụ tài chính khác sẽ cho phép người nghèo tích lũy được tài sản và làm giảm áp lực cho nền kinh tế (Khandker, 2003)
Theo các nhà kinh tế học thuộc trường phái Ohio như Adams (1984), Von Pischke (1978), Gonzalez & Vega (1984) tranh luận rằng chỉ có một bộ phận rất nhỏ của nông dân nghèo tiếp cận và sử dụng được nguồn tín dụng với lãi suất thấp trong các nước đang phát triển Những nỗ lực của hệ thống ĐCTDNT thuộc khu vực chính thức ít khi mang lại lợi ích cho người nghèo vì: Yêu cầu về tài sản thế chấp như là điều kiện tiên quyết; Các định chế thường giới hạn cung cấp tín dụng đến nông dân nghèo để giảm chi phí giao dịch vì chi phí giao địch sẽ rất cao so với số tiền vay rất nhỏ và với số người mượn đông;
Do khống chế của chính sách lãi suất trần, các định chế thường tìm thấy hiệu quả và ít rủi
ro khi cho vay đối với nông dân có qui mô sản xuất lớn (nông dân giàu); Có nhiều người nghèo không có khả năng trả lại nợ và điều này làm ảnh hưởng chung đến uy tín người nghèo về khả năng thanh toán
Theo Deaton (1992) và Attanasio (1999), bằng mô hình hóa hành vi tiêu dùng với giả thuyết thu nhập cả đời, lập luận rằng sự khác biệt giữa thu nhập và tiêu dùng (tiết kiệm hoặc vay) được xác định bởi các hộ gia đình lựa chọn mức độ tiêu dùng tối ưu trong từng thời kỳ, với ràng buộc ngân sách liên thời gian Thu nhập cả đời thường có dạng hình “bướu”: thấp ở thời gian đầu trong cuộc sống cũng như sau này khi con người hoàn toàn hoặc một phần rút khỏi thị trường lao động Do đó, mô hình này dự đoán là vay mượn sẽ cao hơn đối với hộ gia đình trẻ và các hộ gia đình trong độ tuổi trung niên sẽ tiết kiệm cho hưu trí sau này Hơn nữa, Deaton và Attanasio cũng chỉ ra rằng hành vi tiêu dùng còn bị chi phối bởi qui mô hộ gia đình cũng như đặc điểm nhân khẩu học của các thành viên và các khoản vay có thể phụ thuộc quan trọng vào sự không chắc chắn của dòng thu nhập suốt đời Mô hình hành vi tiêu dùng cũng chỉ ra những yếu tố khác có ảnh hưởng tới vay tiêu dùng của hộ: hàng hóa lâu bền và khó khăn về thanh khoản
Trang 20Stiglitz & Weiss (1981) cho rằng phân phối tín dụng theo cơ chế phi giá cả không chỉ là kết quả của sự can thiệp của chính phủ, mà còn từ hành vi của người cho vay và người đi vay trong môi trường không cân xứng thông tin ở thị trường tín dụng Vai trò quan trọng của thông tin về người vay đối với quyết định chấp thuận của người cho vay được Hoff & Stiglitz (1993) chỉ ra qua bước đánh giá mức độ tín nhiệm của người xin vay Thông tin bất cân xứng tạo ra ít nhất hai vấn đề trong tín dụng vi mô – lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Lựa chọn bất lợi phát sinh trong quá trình sàng lọc, những người cho vay không phân biệt được khách hàng “tốt” và “không tốt” và vì vậy không cho những khách hàng “tốt” vay, thị trường không cung cấp các khoản tín dụng đến đối tượng khách hàng mục tiêu Rủi ro đạo đức liên quan đến các cơ chế giám sát và thực thi sau khi khoản vay được chấp thuận do người cho vay không nỗ lực hoàn trả vốn vay vì họ biết các TCTD chia sẻ một phần rủi ro của khoản vay đó (Phạm & Lensink, 2007) Vì vậy các TCTD quyết định cho vay hay không và quyết định mức tín dụng bao nhiêu dựa trên các thông tin mà họ có được về khách hàng vay Như vậy, không phải tất cả các khách hàng vay sẽ nhận được tín dụng mà họ áp dụng cho Do đó, khách hàng vay phải đối mặt với sàng lọc tín dụng bất kể khả năng trả nợ của họ (Theo Phan Đình Khôi (2012)
Theo Nguyễn Thị Bích Đào (2008) tín dụng có vai trò trong phát triển nông thôn
và xóa đói giảm nghèo như sau:
Tín dụng góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn
Giảm chi phí trao đổi và giao dịch, mở rộng thị trường hàng hóa dịch vụ và phạm
vi phân công lao động
Tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh
Tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc sống tinh thần, vật chất cho người nông dân Hoạt động tín dụng thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi trong nông thôn
Trang 21Cung cấp nguồn cần thiết để đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, kinh doanh
Đẩy mạnh thương mại hóa nông nghiệp, thay đổi cơ cấu ngành nông nghiệp
Tiếp cận được tín dụng được coi là công cụ chủ chốt nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Tín dụng thúc đẩy phát triển nông thôn, giảm nghèo đói, thu nhập người nghèo tăng sẽ làm cho hệ thống tín dụng ở nông thôn phát triển hơn
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp: Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng có thể chịu sự tác động chia phối bởi các yếu tố như: giá trị tài sản của nông hộ, diện tích đất mà nông hộ nắm giữ, giới tính chủ hộ, tuổi của chủ hộ, mức độ quen biết trong xã hội, mục đích sử dụng nguồn vốn tín dụng, thu nhập và chi tiêu bình quân trong hộ, số thành viên trong hộ và số người phụ thuộc trong hộ, Mỗi yếu tố sẽ tác động khác nhau đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ Tùy vào đặc trưng của từng vùng, từng địa phương cách quản lý của chính quyền địa phương mà mỗi nhân tố sẽ tác động tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước liên quan đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay
2.2.1 Nghiên cứu trong nước liên quan đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay Theo nghiên cứu của Võ Hồng Phượng & Lê Minh Tiến (2007) khi nghiên cứu
“Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay và xác định nhu cầu vay vốn của các nông hộ
ở huyện Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long” Đã rút ra kết luận các yếu tố: tuổi, giới tính, số người phụ thuộc, trình độ học vấn, diện tích đất, thu nhập, tiết kiệm là các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và quy mô vay vốn, trong đó tiết kiệm là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất
Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hà (1999) về “So sánh sự đóng góp của nguồn tín dụng chính thức và phi chính thức cho các khoản tín dụng nhỏ cho người nghèo ở Việt Nam” Bằng việc sử dụng mô hình mô hình Probit và Logit, tác giả chỉ ra rằng các nhân
Trang 22tố: số thành viên trong hộ và chi tiêu trên đầu người của hộ có tác dụng mạnh mẽ đến khả năng vay mượn của nông hộ và giá trị của món vay Tuy nhiên, tuổi tác lại có tác động tiêu cực đến khả năng năng vay mượn nhưng lại có tác động tích cực đối với giá trị của món vay Ngoài ra, quy mô của hộ lại có tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận cũng như việc vay mướn
Nghiên cứu Trần Thơ Đạt (1998) về “Khả năng tiếp cận tín dụng ở nông thôn Việt Nam” Với việc sử dụng mô hình Logit và phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, tác giả chỉ ra rằng các biến độc lập như quy mô đất, diện tích đất nông nghiệp, số thành viên trong hộ, tỷ lệ phụ thuộc, việc quen biết và địa vị xã hội có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của nông hộ
Nghiên cứu của Trương Đông Lộc Và Trần Bá Duy (2008), “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Tác giả sử dụng mô hình Probit để phân tích những tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ, kết quả phân tích cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông
hộ bao gồm: tuổi chủ hộ, số thành viên trong gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất của chủ hộ, khả năng đi vay từ các nguồn không chính thức, thu nhập của hộ và tổng tài sản của hộ
Nghiên cứu của Vương Quốc Duy & Lê Long Hậu (2012), “Vai trò của tín dụng chính thức trong đời sống nông hộ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp Tobit và Probit, kết quả nghiên cứu cho thấy nông hộ có vay vốn sẽ
có điều kiện tốt hơn để gia tăng thu nhập, tăng giá trị tài sản, tăng chi tiêu cho giáo dục và chi tiêu cho thực phẩm hơn là hộ không vay vốn Do đó, việc tiếp cận tín dụng có thể giảm tỷ lệ hộ nghèo đói ở vùng ĐBSCL - Việt Nam
Nghiên cứu của Lâm Chí Dũng (2003), khi nghiên cứu về “Tín dụng phi chính thức ở nông thôn miền Trung” Cho thấy, những hộ có trình độ học vấn càng thấp thì khả năng vay vốn ở khu vực chính thức càng ít, ngược lại họ tìm kiến nguồn tài trợ từ khu
Trang 23vực phi chính thức Các hộ có thu nhập có xu hướng tiếp cận vốn từ khu vực phi chính thức nhiều hơn hộ có thu nhập cao
Nghiên cứu của Trần Ái Kết (2009) “Một số giải pháp chủ yếu về vốn tín dụng của trang trại nuôi trồng thủy sản ở Trà Vinh”, nghiên cứu về vốn tín dụng tại 310 trang trại nuôi tôm sú tại 4 huyện Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành - tỉnh Trà Vinh
Đề tài đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và mô hình Logit nhị phân để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của trang trại nuôi trồng thủy sản Kết quả phân tích hồi qui mô hình Logit nhị phân cho biết có nhiều yếu tố trong
mô hình tác động ở mức có ý nghĩa tới khả năng bị giới hạn tín dụng chính thức của trang trại Một số yếu tố tương quan nghịch với khả năng bị giới hạn tín dụng của trang trại: nghề nghiệp của chủ trang trại, tổng giá trị tài sản của trang trại; tiết kiệm, diện tích đất thổ cư có sổ đỏ Các yếu tố có tác động thuận như tuổi, trình độ học vấn của chủ trang trại, có sử dụng tín dụng thương mại, tỷ lệ diện tích mặt nước nuôi thực tế và thu nhập phi sản xuất của trang trại
2.2.2 Nghiên cứu nước ngoài liên quan đến khả năng tiếp cận và lượng vốn vay Nghiên cứu Hawley & Fujii (1991), phân tích thông tin từ dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng ở các tổ chức tín dụng của 3.665 hộ gia đình ở Hoa Kỳ năm 1983 bằng hồi qui
mô hình Probit, cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng của hộ: chủng tộc, tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân của chủ hộ, thu nhập và chi tiêu của hộ Trong đó, chủ hộ là nam, lớn tuổi, có con cái và gia đình có thu nhập cao trong khi chi tiêu thấp và chủ hộ da trắng có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn chủ hộ da màu Nghiên cứu của Diagne (1999), thông qua việc sử dụng giá trị log của hàm gần đúng, tác giả cho thấy rằng nguồn hình thành nên tài sản của hộ thì quan trọng hơn nhiều
so với tổng giá trị tài sản hoặc số đất mà hộ nắm giữ và nguồn hình thành nên tài sản được xem là nhân tố quyết định khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của hộ Đặc biệt, giá trị của đất và giá trị vật nuôi trong tổng giá trị tài sản của hộ càng cao thì nó càng
có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của hộ Tuy nhiên, diện
Trang 24tích đất mà hộ năm giữ cũng có tác động đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức
Nghiên cứu Chien & DeVaney (2001), sử dụng dữ liệu khảo sát về tài chính tiêu dùng của 4.305 hộ gia đình năm 1998 ở Hoa Kỳ, bằng phân tích hồi qui mô hình Tobit, cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng tới lượng tín dụng tiêu dùng ở tổ chức tín dụng của hộ Chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn, có gia đình và có chuyên môn cũng như có thái độ
rõ ràng đối với nghĩa vụ trả nợ sẽ có lượng tín dụng cao hơn Hộ gia đình có nhiều nhân khẩu và có thu nhập thấp cũng có khả năng vay được nhiều hơn
Nghiên cứu của Okurut (2006), nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo và người da màu ở Nam Phi đối với thị trường chính thức và phi chính thức Bằng việc sử dụng mô hình Probit và mô hình Logit, tác giả chỉ ra rằng người nghèo và người da màu bị hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng này Trong phạm vi quốc gia, khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi giới tính, độ tuổi, số thành viên trong hộ, trình độ học vấn, chi tiêu
và chủng tộc của hộ Việc nghèo khó có tác động xấu đến việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức Ở thị trường tín dụng phi chính thức, việc tiếp cận các khoản tín dụng này chịu sự tác động tích cực bởi số thành viên trong hộ và vị trí khu vực nông thôn Trong khi đó các nhân tố có tác động xấu đến việc tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức đó là nam giới, vị trí nông thôn, việc nghèo khó và bần cùng
Guangwen & Lili (2005), trong nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của các nông hộ ở huyện Tongren, Trung Quốc; qua phân tích hồi qui Probit đã kết luận các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các nông hộ là: trình độ học vấn của chủ
hộ và mức giàu có của hộ có tương quan thuận tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức; nguồn thu nhập và chính sách của địa phương cũng là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ; tuổi của chủ hộ, giá trị tiết kiệm và số con dưới tuổi lao động trong hộ cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ
Trang 25Nghiên cứu tại Bangladesh, Khandker (2003), chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng là tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ, đối với các hộ để vay được vốn thì trình độ học vấn của chủ hộ và diện tích đất sở hữu là yếu tố quan trọng
Để chứng minh cho những nghiên cứu trên, Vaesen (2001) đã khảo sát khả năng tiếp cận tín dụng nông thôn ở các ngân hàng Nông nghiệp ở miền Bắc Nicaragua Bằng việc sử dụng mô hình hồi qui Logit, kết quả cho thấy rằng khả năng tiếp cận tín dụng chịu ảnh hưởng bởi trình độ học vấn, số thành viên trong hộ, những hoạt động phi nông
nghiệp, việc tiếp cận thông tin và việc giới thiệu
2.3 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây
Tác giả Khu vực Phương
Phương pháp Probit
và Tobit
Tuổi, giới tính, số người phụ thuộc, trình độ học vấn, diện tích đất, thu nhập, tiết kiệm là các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và quy mô vay vốn, trong đó tiết kiệm là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất
và Logit
Số thành viên trong hộ và chi tiêu trên đầu người của hộ có tác dụng mạnh mẽ đến khả năng vay mượn của nông hộ và giá trị của món vay
Tuổi tác có tác động tiêu cực đến khả năng năng vay mượn nhưng lại có tác động tích cực đối với giá trị của món vay
Quy mô của hộ có tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận cũng như việc vay mượn
Trần Thơ
Đạt (1998)
Nông thôn Việt Nam
Phương pháp Logit
Phương pháp Probit
Các yếu tố tác động gồm: tuổi, quy mô hộ, học vấn, diện tích đất, thu nhập và tổng tài sản
Trang 26Tác giả Khu vực Phương
Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng của hộ: chủng tộc, tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân của chủ hộ, thu nhập và chi tiêu của hộ
Chủ hộ là nam, lớn tuổi, có con cái và gia đình có thu nhập cao trong khi chi tiêu thấp và chủ hộ da trắng có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn chủ hộ
Chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn, có gia đình và
có chuyên môn cũng như có thái độ rõ ràng đối với nghĩa vụ trả nợ sẽ có lượng tín dụng cao hơn Hộ gia đình có nhiều nhân khẩu và có thu nhập thấp cũng có khả năng vay được nhiều hơn
Okurut
(2006) Nam Phi
Phương pháp Probit
và Logit
Người nghèo và người da màu bị hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng này
Khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức chịu
sự chi phối mạnh mẽ bởi giới tính, độ tuổi, số thành viên trong hộ, trình độ học vấn, chi tiêu và chủng tộc của hộ Việc nghèo khó có tác động xấu đến việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức
Ở thị trường tín dụng phi chính thức, việc tiếp cận các khoản tín dụng này chịu sự tác động tích cực bởi số thành viên trong hộ và vị trí khu vực nông thôn
Các nhân tố có tác động xấu đến việc tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức đó là nam giới, vị trí nông thôn, việc nghèo khó và bần cùng
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 27Kết luận chương 2
Trong chương 2, tác giả đã trình bày các lý thuyết liên quan đến đề tài và tổng quan các nghiên cứu trước đây Các biến đưa vào mô hình sẽ dựa trên cơ sở khoa học qua các nghiên cứu thực nghiệm đã được công nhận ở trên Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam sẽ được tác giả phân tích bằng phương pháp Probit và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức sẽ tiến hành bằng phương pháp Tobit
Trang 28PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 này, tác giả giới thiệu về thủ tục nghiên cứu và quy trình nghiên cứu được thực hiện Qua đó sẽ chỉ ra cách mà tác giả trả lời và giải thích các hiện tượng và tuyên bố đã nêu trong chương 1, bao gồm: Thiết kế nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến xử lý được sử dụng trong nghiên cứu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này được thiết kế thực hiện tuần tự theo hai bước Bước 1 là nghiên cứu khám phá sử dụng phương pháp định tính được tiến hành thông qua kỹ thuật tổng hợp các lý thuyết về tiếp cận tín dụng của nông hộ, các khảo lược nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến việc tiếp cận vốn vay chính thức và lượng vốn vay của hộ gia đình ở khu vực nông thôn tại Việt Nam và thế giới, kết hợp với phân tích tình hình thực tiễn của hộ gia đình nông thôn được nghiên cứu, mô hình nghiên cứu lý thuyết để xuất được xây dựng Ở Bước 2, phân tích dữ liệu nhằm kiểm chứng mô hình lý thuyết đã xây dựng ở Bước 1
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất, tác giả tiến hành thu thập thông tin và dữ liệu từ nguồn VARHS; dữ liệu thu thập về được tổng hợp, làm sạch và xử lý trước khi phân tích Bằng việc sử dụng mô hình Probit và mô hình Tobit, tác giả sẽ tiến hành sử dụng phần Stata 13.0 để kiểm chứng để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín dụng và lượng vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Cuối cùng, tác giả tiến hành các kiểm định đánh giá mô hình phù hợp và phân tích kết quả
Trang 29Mục tiêu Lý thuyết Phân tích Kết quả Thảo luận
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu
3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu
Với mục tiêu của bài nghiên cứu này là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Dựa trên cơ sở nghiên cứu các
lý thuyết về tiếp cận tín dụng cùng với các nghiên cứu trước đã đề cập và thực tiễn tình hình vay vốn chính thức của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam được nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam như sau:
Thu thập dữ liệu từ các nguồn
Phân tích
Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
bằng phương pháp Probit và
Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay chính thức bằng
phương pháp Tobit
Kiểm định độ phù hợp và kiểm chứng mô hình lý thuyết
Tổng hợp và
xử lý dữ liệu trước khi phân tích
Các nghiên cứu trước liên quan
Xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết
Phân tích thống kê
mô tả các biến nghiên cứu
Trang 30Mô hình tiếp cận nguồn vốn vay
Y=1 nếu hộ có tiếp cận nguồn vốn vay và ngược lại (Y=0)
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay
Y: Lượng vốn vay chính thức của hộ gia đình
Biến độc lập:
X1: Giới tính chủ hộ;
X2: Tuổi chủ hộ
X3: Tình trạng hôn nhân chủ hộ X4: Trình độ học vấn chủ hộ X5: Số lao động trong hộ
X6: Tỷ lệ phụ thuộc trong hộ X7: Diện tích đất sử dụng;
X8: Giá trị tài sản;
X9: Giá trị tiết kiệm X10: Thu nhập
X11: Quan hệ xã hội X12: Lãi suất vay;
X13: Có sổ đỏ;
u it : sai số 3.2.1 Mô tả biến nghiên cứu và phương pháp đo lường
Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng tiếp cận tín dụng và lượng tiền được vay của hộ gia đình nông thôn có thể bị ảnh hưởng bởi một số biến giải thích như: Giới tính chủ hộ, Tuổi chủ hộ, Tình trạng hôn nhân chủ hộ, Trình độ học vấn chủ hộ, Số lao động trong hộ, Tỷ lệ phụ thuộc trong hộ, Diện tích đất sử
Trang 31dụng, Giá trị tài sản, Giá trị tiết kiệm, Thu nhập, Lãi suất vay, vốn xã hội, Có sổ đỏ, … Mỗi biến có thể ảnh hưởng đến những mức độ tiếp cận vốn vay và lượng vốn vay khác nhau Mức độ ảnh hưởng của những biến này đối với những hộ có vay vốn ở các hình thức tín dụng khác nhau thì khác nhau Từ kết quả điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam – VARHS, tác giả quyết định chọn những biến sau để tiến hành nghiên cứu:
Lượng vốn vay (Y): Đây là biến phụ thuộc của mô hình Lấy lượng vốn vay chính thức của hộ gia đình từ các tổ chức cho vay chính thức
Giới tính chủ hộ: Giới tính là giới của chủ hộ là một biến giả được mã hóa là 1 nếu chủ hộ là nam và 0 nếu là nữ Việc chủ hộ là nam hay là nữ cũng có ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn vay cũng như lượng vốn vay được của nông hộ Hiện nay có nhiều hình thức hỗ trợ vay; vốn dành cho phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình.Thông thường chủ hộ là nam thì có khả năng vay vốn cao hơn nữ vì nam giới thường giao thiệp rộng hơn nữ Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng chủ hộ là nam thì có khả năng vay vốn cao hơn nữ Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: +)
Tuổi chủ hộ: Qua khảo lượt các nghiên cứu của Võ Hồng Phượng & Lê Minh Tiến (2007), Vũ Thị Thanh Hà (1999), Hawley & Fujii (1991),…kết hợp quan sát thực tế nhận thấy rằng tuổi chủ hộ là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận vốn vay và lượng vốn vay từ các tổ chức tín dụng chính thức Khi chủ hộ có tuổi đời càng cao thì trải nghiệm nhiều hơn, mối quan hệ rộng hơn thì càng có tiếp cận được nhiều nguồn vốn vay chính thức, điều này giúp cho hộ gia đình có khả năng tiếp cận vấn vay tốt hơn và hộ có thể vay nhiều hơn Tuổi chủ hộ được đo lường bằng số năm và được kỳ vọng có mối liên hệ đồng biến với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: +)
Tình trạng hôn nhân : Những chủ hộ có gia đình thường có thái độ rõ ràng đối với
nghĩa vụ trả nợ sẽ có lượng tín dụng cao hơn (Chien & DeVaney, 2001) Khi chủ hộ có gia đình thường có xu hướng ổn định hơn về mặt kinh tế, tài sản và khả năng trả nợ cũng tốt hơn Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đo lường tình trạng hôn nhân của chủ hộ là
Trang 32biến định tính thể hiện thông qua 2 thuộc tính: (1) có gia đình, (0) khác Kỳ vọng hộ có gia đình sẽ có khả năng tiếp cận và vay vốn nhiều hơn Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: +)
Trình độ học vấn: Chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn và có chuyên môn cũng như
có thái độ rõ ràng đối với nghĩa vụ trả nợ sẽ có lượng tín dụng cao hơn (Chien & DeVaney, 2001) Trình độ học vấn được đo lường thông qua số năm đến trường của chủ
hộ, những chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì khả năng tính toán đầu tư hiệu quả hơn nên khả năng tiếp cận và vay vốn nhiều hơn Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: +)
Số lao động: Số lao động là những thành viên trong độ tuổi lao động Số lao động trong hộ càng nhiều thì nông hộ càng dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất và có khả năng tạo thu nhập cao nên gia đình có số lao động đông có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay cao hơn Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: +)
Tỷ lệ phụ thuộc: Được đo lường bằng số người phụ thuộc trong hộ gia đình là số người không nằm trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm, người tàn tận cần nuôi dưỡng trên tổng số thành viên của hộ Thực tế cho thấy,
tỷ lệ người phụ thuộc càng cao thì việc tạo ra các nguồn thu nhập sẽ thấp Vì vậy, khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay chính thức sẽ trở nên khó khăn hơn Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: -)
Diện tích đất: Diện tích đất là đất đai mà hộ gia đình nông thôn sở hữu được tính theo đơn vị nghìn m2, biến này bao gồm đất ruộng vườn, đất thổ cư, diện tích ao hồ, đất nông nghiệp và các loại đất khác Đất có thể dùng cho việc thế chấp cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng chính thức để vay vốn, nó là cơ sở đầu tiên đảm bảo cho tổ chức tín dụng xét duyệt cho vay vốn Có thể nói diện tích khác nhau thì khả năng tiếp cận cũng như lượng vốn vay cũng khác nhau, diện đất của hộ gia đình nông thôn càng lớn thì khả năng tiếp cận vốn vay và lượng vốn vay được càng lớn Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác
Trang 33giả kỳ vọng Diện tích đất có tác động dương đến khả năng tiếp cận vốn vay và lượng vốn vay (kỳ vọng dấu: +)
Giá trị tài sản: Tổng giá trị hiện tại của 23 mục tài sản lâu bền của hộ gia đình ( bảng 3.1), đơn vị tính là ngàn đồng Theo Vương Quốc Duy & Lê Long Hậu (2012), Trần
Ái Kết (2009) và Diagne (1999), Tài sản được xem là nhân tố quyết định khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của hộ Đặc biệt, giá trị của đất trong tổng giá trị tài sản của hộ càng cao thì nó càng có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay chính thức của hộ Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc (kỳ vọng dấu: +)
Bảng 3.1: Danh mục tài sản lâu bền của hộ gia đinh theo VARHS
1 Tivi màu
2 Ti vi đen trắng
3 Đầu kỹ thuật số
4 Đầu Video hoặc đầu DVD
5 Dàn STEREO (đĩa CD và đài)
6 Đài, cassette MONO
7 Điện thoại (bao gồm cả điện thoại di động)
14 Tàu/ thuyền/ ghe/ xuồng
15 Máy chế biến thức ăn cho gia súc
16 Máy sát gạo
17 Máy thu hoạch (gặt/tuốt lúa)
18 Các dụng cụ phun thuốc trừ sâu
Trang 34Giá trị tiết kiệm: Tổng số tiền hộ tiết kiệm được tính đến thời điểm khảo sát bao gồm các khoản tiết kiệm chính thức (gửi các tổ chức tín dụng chính thức) và tiết kiệm không chính thức (Họ, hụi, phường; Cất trữ tiền mặt/vàng/trang sức; Cho vay lãi;….) Đơn vị tính là ngàn đồng Võ Hồng Phượng & Lê Minh Tiến (2007) tiết kiệm là các nhân
tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và quy mô vay vốn Theo Besley (1995), khi hộ gia đình
có mức tiết kiệm càng cao thì động cơ vay nợ và mức độ vay nợ đều thấp do khả năng tài chính cao hơn so với các hộ ít có khoản tiết kiệm Do đó, kỳ vọng biến giá trị tiết kiệm có mối quan hệ nghịch với biến phụ thuộc
Thu nhập: Thu nhập là tổng thu nhập của nông hộ trong một năm, nếu thu nhập của nông hộ càng lớn thì có thể nhu cầu vay vốn có thể giảm xuống vì hộ có đủ nguồn lực cũng như vốn để đầu tư và sản xuất Võ Hồng Phượng & Lê Minh Tiến (2007) thu nhập
là các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và quy mô vay vốn Guangwen & Lili (2005), nguồn thu nhập là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ, Hawley & Fujii (1991) thu nhập là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng của hộ Các hộ có thu nhập cao thì dễ tạo được sự tín nhiệm của cán bộ tín dụng nên càng dễ dàng tiếp cận với vốn tín dụng chính thức, tuy nhiên do có thu nhập cao thì họ ít có nhu cầu vay vốn tín dụng bởi vì họ đã có nhiều vốn
để sản xuất, nên có thể mang dấu dương hoặc âm Biến độc lập này được tính bằng ngàn đồng Do đó, biến này kỳ vọng có mối quan hệ thuận/nghịch với biến phụ thuộc (kỳ vọng
dấu: +/-)
Quan hệ xã hội: Khi chủ hộ hoặc người trong gia đình có người thân, bạn bè làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong các tổ chức đoàn thể thì có mối quan hệ xã hội rộng rãi, quen biết nhiều nên dễ tiếp cận vốn tín dụng chính thức hơn so với chủ hộ không có quan hệ xã hội Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đo lường quan hệ xã hội của hộ là biến định tính thể hiện thông qua 2 thuộc tính: (1) Hộ gia đình có người làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể,…, (0) Hộ gia đình không có người làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể,… Kỳ vọng hộ có mối quan hệ sẽ