1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG ÔN TRIẾT HỌC LỚP CAO HỌC

32 252 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 232 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU 1: SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀTRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY1. Sự giống nhau:Đây là kết tinh nhũng giá trị tinh túy nhất của tất cả các thời kỳ lịch sử, thể hiện quan điểm của con người trong từng giai đoạn lịch sử, quan điểm của con người về mọi vấn đề: tự nhiên, nhận thức, chính trị xã hội.Đều là sự phản ánh những quy luật chung nhất: tri thức mang tính khái quát, mang mang tính trừu tượng.2. Sự khác nhau:

Trang 1

CÂU 1: SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ

TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

1 Sự giống nhau:

Đây là kết tinh nhũng giá trị tinh túy nhất của tất cả các thời kỳ lịch sử, thể hiện quan điểm củacon người trong từng giai đoạn lịch sử, quan điểm của con người về mọi vấn đề: tự nhiên, nhận thức,chính trị - xã hội

Đều là sự phản ánh những quy luật chung nhất: tri thức mang tính khái quát, mang mang tínhtrừu tượng

2 Sự khác nhau:

*Hướng nội

- nhận thức những vấn đề trong chính cuộc

sống của con người, Triết học Ấn Độ cổ trung

đại: Phật giáo thể hiện rõ nét ở quan niệm tự

thân sinh thành Phật giáo đặc biệt chú trọng

triết lý về nhân sinh Cũng như nhiều trường

phái triết học của Ấn Độ cổ đại, PG đặt vấn đề

tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự giải thoát

khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng

thái tồn tại Niết bàn Nội dung của triết học

nhân sinh PG tập trung ở bốn luận đề: khổ đế,

nhân đế, diệt đế, đạo đế Bốn luận đề này thực

chất là giải thích các vấn đề diễn ra trong cuộc

sống con người và tìm ra con đường tu đạo của

con người

Triết học Trung Hoa cổ trung đại: coi con

người là tiểu vũ trụ trong hệ thống lớn, trời đất

với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một Như vậy

con người cũng chứa đựng tất cả những tính

chất, những huyền bí của vũ trụ bao la chỉ cần

* Hướng ngoại

Chủ yếu hướng ra tìm hiểu thế giới, tìm cáchgiải thích, chinh phục thế giới; con ngườidường như tách mình ra khỏi thế giới để nhậnthức thế giới:

+ Trả lời câu hỏi khởi nguyên của thế giới bắt đầu từ đâu:

- Theo các quan điểm duy vật thì khẳng địnhthế giới được hình thành từ những dạng vật chấtcụ thể, như Hêraclit thì cho rằng khởi nguyêncủa thế giới là lửa; Talet là nước, Đêmocrit lànguyên tử…

- Theo quan điểm của các nhà duy tâm thì thếgiới là do một lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra,như Pitago thì cho rằng thế giới này được hìnhthành từ những con số và ông đã thần thánh hóacác con số đó

+ Đi vào giải thích các sự vật hiện tượng

- Các sự vật, hiện tượng trong thế giới được tạo

ra như thế nào

Trang 2

suy xét ở trong tâm, tận tâm của mình mà thôi.

* triết học là các học thuyết chính trị- xã hội

- thời kỳ Xuân Thu- Chiến Quốc là thời kỳ

chuyển biến từ chế độ CHNL sang chế độ

phong kiến Xã hội lúc này ở vào tình trang hết

sức hỗn loạn, sự tranh giành quyền lực, cát cứ

đã đẩy xã hội trung hoa vào tình trạng chiến

tranh khốc liệt liên miên Trong tình hình đó

một loạt các học thuyết triết học gắn với các

vấn đề chính trị- xã hội đã xuất hiện Tiêu biểu

là học thuyết của phái Nho gia Kinh điển của

Nho giáo thể hiện ở Tứ thư, Ngũ kinh Qua hệ

thống kinh điển có thể thấy hầu hết là các

kinh,sách viết về xã hôi, về những kinh nghiệm

lịch sử Trung Hoa Điều này cho thấy rõ xu

hướng biện luận về xã hội, về chính trị- đạo đức

là tư tưởng cốt lõi của Nho gia Nho gia coi

những quan hệ chính tri- đạo đức là quan hệ

nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là

quan hệ vua- tôi, cha-con, chồng- vợ; lý tưởng

của Nho gia là xây dựng một xã hội đại đồng,

lấy giáo dục là phương thức chủ yếu để đạt tới

xã hội đó, và theo Nho gia thì bản tính con

người là Thiện Nho gia là học thuyết có nội

dung phong phú và mang tính hệ thống, nó còn

le hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Trung Hoa

suốt hai ngàn năm của xã hội phong kiến

Ngoài ra ở Trung Hoa thời đó còn có phái Đạo

gia( học thuyết về Đạo): với cốt lõi chủ thuyết

chính trị- xã hội là luận điểm Vô vi Vô vi

không phải là cái thụ động, bất động hay không

hành động mà có nghĩa là hành động theo bản

- theo Hêraclit thì sự vật, hiện tượng được sinh

ra do sự vận động lửa: Lửa→ đất→nước→không khí (Logos) đây chính là quy luậtvận động của lửa, trong quá trình này lửa sẽ tạo

Trang 3

tính tự nhiên của Đạo; Thuyết “Kiêm ái” của

phái Mặc gia là một chủ thuyết chính trị- xã hội

mang đậm nét tiểu nông với chủ trương: mọi

người thương yêu nhau không phân biệt than

sơ, đẳng cấp; học thuyết Pháp trị của phái Pháp

gia, Hàn Phi Tử đã nhấn mạnh sự cần thiết phải

cai trị xã hội bằng luật pháp Phép trị quốc của

Hàn Phi Tử bao gồm: pháp, thế và thuật

Như vậy, mặc dù vẫn đứng trên quan điểm duy

tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp

giải quyết các vấn đề xã hội nhưng những học

thuyết này đã góp phần rất lớn trong việc xác

lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân

chủ phong kiến trung ương tập quyền theo

những giá trị chuẩn mực chính trị- đạo đức

phong kiến Phương Đông

* cuộc đấu tranh giữa CNDV- CNDT không

rõ rệt

ở PĐ có sự đan xen các trường phái DT và DV

Các yếu tố duy vật, duy tâm, biện chơngs, siêu

hình không rõ nét Sự phân chia chỉ xét về đại

thể, còn đi sâu vào những nội dung cụ thể

thường là có mặt duy tâm, có mặt duy vật, sơ

kỳ là duy vật, hậu kỳ là duy tâm hay nhị nguyên

luận, thể hiện rõ thế giới quan thiếu nhất quán,

thiếu triệt để của triết học vì phân kỳ lịch sử

trong các xã hội của Phương đông cũng không

mạch lạc như Phương Tây

Các nhà triết học ở cacs thời đại chỉ giới hạn

mình trong khuôn khổ ủng hộ bảo vê quan điểm

* Đấu tranh duy vật và duy tâm rõ rệt, đậm nét mạnh mẽ; có sự phân biệt rõ ràng giữa triết học và tôn giáo

+ Ngay từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại đã có sự phânchia, đấu tranh rạch ròi giữa hai trường phái này

và nó trở thành quy luật phát triển của lịch sửtriết học Đứng trên lập trường đối lập nhautrong quá trình giải quyết vấn đề cơ bản củatriết học, trả lời câu hỏi giữa vật chất và ý thứccái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyếtđịnh cái nào?; con người có khả năng nhận thứcđược thế giới hay không?

+ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm trong thời kỳ Hy Lạp cổ đạiđược thể hiện rất rõ qua hệ thống triết học của

Trang 4

hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát

triển nó lớn hơn là vạch ra những sai lầm và

không đặt ra mục đich là tạo ra một triết học

mới, do vậy nó không mâu thuẫn với các học

thuyết đặt nền móng ban đầu, không phủ định

nhau hoàn toàn cho nên cuộc đấu tranh giữa các

trường phái không gau gắt, quyết liệt và triệt để

- triết học gắn với tôn giáo và ảnh hưởng của

tôn giáo

ở PĐ thì triết học ít khi tồn tại dưới dạng thuần

tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức

xã hội khác Cái nọ lấy cái kia làm tiền đề phát

triển cho nên ít có những triết gia với những tác

phẩm triết học độc lập: triết học trung Hoa đan

xen với chính trị lý luận, triết học Ấn Độ lại đan

xen với tôn giáo So với các nền triết học cổ đại

khác thì triết học Ấn độ cổ đại là một nền triết

học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn

giáo

Đêmocrit và Platon

(● Quan niệm về thế giới:

Đ: nguyên tử, bản chất sự vật là sự sắp xếp cácnguyên tử

P: ý niệm, bản chất của sự vật là do ý niệmquyết định

● Quan niệm về con người:

Đ: con người: linh hồn + thể xác, không bất tử.P: linh hồn+ thể xác, bất tử

● Quan niệm chính trị - xã hội:

Đ: đứng trên lập trường chủ nô dân chủ, những

tư tưởng của ông về nhà nước, dân chủ mangtính chất tiến bộ

P: bảo vệ tập đoàn chủ nô quý tộc, lạc hậu, phânchia đẳng cấp, phản đối dân chủ)

+ Trong thời kỳ trung cổ cuộc đấu tranh đóđược biểu hiện qua hệ thống triết học của pháiduy thực (thừa nhận chỉ tồn tại cái chung, phủnhận cái riêng) và phái duy danh (ngược lại).+ Cận đại:

CNDV (Anh: Bê cơn, Hốpxo, Lốcco; Pháp: Đềcac, Lametri, Đidro,

Hôbach;)CNDT: Becoli, Hium

- Triết học cổ điển Đức:

CNDV: PhơbachCNDT: Hêghen

* hệ thống khái niệm, phạm trù: * Khác nhau về hệ thống khái niệm, phạm trù

Trang 5

+ về bản thể luận: ở PĐ dùng các phạm trù: thái

cực, đạo sắc, hình, vạn pháp…hay ngũ hành:

Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ… để nói về bản

chất của vũ trụ Khi bàn về mối quan hệ giữa

con người với con người: tâm-vật, năng- sở,

lý-khí, hình-thần

+ về tính chất và sự biến đổi của thế giới: PĐ sử

dụng các phạm trù: động- tĩnh, biến dịch, vô

thường, vô ngã, lấy cái tĩnh, cái thống nhất làm

gốc

+ về các mối liên hệ giữa các sj vật, hiện tượng

ở PĐ xuất hiện các khái niệm: đạo, lý, mệnh,

thần

Ngay từ đầu ở phương Tây các nhà triết học đã

sử dụng phạm trù vật chất, ý thức, biện chứng,siêu hình, vận động, khách thể, chủ thể

* triết học phát triển không liên tục

lịch sử triết học PĐ ít có sự nhảy vọt về chất

mang tính vạch thời đại mà chỉ là sự phát triển

cục bộ, kế tiếp và xen kẽ Ở Ấn độ cũng như

Trung quốc các trường phái có từ thời cổ đại

vẫn giữ nguyên tên gọi cho đến ngày nay

* phép biện chứng: sự vận động diễn ra theo

vòng tuần hoàn, điều hoà, nhấn mạnh sự hài

hoà

Tiêu biểu cho PBC này là thuyết âm dương ngũ

hành: triết học âm dương có thiên hướng suy tư

về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của

vạn vật, đó là sự tương tác của hai thế lực đối

lập nhau: âm- dương Hai thế lực âm- dương

không tồn tại biệt lập mà thống nhât với nhau,

chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản

* Phát triển diễn ra liên tục, phủ định của phủ

định; phát triển đi lên, liên tục từ thấp đến cao,tính mâu thuẫn: triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại

là biện chứng sơ khai, mộc mạc, chất phác→siêu hình→biện chứng

(triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại là biện chứng

sơ khai, mộc mạc, chất phác Đến thế kỷ 17, 18khi khoa học, kỹ thuật phát triển có sự phânngành thành các khoa học cụ thể, nghiên cứuthực nghiệm, con người tiếp tục đạt được nhiềuthành tựu triết học, nhưng lại rơi vào duy vậtsiêu hình Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác – Lênin

ra đời )

CÂU 2: QUY LUẬT CỦA SỰ PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC

Trang 6

TRONG LỊCH SỬ

Lịch sử phát triển của triết học thể hiện hai quy luật cơ bản sau

1 Phản ánh cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Triết học nghiên cứu nhiều vấn đề chung, nhưng vấn đề trung tâm, cơ bản là mối quan hệ giữavật chất và ý thức, tư duy và tồn tại Ph.Ăngghen từng nói: “ Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triếthọc, đặc biệt là triết học hiện đại là quan hệ giữa tư duy và thực tại” Sở dĩ quan hệ này lại là vấn đề

cơ bản của triết học vì thế giới chung quy chia thành 2 loại là sự vật vật chất và hiện tượng tinh thần,giữa vật chất và tinh thần có quan hệ lẫn nhau, triết học đi sâu làm sáng tỏ mối quan hệ đó, đồng thờigiải quyết vấn đề này sẽ là cơ sở để giải quyết các vấn đề tiếp theo vì nó là điểm xuất phát của mọi tưtưởng, mọi quyết định của mọi hệ thống triết học Triết học được chia làm 2 trào lưu chính là CNDV

và CNDT

CNDT cho rằng thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào

đó, có thể là “ý chí của Thượng đế” là “ý niệm tuyệt đối”, họ cho rằng thần linh là người sáng tạo ratất cả trong đó có cả con người và con người không thể nhận biết được thế giới Ngược lại, CNDVkhẳng định thực thể của thế giới là vật chất, cái tồn tại một cách vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật và hiệntượng cùng những thuộc tính của chúng, khẳng định rằng con người là sản phẩm cao nhất trong quátrình tiến hoá của tự nhiên, con người hoàn toàn có khả năng nhận biết và cải tạo thế giới Vì vậy,cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT diễn ra từ thời cổ đại và nó xuyên suốt chiều dại lịch sử triếthọc từ đó tới nay

* Ngay từ thời Cổ đại Hy Lạp là cuộc đấu tranh không khoan nhượng của hai nhà triết học tiêubiểu là Platon (427-347) và Đêmôcơrit (460-370) trước Công Nguyên

+ Quan niệm về thế giới”

Platon cho rằng thế giới bao gồm có thế giới ý niệm và thế giới cảm tính TG ý niệm là TG củanhững khái niệm, tri thức, định luật, quy luật… tách rời hẳn SV cảm tính, tồn tại vĩnh viễn, bất biến

và nó chính là n.gốc của các SV cảm tính TG SVcảm tính là TG của các SV biến đổi k ngừng sinh ra

và k ngừng chết đi Các SV cảm tính hết sức đa dạng, phong phú TGSV cảm tính tồn tại nhất thời và

do TG ý niệm sinh ra Học thuyết về TG ý niệm của Platon cho rằng bản thân ý niệm tồn tại vĩnhviễn, số lượng ý niệm so với SV cảm tính chỉ là có hạn TG ý niệm được tổ chức chặt chẽ theo thứ tự.Như vậy, bản chất của TG là do ý niệm quy định Còn Đêmocrit cho rằng TG hình thành từ nguyên

tử và chân k Nguyên tử là những hạt VC nhỏ bé nhất, k thể tiếp tục phân chia, bất biến, tồn tại vĩnhviễn và luôn vận động Các ntử là đồng nhất về chất, chúng chỉ khác nhau về hình thức và kích thước.Chân k là khoảng k rộng lớn, trong đó các ntử vận động các ntử kết hợp với nhau theo hình thức, trật

Trang 7

tự, tư thế khác nhau tạo thành các SV khác nhau Các ntử vận động theo hình xoáy ốc tạo thành cácđám mây vận động theo hình xoáy lốc hút các ntử to hơn, nặng hơn vào trung tâm, đẩy ntử nhỏ hơn,nhẹ hơn ra vùng ngoại biên tạo thành hành tinh Trong các hành tinh các ntử có cùng kích thước,cùng hình thức lại kết hợp lại với nhau tạo thành đất, nc, lửa, không khí và ông khẳng định có vô số

TG k ngừng được sinh ra và mất đi như vậy

+ Qun niệm về nhận thức:

Platon coi đối tượng của nhận thức là ý niệm Bản chất của nhận thức chỉ là sự hồi tưởng củalinh hồn, của ý niệm hay là sự hồi ức Còn Đêmocrit khẳng định đối tượng của nhận thức chính là TGbên ngoài, cụ thể là nguyên tử Quan niệm về nthức có hai dạng: nhận thức mở tối(cảm tính) có nghĩa

ai cũng có khả năng nhận thức nhưng chỉ dừng lại ở bề ngoài Nthức chân lý: k phải ai cũng đạt được,phải xuất phát từ nthức mờ tối

+ Quan niệm về con người:

Platon cho con người là sự kết hợp giữa linh hồn và thể xác Linh hồn là bất tử,linh hồn thoát

ra, trú ngụ ở thế giới ý niệm hình thành nên nthức mới, khi có thể xác mới lại nhập vào và quên hếtquá khứ Phương pháp để linh hồn có thể nhớ lại là qua hỏi đáp để phát hiện ra chân lý Còn Đêmocho rằng:con người cũng gồm linh hồn và thể xác Linh hồn là những ntử nhẵn nhụi, đặc biệt conngười có tư duy vì được cấu thành bởi những ntử đặc biệt, chất cấu thành cơ thể con người sạch sẽhơn chất cấu tành động vật

+ Quan niệm về Nhà nước:

Platon đặc biệt sùng bái NN, đề cao NN chủ nô quý tộc xem đây là NN hoàn thiện nhất, là NNcông lý đồng thời theo ông con người trong xã hội phải sống vì NN, phục vụ, phục tùng NN Platon

đề sướng mô hình NN lý tưởng được xây dựng trên cơ sở 3 đẳng cấp, có sự tồn tại của NN chủ nôquý tộc và xã hội này sản xuất ra của cải đủ đáp ứng cho tất cả mọi người trong xh dựa trên lao độngchủ yếu của nô lệ Platon phản đối dân chủ Đêmôcrit có quan điểm về NN, dân chủ, đạo đức mangtính cấp tiến Ông đứng trên lập trường của bộ phận chủ nô dân chủ, ca ngợi tình thân ái, tính ôn hoàtrong xã hội, ca ngợi bầu không khí dân chủ trong xã hội và đặc biệt NN phải mang lại hạnh phúc chonhân dân

* Thời kỳ Trung cổ cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT được thể hiện rõ rệt nhất là giữaCNDD và CNDT Khi CNDD thừa nhận cái riêng, bác bỏ cái chung còn CNDT chỉ thừa nhận cáichung tồn tại, cái riêng không tồn tại, cái riêng chỉ tồn tại do cái chung sinh ra

* Thời Cận đại là cuộc đấu tranh tiêu biểu giữa P Bêcơn và Becơly

+ Quan niệm về thế giới:

Trang 8

Becơly phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, ông muốn phủ nhận CNDV ngay từnhững quan niệm của CNDV Phủ nhận khái niệm VC, cho rằng khái niệm VC k có và cũng k tồn tạiTGKQ Ông cho rằng SV như thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào cảm giác của con người công thức:

” tồn tại tức là được nhận thức” là công thức đặc trưng trong TH của ông Ông thừa nhận có sự tồn tạicủa thượng đế Còn Bêcơn nhà DV người Anh kế thừa tư tưởng của Đêmocrit nhưng k thoả mãn vớiquan niệm này Ông cho rằng SV được hình thành từ nhiều thuộc tính do sự sắp xếp các thuộc tínhkhác nhau thì dẫn đến các SV khác nhau Ông khẳng định dứt khoát rằng có một TGKQ tồn tại.TGVC bao gồm vô vàn các SV, các SV đều được hình thành bởi vô vàn các thuộc tính Ông còn kđrằng VC luôn vận động, vận động gắn liền với bản thân SV, vận động tồn tại vĩnh viễn(19 dạngvđộng)

+ Quan niệm về nhận thức:

Becơly cho rằng nhận thức SV chẳng qua chỉ là nhận thức cảm giác của con người, ông phủnhận chân lý lhách quan Ông đưa ra tiêu chuẩn của chân lý bao gồm: tính rõ ràng của các lập luận,

sự đơn giản,dễ hiểu của cácquan niệm, sự tươg đồng của nhiều cảm giác với nhau, sự phù hợp của ýchúa và tuân theo ý chúa Các tiêu chuẩn trên đều đứng trên lập trường DTCQ và DTKQ Bêcơn kđđối tượng của nthức chính là TGKQ, mục đích của nthức là đem lại cho con người tri thức, nhờ nthức

đó con người sẽ làm chủ được giới TN Ông đặc biệt đề cao phương pháp nhận thức là phương phápthực nghiệm Sau khi đã có tài liệu thực nghiệm phải quy nạp lại để đạt đến tri thức đúng., để đạt tớichân lý trước hết phải gột rửa ảo tưởng đang chi phối nthức của con người sau đó cộng với phươngpháp đúng Phương pháp con ong là hợp lý nhất: cần mẫn hút nhuỵ hoa, chắt lọc lại thành mật

+ Quan niệm về con người:

Becơly cho con người là sự kết hợp giữa linhhồn và thể xác Thể xác cũng là một SV cụ thể,thể xác cũng chỉ tồn tại khi người ta nthức Con người cũng chỉ tồn tại khi người khác nthức về họ.Ông cho rằng: tồn tại của mình là ở trong tinh thần của người khác Bêcơn cho con người cũng cólinh hồn và thể xác

+ Quan niệm về chính trị- xã hội

Becơly ủng hộ giai cấp quý tộc và nhà thờ Bêcơn bảo vệ lợi ích cho GCTS Anh, muốn nướcAnh trở thành bá chủ TG

*Trong triết học cổ điển Đức là giữa Hêghen và Phơ bách:

+ Quan niệm về thế giới:

Hêghen phê phán Cantơ khi Cantơ chia TG ra làm 2 theo Hêghen là xé lẻ TG vì bản chất củaSV-HT nằm trong chính SV-HT mà thôi Phê phán nhưng ông lại chọn cho mình điểm xuất phát từ

Trang 9

”thế giới vật tự nó” của Can tơ đó là ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối là cái thực thể sinh ra mọi cáitrên thế giới, là đấng tối cao sáng tạo nên cả TN và con người Mọi SV-HT xung quanh chúng ta, tínhphong phú, đa dạng của thế giới hiện thực chính là sự hiện thân của ý niệm tuyệt đối là kết quả của sựvận động và sáng tạo của ý niệmtuỵet đối YNTĐ là tinh thần có trứơc nhất, do chứa đựng các mâuthuẫn nó luôn vđộng từ thấp đến cao Đạt đến mức độ cao nhất nó đã mang trong nó chứa đựng tất cảnhững quy định về sau này tiếp tục vđộng tha hoá thành giới TN Vì vậy, giới TN chỉ là tồn tại kháccủa ý niệm Trong giới TN ý niệm tiếp tục vận động từ thấp đến cao từ vô cơ đến hữu xơ và cao nhất

là ra đời con người Khi đạt đến độ cao nhất yntđ sẽ quay trở về chính nó tức là quay về trong đờisống tinh thần của xh loài người Lúc này yntđ sẽ thành tinh thần tuyệt đối Ngược lại, Phơ bách kđ tựnhiên là cái hữu hình, là VC, là có thể cảm giác đựoc, TG là VC VC k do ai sáng tạo ra, nó tồn tạivĩnh viễn, vô hạn, độc lập với ý thức của con người, k phụ thuộc vào bất cứ một triết học nào VC cótrước, VC quyết định YT, giới TN tự nó tồn tại, chỉ có thể giải thích giới TN xuất phát từ bản thân nó.Giới TN là vĩnh hằng về tg, vô tận về không gian Chỉ có những SV,HT riêng biệt là có giới hạn về

kg, tg, k có VC tồn tại ngòài kg, tg Ông thừa nhận có sự tồn tại các quy luật kq của TN và tính kqcủa quy luật nhân quả

+ Quan niệm về nhận thức:

Theo Hêghen con người có khả năng phản ánh giới tự nhiên, và khi con người phản ánh đầy

đủ giới tự nhiên thì cũng có nghĩa là ý thức của con người đã quay về với điểm khởi đầu của nó là ýniệm tuyệt đối Phơ bách chống lại quan điểm của Hêghen và các nhà nhị nguyên luận về sự tách rờigiữa tinh thần và thể xác, ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đăc biệt của vật chất có tổchức cao là bộ óc người Từ đó, ông đi đến khẳng định rằng giữa tồn tại và tư duy có mối quan hệkhăng khít Ông cũng thấy được nthức có 2 quá trình là trực quan cảm tính và tư duy lý tính đồngthời cũng thấy được mlh giữa 2 gđ đó Nếu không có cảm giác thì không thể có lý tính Ngược lại,nếu chỉ dừng lại ở cảm giác k phát triển lên lý tính thì k phát hiện ra chân lý, do đó, nthức phải là sựkết hợp của cả 2 điều đó

+ Quan niệm về con người:

Hạn chế cơ bản nhất của triết học Hêghen, theo Phơbách, là tính duy tâm trong việc giải quyếtvấn đề quan hệ giữa con người và tự nhiên, coi toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là hiện thân của tinhthần tuyệt đối được hiểu như một lực lượng siêu nhiên Phơbách khẳng định: “Triết học Hêghen, làchỗ ẩn náu cuối cùng của thần học Mối quan hệ thực sự giữa tư duy và tồn tại như sau: tồn tại là chủngữ, tư duy là vị ngữ” Phơbach đã phê phán Hêghen trong quan niệm về con người một cách trừutượng và thần bí coi đó là lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra hiện thực Ông khẳng định con người là

Trang 10

sản phẩm của tự nhiên là cái gương của vũ trụ, thông qua đó giới tự nhiên ý thức và nhận thức chínhbản thân mình Theo ông, con người là 1 thực thể sinh vật, là sản phẩm cao nhất của TN do TN sángtạo ra Sở dĩ con người có thể nthức vì con người có bộ óc và cngười cũng có tấtcả những cảm giác,ham muốn, ước mơ đồng thời cngười cũng khác các loài động vật khác vì cngười có văn hoá, ý thức

Lênin viết: "Mỗi khía cạnh riêng biệt của tư tưởng = một vòng tròn trên, vòng tròn lớn (xoáyốc) của sự phát triển của tư tưởng con người nói chung”

Tư tưởng của Lênin về lịch sử triết học như một vòng tròn của những vòng tròn (vòng xoáyốc), trước hết có ý nghĩa to lớn là chỉ ra trong tiến trình lịch sử triết học các phạm trù không phải làbất biến, xây dựng một lần là xong Trên thực tế các hệ thống triết học đều trở đi trở lại và làm chochúng sâu sắc thêm, do đó hình thành một vòng tròn trên vòng tròn lớn (dường như quay lại điểmxuất phát và trở lại trình độ đã qua)

Tuy nhiên, đã không phải là bộ sưu tập được dùng để trưng bày, mà là những cứ liệu cho sựxuy xét phân tích tiếp theo Mỗi một giai đoạn riêng biệt, mỗi hệ thống triết học cụ thể là một vòngtròn, một khu vực khép kín nhất định, có thể có những vấn đề riêng của nó, xoay quanh những vấn đềtrung tâm Sự sâu sắc thêm của các tri thức ở những giai đoạn sau bao giờ cũng dựa trên trình độ trithức đạt được trước đó, mỗi trình độ tri thức của giai đoạn trước bao giờ cũng là cơ sở cho các trình

độ sau

Như vậy, Hêgen và sau đó là Lênin là những người đầu tiên nhận thấy việc kế thừa và pháttriển là quy luật khách quan trong lịch sử triết học Việc nghiên cứu quy luật đã có ý nghĩa hết sức tolớn đối với việc đánh giá những đóng góp của mỗi nhà triết học vào kho tàng lý luận của nhân loại,đối vởi việc xác định đối tượng và nhiệm vụ của triết học ở mỗi giai đoạn cụ thể

Kế thừa và phát triển là hai khái niệm bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau Kế thừa là sự bảo tồn nhữngđặc điểm, đặc tính của một sự vật và hiện tượng có trong sự vật và hiện tượng mới Dù là mối liên hệtất yếu, khách quan giữa cái mới và cái cũ trong quá trình phát triển, là một trong những nét cơ bảnnhất của quy luật phủ định của phủ đinh Còn phát triển không chỉ là sư bảo tồn mà còn là sự mỏ

Trang 11

rộng, bổ sung hoặc sự hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn có trong sự vật

và hiện tượng Như vậy, để phát triển được bao giờ cũng cần có sự kế thừa, tức là bảo tồn, giữ lạinhững đặc điểm, đặc tính của đối tượng để trên cơ sở đó mở rộng, nâng cao trình độ, còn phát triểnchính là sự kể thừa tốt nhất, tích cực nhất

Trong lịch sử nhận thức khoa học, các hình thức kế thừa và phát triển của lý thuyết khoa họcrất đa dạng: có những lý thuyết mới là sự bổ sung, hoàn thiện các lý thuyết cũ, có lý thuyết mới là sựmở rộng lý thuyết cũ và trong trường hợp này lý thuyết cũ trở thành một trường hợp đặc biệt của lýthuyết mới, nhưng cũng có lý thuyết mới là sự kết hợp của hai lý thuyết đối lập nhau như trường hợplý thuyết về bản chất của ánh sáng

Giống như trong lịch sử nhận thức khoa học, trong lịch sử triết học trước Mác, những hìnhthức kế thừa và phát triển cũng rất đa dạng Đúng như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nhậnxét, triết học cổ đại HiLạp đã có tất cả những mầm mống của các trường phái triết học sau này.Những mầm mống đã được người đời sau kế thừa và phát triển

Thời kỳ cổ đại:

Ở phương Tây: Đúng như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nhận xét, triết học cổ đại

HiLạp đã có tất cả những mầm mống của các trường phái triết học sau này Những mầm mống đãđược người đời sau kế thừa và phát triển

Các hệ thống triết học Hy Lạp cổ đại nói chung đều có xu hướng đi sâu vào giải quyết các vấn

đề bản thể luận của triết học, bên cạnh đó những tư tưởng biện chứng với tư cách la những tư tưởngtriết học về sự phát triển mà điển hình là những tư tưởng của Hêraclit đã trở thành nét khác biệt vớitriết học Hy Lạp với nền triết học Phương Đông cổ đại

So với các giai đoạn phát triển triết học ở các nước Tây Âu sau này thì nhìn chung triết học HyLạp cổ đại còn ở trình độ trực quan, chất phác, đặc biệt là với hệ thống triết học duy vật biện chứng.Tuy vậy nó đã đặt ra hầ hết các vấn đề căn bản của triết học, bao chứa tất thế giới quan về sau

Sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học: duy vật và duy tâm, biện chứng và siêuhình, vô thần và hữu thần là nét nổi bật của quá trình phát triển triết học Hy Lạp cổ đại Những đặcđiểm này nói lên vị trí, vai trò của nền triết học Hy lạp cổ đại với lịch sử triết học thế giới sau này, nólàm phong phú tư duy triết học và đồng thời chính nó đã đặt nền tảng cho cho sự phát triển triết họcTây Âu sau này

Mặc dù xuất hiện trong điều kiện các tri thức khoa học sơ khai, triết học Hy Lạp cổ đại đã đềcập tới những vấn đề cơ bản của thế giới quan theo nghĩa hiện đại tuy còn ở trạng thái mầm mống.Mác và Ăngghen đánh giá cao triết học Hy Lạp cổ đại và đã nhận định rằng, trong những hình thái

Trang 12

muôn vẻ của tư tưởng triết học Hy Lạp đã có mầm móng của tất cả các kiểu thế giới quan sau này.Triết học duy vật giai đoạn nay mặc dầu mộc mạc thô sơ, mang tính phỏng đoán nhưng đã có giá trịnền tảng định hướng cho triết học sau này Quan trọng nhất của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại chính

là thuyết nguyên tử của Đêmôcrit đã đạt cơ sở cho sự phát triển của khoa học tự nhiên; phép biệnchứng chất phác của Hêraclit và logíc học hình thức của Arixtốt

Ở phương Đông: Nếu Phương Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại thì Trung

Quốc và Ấn Độ là những trung tâm văn hóa, triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất của nền vănminh ấy

Nền triết học Trung Quốc cổ đại cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâusắc về sự biến dịch của vũ trụ Những tư tưởng về âm dương, ngũ hành tuy còn có những hạn chếnhất định nhưng vẫn là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng của người TrungQuốc cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quan triết học sau này không những của người TrungQuốc mà đối với cả nền triết học chung của nhân loại Một trong những tư tưởng triết học phươngĐông thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn còn giá trị cho đến tận ngày nay là tư tưởng luân lý, đạo đức,chính trị xã hội được thể hiện trong tư tưởng triết học của Nho gia

CÂU 3: QUAN ĐIỂM KHÁCH QUAN

Triết học Mác đã giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học đó là vấn đề vậtchất và ý thức Ph Ănghen từng khẳng định: “ Vấn đề co bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt làtriết học hiện đại là vấn đề giữa tư duy và tồn tại” ( Mac- Angghen, TT, T.21, tr.403) Mác – ăngghentừng khẳng định: “ VC không phải là cái gì khác hơn là tổng số của những vật thể để từ đó con ngườirút ra khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hoá”, “ VC với tích cách là vật chất không có sự tồntaị cảm tính”… Do những điều kiện khách quan và chủ quan, những tư tưởng đúng đắn về vật chấtcủa mác và ăng ghen chưa tiến tới một định nghĩa hoàn chỉnh Kế thừa tư tưởng trên đồng thời tổngkết những thành tựu của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và từ nhu cầu cuộc đấu tranhchống chủ nghĩa duy tâm, Lênin trong tác phẩm “CNDV và CN kinh nghiệm phê phán” (Lênin, tt,t.18, tr.151, Nxb Tiến bộ, 1976) đã định nghĩa:

“VC là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

-VC là một phạm trù triết học, nó khái quát toàn bộ các sv, ht trong hiện thực khách quan của

tư duy, để phát hiện thuộc tính chung nhất có mặt ở mọi sv, ht và khái quát lại để nêu thành phạm trù

Trang 13

vật chất Như vậy, vật chất là một phạm trù triết học chứ không phải là sự vật, không thể đồng nhấtvật chất với các dạng cụ thể của vật chất mà là thuộc tính chung nhất.

-Thuộc tính căn bản phản ánh trong phạm trù VC đó là tồn tại khách quan.( theo lenin là thựctại khách quan) Do đó, phạm trù VC cho phép ta phân biệt cái gì thuộc thế giới vật chất( khách quan)

và cái gì thuộc thế giới chủ quan (thế giới tinh thần) Thế giới khách quan gồm các sv, ht vô cùng đadạng, phong phú cũng có nghĩa là nó có vô vàn các thuộc tính cụ thể nhưng trong đó nó có thuộc tínhvĩnh viễn không thay đổi và có mặt ở mọi sv, ht trong thế giới vật chất đó là thuộc tính tồn tại kháchquan Thế giới VC là vô cùng, vô tận nó không do một yếu tố nào sinh ra và cũng không bị mất đi

- VC tồn tại nhưng không tồn tại một cách thần bí mà nó luôn được bộc lộ ra thành các sv, ht cụ thể

và các sv, ht cụ thể đó có thể tác động vào các giác quan của con người và con người có thể nhận thứcđược các thuộc tính của các sự vật và đồng thời cũng nhận thức được VC “ Thực tại khách quan đemlại cho con người trong cảm giác”

Kn: Ý thức là sự phản ánh HTKQ vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

- Điều kiện VC là nguồn gốc làm xuất hiện các công cụ và phương tiện ngày càng tinh xảohơn Những công cụ này đã nhân sức mạnh, nối dài các giác quan của con người trong việc làm chủ

và chinh phục thế giới

- Điều kiện VC là nơi kiểm nghiệm sự đúng, sai mỗi kết quả nhận thức, cũng như hoạt độngthực tiễn của con người

* Tính năng động, sáng tạo của ý thức:

VC và ý thức có mqh hai chiều trong đó VC quy định ý thức xét về mặt thế giới quan ( bản thểluận) còn ý thức tác động trở lại là do tính năng động, sáng tạo của ý thức và tính chất này được thểhiện:

Trang 14

-Trong mọi hoàn cảnh ý thức luôn luôn muốn giành quyền làm chủ, nghĩa là muốn thúc đẩy,định hướng cho con người trong nhận thức, và hoạt động thực tiễn để biến “vật tự nó” thành “vật chota”

-Trong quá trình này con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa sáng tạo ra hoàn cảnh vàlàm chủ hoàn cảnh do mình sáng tạo ra

- Trong những điều kiện nhất định một bộ phận của ý thức nào đó có thể kìm hãm sự biến đổicủa hoàn cảnh hoặc bảo thủ hơn hoàn cảnh hoặc vượt trước hoàn cảnh tuỳ theo tính chất khoa họchay phản khoa học của bộ phận ý thức đó thông qua hoạt động thực tiễn

- Song dù tính năng động của ý thức có cao đến đâu cũng không thể bất chấp quy luật kháchquan Toàn bộ tính năng động của ý thức chỉ là sự nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo những quyluật khách quan của chính thế giới vật chất để “nhào nặn” vật chất theo ý muốn chủ quan và theo quyluật khách quan

Do đó, mqh giữa vật chất và ý thức là mqh biện chứng nếu tuyệt đối hoá mặt nào đều dẫn đếnsai lầm hoặc là rơi vào CNDV thô thiển, tầm thường, siêu hình( nếu quá đề cao VC) hoặc là rơi vàoCNDT ( nếu quá đề cao ý thức)

● Nội dung quan điểm khách quan

* Về mặt nhận thức:

- Từ tính quyết định của VC đối với ý thức đòi hỏi:

+ Phải tôn trọng thế giới khách quan, xây dựng cho mình quan điểm khách quan khi nhìn nhận,xem xét sự vật, hiện tượng Mục tiêu, phương thức hoạt động của con người đều phải xuất phát từnhững điều kiện, hoàn cảnh thực tế, đặc biệt là của điều kiện vật chất, kinh tế; tuân theo, xuất phát,tôn trọng các quy luật khách quan (vốn có) của sự vật, hiện tượng; cần tìm nguyên nhân của các sựvật, hiện tượng ở trong những điều kiện vật chất khách quan của chúng; muốn cải tạo sự vật, hiệntượng phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng được cải tạo

Phải thấy được ảnh hưởng của cái chủ quan, từ đó có cách phòng ngừa những ảnh hưởng chủquan tác động đến quá trình nhận thức Chống tư tưởng chủ quan duy ý chí, nôn nóng, thiếu kiênnhẫn mà biểu hiện của nó là tuyệt đối hoá vai trò, tác dụng của nhân tố con người; cho rằng conngười có thể làm được tất cả những gì muốn mà không chú ý đến sự tác động của các quy luật kháchquan, của các điều kiện vật chất cần thiết Phải sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận khác:nguyên tắc toàn diện, phát triển, cụ thể… nhằm khách quan hoá quá trình xây dựng của mình

+ Phải tôn trọng điều kiện khách quan, quy luật khách quan: Phải nhận thức được những điềukiện khách quan, quy luật khách quan

Trang 15

Đường lối, chính sách phải căn cứ vào những điều kiện khách quan: cơ sở vật chất, thời gianvật chất, quan hệ vật chất… trình độ dân trí, niềm tin, ý thức pháp luật, truyền thống….

Phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động phải phù hợp với quy luật : khi điều kiện khách quanbiến đổi phải nhanh chóng có sự đổi mới về mục đích hoạt động, về quá trình nhận thức hoạt động.Phải chống chủ nghĩa chủ quan:

- Chủ nghĩa chủ quan: là cách nhận thức và hoạt động mà chỉ căn cứ vào mong muốn củachủ thể, quan niệm của chủ thể, ý chí của chủ thể mà coi thường điều kiện khách quan, quyluật khách quan

- Biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan:

+ Về nhận thức: đánh giá, xem xét thế giới khách quan một cách chủ quan

+ Xây dựng đường lối, chính sách một cách chủ quan, duy ý chí

+ Lấy ý chí thay cho quy luật khách quan: thực hiện những hoạt động thực tiễn bất chấp quyluật kq, quan hệ kq

- Nguyên nhân của chủ nghĩa chủ quan:

+ Sự yếu kém về kinh tế- xã hội, nhiều tàn dư của xã hội phong kiến còn để lại

+ Trình độ dân trí thấp, trình độ lý luận của đảng còn hạn chế

+ Tính nôn nóng, nhiệt tình muốn đốt cháy giai đoạn

+ Tác động chủ quancủa lợi ích, tình cảm, quan niệm

+ Mâu thuẫn dựa nhận thức và sáng tạo, sáng tạo không dựa trên điều kiện khách quan dẫn đếnduy ý chí

- Từ tác động trở lại của ý thức phải phát huy tính năng động, chủ quan:

Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức là nhấn mạnh tính độc lập tương đối, tính tích cực vànăng động của ý thức đối với vật chất bằng việc tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng tư tưởng, ý chíphấn đấu vươn lên, tu dưỡng đạo đức v.v nhằm xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh Chống thái

độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh khách quan dễ rơi vào chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủnghĩa duy vật tầm thường; tuyệt đối hóa vật chất; coi thường tư tưởng, tri thức rơi vào thực dụnghưởng thụ v.v

+ Nâng cao dân trí, phát huy vai trò của khoa học- kỹ thuật

+ Nâng cao trình độ lý luận của đảng

+ nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, cổ động

+ chú ý đến động lực tinh thần của người dân, niềm tin của dân với đảng, chú ý đời sống vậtchất, tinh thần của dân, phát huy phương thức quản lý bằng tâm lý

Trang 16

+ Chú ý các hiện tượng tâm lý xã hội: dư luận xh, tâm trạng xh, cảm xúc xh.

+ Chú ý đấu tranh chống những luận điệu, những tư tưởng phản động, loại bỏ dần những yếu tốtiêu cực của xã hội cũ, những phong tục, tập quán

● Liên hệ thực tiễn:

Như vậy, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau và mối liên hệ đó tuân theocác quy luật khách quan vốn có của nó Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệtđối hóa, cường điệu hóa vai trò của một trong hai mặt thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triểncủa xã hội và rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí hoặc bệnh bảo thủ trì trệ

Bệnh bảo thủ trì trệ là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật

chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan Khuynh hướng bảo thủ sẽdẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới,bằng lòng thỏa mãn với cái đã có Trên thực tế, bệnh bảo thủ còn biểu hiện qua những định kiến

Bệnh chủ quan duy ý chí cũng là 1 khuynh hướng sai lầm, ngược lại với bệnh bảo thủ trì trệ,

nó thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan quá đề cao, cường điệu tính sáng tạo của ýthức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, điều kiện khách quan, lấynhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về trí thức khoa học Sai lầm của bệnh chủ quan duy ýchí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan Sai lầm đó thểhiện rõ trong khi định ra chủ trương chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễntheo hướng áp đặt ý chí vào thực tế, lấy ảo tưởng chủ quan thay cho hiện thực

Bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dàitrước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 12-1986) Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảngkinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ những sai lầmnghiêm trọng và kéo dài mà trong đó sai lầm do chủ quan duy ý chí và bảo thủ có tác hại rất lớn

Đánh giá về những sai lầm do chủ quan duy ý chí của Đảng trong thời kỳ này, Văn kiện Đạihội VI đã nêu “Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trìnhlịch sử tương đối dài, phải trãi qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội

muốn bỏ qua những bước đi cần thiết” Văn kiện Đại hội lần thứ VI cũng đã chỉ rõ Đảng đã “nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”, “giản đơn hóa, muốn thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH

trong điều kiện nước ta mới có chặng đường đầu tiên” Do chủ quan duy ý chí, trong nhận thức vàhành động của Đảng trong giai đoạn này vi phạm các quy luật khách quan, biểu hiện qua một số lĩnh

Ngày đăng: 19/01/2018, 17:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w