1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn

69 250 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đượcxác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Có thể nói, để nân

Trang 1

PHẦN LÍ LỊCH

ĐỀ TÀI:

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA TIẾT DẠY

TRUYỆN NGỤ NGÔN TRONG NGỮ VĂN LỚP 6

Trang 2

Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020”

(Dự thảo lần thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giáo dục và Đào tạo phải góp phần tạo nên mộtthế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn cầu hóa, vừa hợp tác vừa cạnh tranh” Có thể khẳng định, mục tiêu giáo dục toàn diện không thể đạt được nếu không giáo dục kỹ năng sống Hơn nữa, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đượcxác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Có thể nói, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, để thế hệ trẻ đáp ứngnguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, người giáo viênphải làm sao hướng học sinh đến cách tiếp cận kĩ năng sống, kĩ năng sống thực chất là: học để biết, học để làm gì, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống Bởi vì mục tiêu giáo dục hiện nay không còn là trang bị kiến thức chohọc sinh như vấn đề giáo dục những năm trước mà là cần phải trang bị năng lực cần thi đã đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Phải chăng vấn đề tích hợp kĩ năng sống vào giảng dạy bộ môn Ngữ Văn cũng nhằm mục đích là tăng cường kĩ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp

Trang 3

học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nộitâm của con người.

Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡngnăng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách

Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS nói chung, đặc biệt

là năm học 2013 – 2014 khi dạy môn Ngữ văn lớp 6, tôi thấy phần truyện ngụ ngôn không chỉ có giá trị là những bài học răn dạy quý báu, mà còn là cả một kho

kĩ năng sống nếu người giáo viên biết cách khai thác Những vấn đề trên tuy không khó nhưng để thực hiện được thì đòi hỏi người giáo viên phải có cái tâm nghề nghiệp, phải thật sự tâm huyết với nghề và hết lòng vì học sinh thân yêu mới

có khả năng giáo dục các em tự tìm tòi, học hỏi, tự vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống Đó chính là lí do tôi chọn đề tài “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tiết dạy truyện ngụ ngôn trong Ngữ Văn 6”

2 Ý nghĩa, tác dụng của đề tài

Đề tài mong giúp các em học sinh trước hết hiểu và thấy được cái hay, cái sâu sắc của những câu truyện ngụ ngôn đã học, hứng thú với tiết học về truyện ngụ ngôn nói riêng và với giờ học Ngữ văn nói chung Thấy hết được tác dụng củamôn Ngữ văn với việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện của học sinh

Trong giai đoạn hiện nay, dạy học phải bám sát mục tiêu là phải phát huy tính tích cực của học sinh, đòi hỏi người học sinh phải tự mình khám phá, chinh phục kiến thức, không chỉ có thế, qua những kiến thức đó, người giáo viên cần phải hướng các em học sinh làm sao hình thành được cho các em những kĩ năng

cơ bản trong cuộc sống như kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác…

Trang 4

Bên cạnh đó giúp học sinh có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hằng ngày, có suy nghĩ và hành động tích cực, có quyết định đúng đắn trong so sánh, có quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn và lành mạnh của cuộc sống.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

a Đối tượng nghiên cứu

- Các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập phần truyện ngụ ngôn cũng như cách tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong một tiết dạy truyện ngụ ngôn sao cho đạt hiệu quả tốt đối với học sinh khối lớp 6 – trường THCS Phan Sào Nam – Phù Cừ - Hưng Yên

Trang 5

các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các nội dung giáo dục thái độ tư tưởng cho học sinh một cách linh hoạt, uyển chuyển và tinh tế.

Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nhiều lĩnh vực xã hội thì giáo dụcthời đại mới đã và đang phấn đấu đổi mới về nội dung, chất lượng và phương phápsao cho đạt được 2 mục tiêu lớn là đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng sống cho học sinh Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt đuợc của toàn ngành thì gần đây chúng ta thường thấy thực trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng

về bạo lực học đường, về phạm tội, về liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ mắc các tai tệ nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình,….Đồng thời rèn kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự phục

vụ bản thân cũng là nhu cầu cần thiết…Hơn thế nữa đứng trước thềm hội nhập quốc tế đòi hỏi thế hệ trẻ phải tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải có một số kỹ năng: sống khỏe, sống lành mạnh, giỏi lập trình, giỏi tiếng Anh…

Kĩ năng sống, một vấn đề không mới trong giai đoạn hiện nay đối với giáo dục, còn Truyện ngụ ngôn cũng là mảng truyện dân gian rất đỗi quen thuộc đối với văn học nói chung Nhưng để tích hợp kĩ năng sống trong khi dạy truyện ngụ ngôn lại là đề tài chưa hề được thực hiện, mặc dù khi đọc mỗi câu truyện ngụ ngôn, nếu bình tâm ngẫm nghĩ, chúng ta sẽ không chỉ thấy được rất nhiều bài học luân lí mà còn biết thêm không ít các kĩ năng sống cho mình Tất cả các kĩ năng

mà truyện ngụ ngôn có thể đề cập đến đều là các kĩ năng tối thiểu cho mỗi cá nhân, hơn thế nữa nó còn rất cần thiết cho một con người thời hiện đại Trong chương trình Ngữ văn lớp 6 có ba truyện ngụ ngôn, đa phần đều là những câu chuyện rất quen thuộc với các em học sinh, tuy nhiên việc chỉ ra Kĩ năng sống, hướng dẫn tích hợp, lồng ghép để giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả lại không đơngiản Vậy tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong khi dạy phần truyện ngụ ngôn ra sao để đạt hiệu quả, đó chính là một trong những lí do để tôi thực hiện đề tài này

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trang 6

1 Thuận lợi

- Trong những năm giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường THCS Phan Sào Nam, vấn

đề tích hợp kĩ năng sống vào bộ môn không phải là điều mới mẻ, giáo viên đã và đang đứng lớp cũng đã có thực hiện nhưng trong giai đoạn trước, bản thân người giáo viên chỉ thực hiện theo cảm tính, chưa đi sâu vào nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Nhưng trong thời gian gần đây, xác định được mục tiêu giáo dục cũng như Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nên vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được quan tâm hơn nhiều vì lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chon những giá trị, phải đương đầuvới những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục

kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em sẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích kĩ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Chính vì vậy vấn đề giáo dục kĩ năng sống và tích hợp giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học trong đó có môn Ngữ Văn rất được quan tâm

- Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường THCS được tiến hành thông qua môn học (nội khoá, ngoại khoá), thông qua việc dạy học tự chọn, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động câu lạc bộ cũng không còn xa lạ với giáo viênbởi họ đã được làm quen với cách thức tổ chức này (qua các đợt tập huấn tích hợp một số mặt giáo dục khác của Sở giáo dục, Phòng giáo dục ) Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc đưa hoạt động giáo dục này vào nhà trường

- Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật,… sẽ tạo nhiều cơ hội và

Trang 7

điều kiện để triển khai giáo dục kĩ năng sống;

- Nhìn chung hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng đã bước đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau

- Một số hoạt động giáo dục Kĩ năng sống đã được đa số các trường chú ý thực hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện,

HS tích cực” do Bộ GD và Ðào tạo phát động

- Giáo dục Kĩ năng sống từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đạichúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh HS

- Hình thực tổ chức giáo dục Kĩ năng sống đã bước đầu được thực hiện trong một

số môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và sinh hoạt câu lạc bộ với nội dung khá đa dạng

- Văn học là nhân học, từ trước đến nay đây vẫn là một bộ môn thuận lợi để “ thaythái độ, đổi hành vi” của trẻ một cách dễ nhất thông qua các bài học ý tứ, sâu sắc

mà lại rất nhẹ nhàng

- Lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống cho đối tượng học sinh lớp 6 – một lớp đối tượng khá non nớt nhưng cũng đủ nhận thức để rèn luyện các kĩ năng cho bản thânmình là khá phù hợp

- Phần truyện ngụ ngôn, từ trước đến nay vẫn luôn được coi là những bài học luân

lí sâu sắc, nhưng lại khá dễ tiếp thu vì nó ngắn gọn nhưng không kém phần hóm hỉnh, hài hước Khi lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống trong phần truyện ngụ ngôn, chắc chắn sẽ được học sinh tiếp nhận một cách hứng thú và không bị gò ép mang tính áp đặt

- Trường THCS Phan Sào Nam, cũng như hầu hết các trường trong huyện đều rất chú ý đến nội dung giáo dục Kĩ năng sống tích hợp trong các hoạt động ngoại khóa, trong môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp, trong tiết sinh hoạt và đặc biệt là lồng ghép trong khi dạy các môn văn hóa Bản thân tôi, luôn nhận được sự quan

Trang 8

tâm của Ban giám hiệu trường THCS Phan Sào Nam, sự ủng hộ nhiệt tình của các

em học sinh khi thực hiện triển khai đề tài này trong năm học 2013 – 2014

2 Khó khăn

- Vấn đề thời gian cũng là vấn đề quan trọng trong việc lồng ghép kĩ năng sống vào tiết dạy, một tiết học thường đi rất nhanh phần lí thuyết, đôi khi hết giờ mà học sinh chưa thực hiện được một kĩ năng nào, ngoài ra không có một tiết dạy kĩ năng riêng cho học sinh, điều này cũng khó với giáo viên vì nếu quá chú trọng vàogiáo dục kĩ năng sống thì lại chậm tiến độ bài dạy theo Phân phối chương trình,

mà dạy cho kịp nội dung bài đôi khi lại rất khó lồng ghép Kĩ năng sống

- Khi thực hiện nhiệm vụ lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học, đặc biệt với môn Ngữ văn, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn (chưa có tài liệu cho giáoviên và học sinh, kế hoạch thực hiện, tiêu chí đánh giá,…)

- Tổ chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, ) cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện, điều này cũng không dễ thực hiện

- Thói quen chú trọng vào kiến thức mang tính lý thuyết của giáo viên sẽ là cản trởlớn khi triển khai giáo dục kĩ năng sống, loại hình giáo dục nhằm tạo thói quen, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với các tình huống của cuộc sống

- Ðã có một vài dự án, đề tài nghiên cứu tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên cốt cán, song nhìn chung đại bộ phận giáo viên chưa được tiếp cận với phương thức tiến hành giáo dục kĩ năng sống một cách đầy đủ và bài bản

3 Kết luận

Trước những yêu cầu hết sức thiết thực, bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn 6, luôn trăn trở để làm sao từ những câu truyện ngụ ngôn quen thuộc, các em học sinh không chỉ thấy được những bài học sâu sắc cho mình mà còn tự rút ra và rèn luyện được những Kĩ năng sống cho bản thân một cách tốt nhất để các em có thể tự tin thể hiện mình trước đám đông, biết cách xử lí các tình

Trang 9

huống đơn giản hay phức tạp, thể hiện khả năng tiềm ẩn của mình và phát triển một cách toàn diện trong xã hội năng dộng và hiện đại ngày nay Từ những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình thực hiện đề tài, tôi mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm đóng góp phần nào kinh nghiệm giáo dục cho con em chúng ta trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng tạo hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho xã hội.

III PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, lý luận

- Nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận có tính liên quan đến khả năng tiếp nhận các kiến thức Ngữ văn nói chung và phần truyện ngụ ngôn nói riêng trong Ngữ văn lớp 6 bằng cách sưu tầm tài liệu, sách báo, truy cập

3 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của học sinh

Nhằm hỗ trợ cho phương pháp Anket, thông qua các bài kiểm tra, bài tập về nhà, điểm tổng kết…thông qua những đề cương, dàn ý của học sinh…từ đó thu thập được thông tin nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra

4 Phương pháp đàm thoại

Nhằm chính xác hóa các số liệu điều tra về thực trạng nâng cao hiệu quả việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy truyện ngụ ngôn trong Ngữ văn lớp 6

5 Phương pháp Anket

Trang 10

Là phương pháp chủ yếu nhằm giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, qua đó phát hiện và thấy được thực trạng của học sinh trong việc học truyện ngụ ngôn cũng như rèn luyện kĩ năng sống cho các em.

6 Phương pháp lấy ý kiến chuyện gia

Đây là phương pháp thu nhận thông tin nhằm có hướng tìm hiểu và phân tích sâu hơn về các vấn đề xoay quanh truyện ngụ ngôn, Kĩ năng sống cho học sinh

7 Phương pháp thống kê toán học.

Thống kê kết quả mà học sinh thu được sau đề tài và so sánh, đối chiếu với trước khi làm

đề tài này

PHẦN II NỘI DUNG ĐỀ TÀI

A MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1 Kiến thức: Qua đề tài, giúp các em nắm được:

- Khái niệm và những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật đặc trưng nhất của truyện ngụ ngôn

- Nắm được nội dung, ý nghĩa, đặc điểm nhân vật cốt truyện và một số nét đặc sắc nghệ thuật của truyện ngụ ngôn “ Ếch ngồi đáy giếng”, “ Thầy bói xem voi“, “Chân, tay, tai, mắt, miệng” và “ Đeo nhạc cho mèo”

- Học sinh cũng cần nắm được những khái niệm cơ bản về Kĩ năng sống, biết được một số kĩ năng sống cần thiết, hiểu được giá trị và tác dụng của việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong tiết học truyện ngụ ngôn để hợp tác cùng giáo viên trong giờ học

2 Kĩ năng

- Học sinh rèn được kĩ năng đọc, kể lại truyện có diễn cảm

- Biết cách tìm và phân tích những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ba truyện ngụ ngôn đã học và đọc thêm

Trang 11

- Biết cách tìm hiểu, phân tích những ngụ ý, bài học của truyện ngụ ngôn.

- Biết liên hệ các truyện đã học, đọc thêm với tình huống có thể xảy ra trongcuộc sống để ứng xử kịp thời

- Biết cách rút ra Kĩ năng sống cần thiết qua bài học và áp dụng kĩ năng sống vừa học được vào thực tế cuộc sống

- Từ việc hướng dẫn của giáo viên, với những truyện ngụ ngôn khác mà các

em đọc thêm được, bản thân các em cũng có thể rút ra các bài học giá trị và các kĩ năng sống cần thiết cho mình

3 Thái độ

- Tán thành với ý nghĩa của ba truyện ngụ ngôn đã học và đọc thêm

- Thêm yêu truyện ngụ ngôn nói riêng và phần Văn học dân gian nói chung

- Trân trọng những câu truyện ngụ ngôn đã được học và những kí năng sốnghọc được từ truyện ngụ ngôn ấy

- Thấy được ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống, để từ đó có thái độ tích cực

và hợp tác khi được học nội dung này không chỉ trong môn Ngữ văn mà với tất cả các môn học khác

* Tóm lại: Khi viết giải pháp này, tôi muốn các đồng nghiệp chia sẻ cùng tôi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục trong giảng dạy môn Ngữ văn bậc trung học cơ sở theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã ban hành và mục tiêu giáo dục chung là mỗi giáo viên văn sẽ góp phần đào tạo cho đất nước những thế hệ học sinh, không chỉ có hiểu biết về tri thức mà còn giàu có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới Chân – Thiện – Mĩ mà đặc biệt còn thành thục các kĩ năng sống cần thiết để có một nền tảng cơ bản thích ững với cuộc sống ngày càng hiện đại hiện nay Đây cũng là những yêu cầu quan trọng để

Trang 12

các em hình thành những thói quen và nếp sống, giúp các em để trở thành những công dân tốt biết sống và làm việc cống hiến cho đất nước.

B GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

I Một số thuật ngữ liên quan

Khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo tồ chức

UNESCO định nghĩa " kỹ năng sống" là: khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có đầy đủ khả năng đối phó có hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày Nói một cách dễ hiểu, đó là khả năng nhận thức của bản thân (giúp mỗi người biết mình là ai, sinh ra để làm gì, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, mình có thể làm được làm gì?)

UNESCO: Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục

- Học để biết (Learning to know): bao gồm các KN tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả

- Học làm người (Learning to be): bao gồm các KN cá nhân như ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin

- Học để sống với người khác (learning to live together): bao gồm các KN

xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông

- Học để làm: (Learning to do): KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm

Trang 13

- KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người

- Bản chất của KNS là KN làm chủ bản thân và KN xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả

Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năngứng xử phù hợp với những người khác và với XH, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

+ Kĩ năng sống là tất cả các kĩ năng cần có giúp người ta có thể học tập, làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn Có hàng trăm kĩ năng sống khác nhau, tùyhoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện sống mà chúng ta cần dạy cho trẻ em những kĩ năng cần thiết khác nhau

Ví dụ trẻ em vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cần dạy kĩ năng bơi lội, đi xuồng, ghe… Trẻ em thành phố cần dạy các kĩ năng tự bảo vệ bản thân, phòng chống xâm hại tình dục, kĩ năng từ chối ( khi được mời thử ma túy, đi quán Bar….)

c Truyện ngụ ngôn

- Theo Văn học dân gian Việt Nam ( sách giáo trình Cao đẳng sư phạm – Nhà xuất bản Giáo dục – 1998): truyện ngụ ngôn (hay ngụ ý) là một loại truyện dân gian mang tính chất ngụ ý, nói bóng, hay ám chỉ ( phúng dụ) nhằm nêu lên những bài học triết lí, luân lí, hay một kinh nghiệm sống dưới một hình thức kín đáo

- Theo Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, truyện ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống

II Các tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 14

Phần truyện ngụ ngôn trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 được trích giảng bào gồm:

- Ếch ngồi đáy giếng

- Thầy bói xem voi

- Đeo nhạc cho mèo ( Phần giảm tải, giáo viên vẫn có thể sử dụng để liên hệ)

- Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng ( Đọc thêm )

III Khái quát tình hình nghiên cứu đề tài

Để thực hiện thành công đề tài này, trước hết tôi khái quát chung địa bàn khảo sát:

- Trường THCS Phan Sào Nam là một trường có bề dày thành tích dạy và học, năm học 2009 – 2010, trường được công nhận là trường Chuẩn quốc gia với 8 lớp học và đầy đủ các phòng bộ môn

- Năm học 2013 – 2014, trường có 230 học sinh Khối lớp 6 gồm 2 lớp với 73 học sinh Nhìn chung trình độ nhận thức và kĩ năng của các em không đồng đều, có sự chênh lệch giữa các em ngay trong một lớp

- Thực tế, môn Ngữ Văn là một môn học quan trọng của các em, nhưng cũng khẳng định rằng đây là một môn học không dễ chút nào Việc học Ngữ văn đã khó, học phần Văn học dân gian cách thời điểm hiện tại các em đang sống quá xa lại càng khó Hơn nữa truyện ngụ ngôn lại là một mảng đòi hỏi các em phải có sự suy luận, có sự hiểu biết sau đó lại phải tích hợp với nội dung giáo dục kĩ năng sống, điều này không hề đơn giản, nhất là với đối tượng học sinh lớp 6 còn quá non nớt và chưa có nhiều hiểu biết về thực tế Do vậy, cả thầy và trò cùng phải cố gắng rất nhiều để các em không chỉ cảm nhận và tiếp thu được hết cái hay cái đẹp của mỗi tác phẩm ngụ ngôn, mà còn biết rút ra các bài học Kĩ năng sống thiết yếu cho mình

Trang 15

IV Giải pháp cụ thể

Như phần trên tôi đã trình bày, dạy phần Truyện ngụ ngôn tích hợp giáo dục

kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 là tương đối khó Tuy nhiên, với sự chuẩn bị kĩ lưỡng bài dạy, nghiên cứu, tìm tòi bước đầu tôi đã thực hiện khá tốt một số giờ học, giúp các em không chỉ hứng thú với bài mà còn có thêm một số kĩ năng, tạo được những sản phẩm nhất định từ các kĩ năng học được Tôi xin mạnh dạn trình bày một số phương pháp và ứng dụng dạy một bài cụ thể:

1 Tìm hiểu về nguồn gốc truyện ngụ ngôn

Ngụ ngôn là một trong những thể loại tự sự cổ xưa nhất, ở Văn học dân giancủa mọi dân tộc đều có thơ hoặc truyện ngụ ngôn Ngụ ngôn xuất hiện trước côngnguyên trong kho tàng văn hóa các dân tộc như Hy Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, TrungHoa và xa xưa nhất có thể tính đến là những tác phẩm ngụ ngôn nửa thực nửatruyền thuyết tương truyền do Ezop sáng tác, có tầm ảnh hưởng sâu rộng sang cảvùng Trung Đông rồi ngược về phương Tây với Panchatantra của Ấn Độ thế kỷ 3trước công nguyên, Calila và Dimna thế kỷ 8 ở Syrie, Arab; Stefanit và Ichnilat ởByzance và Nga v.v Một dòng khác tiếp tục tồn tại ở đế chế La Mã, vùng Tây Âuthời trung đại với Romul bằng tiếng Latinh, Isopette bằng tiếng Pháp, và cận đạivới ngụ ngôn J La Fontaine, K F Hellert, T de Iriarte, L Holberg, I Krasickiv.v.)

Ở Trung Quốc, ngụ ngôn cổ đại thâm nhập vào sách triết luận và chính luậncủa "chư tử" như Trang Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử , vào các truyện kể trung đạinhư Bình thoại, Thoại bản và vào cả tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc của PhùngMộng Long

Tuy ngụ ngôn tồn tại trong mọi nền văn hóa khắp thế giới nhưng ở nhữngthời đại văn hóa có sự chú trọng đặc biệt đến giáo huấn và phúng dụ, thì ngụ ngôn

là thể loại trung tâm, là chuẩn cho các thể loại khác, như văn xuôi răn dạy vùng

Trang 16

Trung Đông (Cựu ước, Lời răn bảo của Akhikar v.v.) Ở văn chương Thiên Chúagiáo và văn học Trung đại (như ngụ ngôn trong Phúc âm với truyện đứa conhoang, người gieo hạt v.v.) Ở những thời đại ấy, khi văn hóa đọc hiện diện mộttâm thức tiếp nhận đặc thù: bất kỳ thiên truỵen nào cũng được hiểu như ngụ ngôn,thì cái thống trị ở văn hóa ấy sẽ là thi pháp ngụ ngôn, loại trừ tính miêu tả của vănxuôi cổ đại hay kiểu châu Âu cận đại; thiên nhiên và sự vật chỉ được nhắc đến khithật cần thiết, hành động xảy ra như không có bối cảnh; nhân vật không có nétngoại hình, tính cách, mà hiện ra như những chủ thể của sự lựa chọn đạo lý.

Từ cuối thế kỷ 19, một loạt nhà văn đã xem sự súc tích, kiệm lời của ngụngôn là mẫu mực cho sáng tác của mình, như Lep Tolstoi cuối đời đã bắt tay thựchiện ý đồ gò văn xuôi vào quy luật của ngụ ngôn

Thời hiện đại nhiều nhà văn chú ý dựa vào các truyền thống ngụ ngôn đãđưa tới sự xuất hiện những tác phẩm kịch và tiểu thuyết được gọi là parabole Vềcấu trúc bên trong, ở những tác phẩm này có hình tượng bóng gió, ngụ ý, kiểuhình tượng hướng tới tượng trưng; chú trọng lối nói bóng gió đa nghĩa (khác vớitính đơn nghĩa của phúng dụ và cũng khác với bình diện sau vốn mang nghĩa mộtchiều của ngụ ngôn cổ và trung đại Sự súc tích về nội dung, khả năng mang nhiềutầng hàm nghĩa của ngụ ngôn đã trở thành hấp lực đối với nhiều nhà văn như F.Kafka với “Vụ án”, H Hesse với “Chuỗi ngọc thủy tinh”, E Hemingway với

“Ông già và biển cả”, Abe Kobo với “ Người đàn bà trong cồn cát” Thi phápngụ ngôn mở rộng sang kịch và các tiểu thuyết luận đề, được thực hiện bởi nhữngnhà văn muốn thoát khỏi quan niệm truyền thống về tính cách và hoàn cảnh, trong

số này có nhiều nhà văn hiện sinh như J P Sarche, A Camus, G Marcel, B.Brecht, W Faulkner …

Dấu hiệu về cấu trúc và nội dung ngụ ngôn cũng bộc lộ tới các loại hìnhnghệ thuật khác như điện ảnh (bộ phim “Dấu ấn thứ bảy” của Ingmar Bergman;

Trang 17

các bộ phim hoạt hình như “Tom và Jerry”, “Hãy đợi đấy”; tranh “Gernica” của P.Picasso; một số tác phẩm thuộc thể loại truyện tranh thiếu nhi như “Đô rê mon” …

Ở Việt Nam, ngụ ngôn dân gian tồn tại và nhiều truyện đã trở thành điển cốvăn học, như “Đẽo cày giữa đường”, “Thầy bói xem voi” v.v Ôn Như NguyễnVăn Ngọc trong “Truyện cổ nước Nam” có chép một số ngụ ngôn dân gian Trongvăn học viết có thể kể đến những tác phẩm như “Truyện hai ông Phật cãi nhau”trong “Thánh Tông di thảo”, các truyện “Lục súc tranh công”, “Trinh thử” …

Hiểu một cách đơn giản hơn thì nguồn gôc của truyện ngụ ngôn chính là do một bộ phận truyện ngụ ngôn bắt nguồn từ truyện loài vật Trong quá trình sống gần gũi với tự nhiên và chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên, người cổ đaị đãtừng quan sát, tìm hiểu các con vật (để dễ săn bắt và tự vệ) Cũng do sự phân biệt giữa con người và tự nhiên chưa rõ ràng nên người ta đã gán cho mọi vật tính cáchcủa con người Truyện loài vật ra đời trên cơ sở đó Khi con người có ý thức mượntruyện loài vật để nói về con người thì truyện ngụ ngôn xuất hiện

Truyện ngụ ngôn có liên quan đến cách nói bằng hình tượng của nhân dân Trong cách nói của mình, nhân dân thường dùng những sự vật cụ thể, những so sánh, ví von để diễn đạt cái trừu tượng( chẳng hạn cách nói ngu như bò,nhanh nhưcắt Khi lối nói tỉ dụ về sự vật,con vật cụ thể nầy chuyển thành tỉ dụ có tính chất thế sự thì truyện ngụ ngôn ra đời

2 Nội dung, ý nghĩa của truyện ngụ ngôn

Mỗi truyện ngụ ngôn đều có hai loại nội dung: Nội dung trực tiếp ( nghĩa đen – phần xác), nội dung gián tiếp ( nghĩa bóng – phần hồn) Nội dung ý nghĩa đích thực của truyện ngụ ngôn là phần hồn – nghĩa bóng chứ không phải là phần xác, phần nghĩa đen của truyện Căn cứ vào nghĩa bóng ( phần hồn), có thể quy truyện ngụ ngôn của người Việt vào hai bộ phận chính Bộ phận thứ nhất gồm những truyện thiên về việc phản ánh, nhận xét đặc điểm tính cách của các loại

Trang 18

người khác nhau trong xã hội phong kiến Bộ phận thứ hai gồm những truyện thiên về việc nêu lên những bài học luân lí, triết lí, những kinh nghiệm sống sâu sắc, giàu ý nghĩa Có thể cụ thể nội dung, ý nghĩa của truyện ngụ ngôn như sau:

a.Truyện ngụ ngôn có nội dung đả kích giai cấp thống trị

Truyện ngụ ngôn được nhân dân dùng làm vũ khí đấu tranh chống giai cấp thống trị Bộ phận truyện này nêu lên được những nhận xét sâu sắc về tầng lớp

thống trị trong xã hội cũ: đó là thói ngang ngược của kẻ quyền thế ( Khi chúa sơn

lâm ngọa bệnh, Đeo nhạc cho mèo ), tội cướp của hại người(Chèo bẻo và ác là )

thói đạo đức giả của chúng (Mèo ăn chay )

b Truyện ngụ ngôn phê phán thói hư tật xấu của mọi người

Truyện ngụ ngôn cũng là tiếng nói giáo dục, phê bình nhắm vào các thói hư

tật xấu của con người như: thói huênh hoang đi kèm với bệnh chủ quan (Ếch ngồi

đáy giếng) , tính tham lam vô độ ( Người nông dân và con lừa, Thả mồi bắt

bóng ), thói đoán mò của người kém hiểu biết ( Cà cuống với người tịt mũi, Thầy bói xem voi ), thói thay lòng đổi dạ, phản phúc ( Bồ câu và sáo), sự đố kị, ganh

ghét không đoàn kết ( Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)…

c.Triết lý dân gian trong truyện ngụ ngôn

Truyện ngụ ngôn là một tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt nam Quatruyện ngụ ngôn, những tư tưởng triết học (trình độ nhận thức, tư duy, lối sống, những quan niệm của người Việt về thế giới, về các sự vật hiện tượng ) được thể hiện một cách phong phú mà tinh tế Điều quan trọng là truyện ngụ ngôn đã làm cho những vấn đề triết lý, luân lý, đạo đức tưởng chừng rất khô khan, nặng

nề trừu tượng trở nên gần gũi, sinh động và dễ hiểu, dễ cảm, dễ tiếp thu

Truyện ngụ ngôn nêu lên những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cuộc sống Những kinh nghiệm này tuy chưa là ý niệm triết học đích thực nhưng là những bàihọc bổ ích Chẳng hạn, truyện ngụ ngôn khuyên con người nên đứng đúng vị trí

Trang 19

của mình (Qụa mặc lông công ), sống cần có lập trường (Ðẽo cày giữa đường ), tác hại của óc xa rời thực tế (Chị bán nồi đất ), nêu lên sức mạnh của sự đòan kết (

Chuyện bó đũa )… Có những kinh nghiệm sống của nhân dân đã được truyện ngụ

ngôn khái quát lên thành những quan niệm triết học Ðó có thể là quan niệm về

tính tương đối của sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội (Mèo lại hoàn mèo )

sự vận động và phát triển của thế giới theo qui luật khách quan Chính vì vậy mà

so với cổ tích và truyện cười thì truyện ngụ ngôn thiên về giáo dục hơn Các nhà

tư tưởng lớn của nhân loại, ở phương Đông cũng như phương Tây, thời cổ đại cũng như thời hiện đại đều hay dùng hình thức ngụ ngôn để phát biểu như Thích

Ca, Lão Tử, Manh Tử, Xôcơrat… Ở nước ta, Bác Hồ đã dùng hình thức ngụ ngôn

rất nhiều, bao gồm cả thơ ca và truyện kể ngụ ngôn như: Bài ca sợi chỉ, Hòn đá

và to lớn

a Nhân vật chính trong truyện ngụ ngôn thường là loài vật.

Nhìn bề ngoài, các con vật trong truyện ngụ ngôn không khác các con vật trong truyện cổ tích loài vật: chúng cũng biết nói tiếng người, có khả năng ứng xử,

có tâm tính như người và cũng có đủ cả thú, chim, cá, côn trùng… Nhưng xét kĩ hơn sẽ thấy sự khác biệt

- Một là, khác biệt về bản thân đối tượng (đối tượng miêu tả hay đối tượng

kể chuyện)

Các con vật trong truyện cổ tích ít nhiều có liên quan đến cuộc sống của chủ nhân nguồn truyện kể Con vật trong truyện cổ tích được phân loại cụ thể nhằm

Trang 20

mang ý nghĩa nào đó (người nghiên cứu có thể thông qua sự phân loại đó để xác định những truyện của người đi săn, người làm ruộng hay người chăn nuôi) Ví

dụ: Sự tích con khỉ cho ta biết truyện kể của loại người trưởng giả, Con voi với

người quản tượngcho biết về cuộc sống của người chăn nuôi…

Các con vật trong truyện ngụ ngôn được chọn lựa theo tiêu chí hoàn toàn khác Đó có thể là bất cứ con vật nào, có thể không liên quan gì đến cuộc sống củacon người Việc phân loại các con vật trong truyện ngụ ngôn không có ý nghĩa cụ

thể nào Nếu có cũng chỉ mang tính hình thức Ví dụ: truyện Con cáo, Muỗi và sư

tử…

- Hai là, khác biệt về thái độ đối với đối tượng

Trong truyện cổ tích về loài vật, người kể và người nghe có thể thể hiện tình cảm yêu ghét rõ rệt đối với con vật, cũng như thể hiện tình cảm với nhân vật trong

cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt Ví dụ: truyện Chú thỏ thông minh, lừa được

bao nhiêu thú dữ, lại có thể xử kiện một cách tài tình mà không quan tòa nào xử được Người đọc sẽ cảm phục chú thỏ thông minh vô đối này và thỏa mãn vì cách

xử lí tình huống nhanh nhạy của thỏ

Đối với các con vật trong truyện ngụ ngôn, phản ứng của con người ta thể

hiện ở mặt lí trí, suy lí hơn là cảm xúc, tình cảm Ví dụ: truyện Con thỏ, trong lúc

gặp nạn nguy cấp, thỏ vẫn đủ thời gian và lí trí để tự rút cho mình và cũng cho mọi người bài học Câu truyện kết thúc không để lại tình cảm đặc biệt nào cho người đọc Người đọc không cảm thấy thương tiếc cho chú thỏ nhút nhát bị nạn Người ta suy nghĩ về câu chuyện nhiều hơn là cảm xúc mà câu chuyện mang lại

- Ba là, khác biệt ở nội dung miêu tả hay kể chuyện

Mục đích cơ bản của truyện cổ tích về loài vật là đúc kết những kinh nghiệm

về đời sống để truyền đạt lại cho đời sau nên phần cốt lõi của câu chuyện kể là

miêu tả cụ thể đặc điểm của các con vật Ví dụ: truyện Trí khôn của ta đây giải

thích nguồn gốc của bộ lông vằn của hổ và hàm răng dưới của trâu

Trang 21

Truyện ngụ ngôn không nhằm kể chuyệ về loài vật mà chỉ mượn chuyện về loài vật để nói về con người và xã hội loài người Các con vật trong truyện ngụ ngôn không bao giờ được miêu tả kĩ về đặc điểm và nhiều về hành động Ví dụ:

truyện Con công không đi kể chi tiết vì sao công có bộ lông đẹp hay tác dụng của

bộ lông công mà chỉ quan tâm đến việc công sẽ che chở thế nào cho các loài chim nếu nó được làm vua

b Nhân vật trong truyện ngụ ngôn đôi khi là những thứ khác.

Không chỉ các con vật mà cả những vật vô tri vô giác cũng được mượn vào

truyện ngụ ngôn Đôi khi đó là cây cỏ hoa quả (Cây sậy và cây ô liu), các vật vô

tri, những điều vô hình vạn trạng, thân thể con người và n hững bộ phận trên thân

thể người, tính nết, mượn cả thần phật, ma quỷ, hay tạo hóa (Gió và mặt trời,

Người cha và các con trai, Ông già và thần chết…).

Tuy nhiên, sau này Arixtốt chỉ thừa nhận các con vật là nhân vật trong truyện ngụ ngôn Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc, truyện ngụ ngôn chỉ cần mượn các con vật để diễn ra trò cũng đủ ý nghĩa và còn để phân biệt giữa truyện ngụ ngôn với truyện cười

3.2 Cốt truyện và kết cấu

Truyện ngụ ngôn là câu chuyện kể có tính chất thế sự Tuy nhiên cốt truyện của truyện ngụ ngôn khác với cổ tích ở chỗ: Cuộc đời trong ngụ ngôn gần với hiệnthực hơn trong khicuộc đời trong cổ tích gắn với lý tưởng và ước mơ

Kết cấu truyện ngụ ngôn thường ngắn, ít tình tiết thường mỗi truyện chỉ một tình tiết trong khi câu chuyện cổ tích thường có đầu có đuôi Nét đặc biệt trong kếtcấu của truyện ngụ ngôn là phần truyện kể nổi lên còn phần ý nghĩa lắng đọng lại

mà người đọc tự rút ra

Kết cấu của truyện ngụ ngôn chỉ nêu ra một hoàn cảnh, một tình huống, tron

đó diễn ra một hành động của một hoặc một vài nhân vật, nhằm minh hoa cho mộtđiều răn dạy nào đó Xung đột không có quá trình hình thành, nó chỉ diễn ra trong

Trang 22

một hành động Đặc trưng này tạo nên kiểu kết cấu tiêu biểu một màn kịch của truyện ngụ ngôn Nó gần giống như quy tắc “tam duy nhất” của kịch cổ điển.Nét đặc trưng của kiểu kết cấu này:

- Tình huống, hoàn cảnh được chỉ dẫn cụ thể

- Nhân vật được miêu tả sắc nét

- Đối thoại hoặc độc thoại hàm súc, hành động diễn ra mau lẹ

Ở đặc trưng kết cấu này truyện ngụ ngôn có vẻ gần với truyện cười Tuy nhiên, theo La Phôngten, truyện ngụ ngôn gồm phần xác (câu chuyện) và phần hồn (điều răn dạy) Có đôi khi điều răn dạy được diễn tả thành lời, tức là dựa theo quan niệm của La Phôngten thì phần “hồn” được “hiện ra” bên ngoài xác

Tác giả Đông Tây ngụ ngôn nêu nhận xét bao quát về những kiểu kết cấu

này: “Các nhời quy trâm, khi thì ăn luôn theo vào bài, chỉ như gợi cái đại ý ra; khi thì đứng lìa rời hẳn ra ngoài như để thúc kết lại; lúc thì dàn ngay trên đầu bài như nhời giáo đầu; lúc thì dồn ở dưới cuối như cái khung đóng bài vậy Có nhiều nhời trâm quy có thể lấy ra mà dùng như những câu tục ngữ, ca dao được…” Với những nội dung đụng chạm nhiều đến giai cấp, kiểu truyện ngụ ý không được

“diễn tả bằng lời” được sử dụng triệt để và cũng là kiểu truyện gốc của ngụ ngôn

Về kết cấu, nói đến ngụ ngôn dân gian, nói đến tính chất vừa kín đáo, hàm súc, vừa hồn nhiên, sinh động, ta thường nghĩ ngay đến những bài ca dao ngụ

ngôn và những câu tục ngữ có ý vị ngụ ngôn (mật ngọt chết ruồi, giậu đổ bìm leo,

thừa nước đục thả câu…).

Kết cấu hàm súc của truyện ngụ ngôn đã tự tạo cho nó đầy đủ ý nghĩa mà không ai có thể di dịch hay bình phẩm được nữa, chỉ có thể từ đó rút ra bài học

3.3 Nghệ thuật Ẩn dụ

Truyện ngụ ngôn thường dùng những ẩn dụ thông qua ngôn ngữ hàm súc Tác giả dân gian còn miêu tả đặc điểm phổ biến của các con vật để biểu trưng cho

Trang 23

con người Từng con vật tiêu biểu cho từng loại người trong xã hội Chẳng hạn, cáo xảo quyệt, mèo giả dối

3.4 Xung đột trong truyện ngụ ngôn.

Trong truyện cổ tích, xung đột của nhân vật được biểu hiện thông qua hành động Đó là sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt với cái xấu Xung đột tiêubiểu trong truyện ngụ ngôn là xung đột giữa cái đúng với cái sai, cái chân lí với cái ngụy lí Xung đột trong truyện ngụ ngôn biểu hiện ở lí lẽ hành động, triết lí ứng xử của nhân vật

Truyện ngụ ngôn Con hươu chỉ có 1 nhân vật, nó không có mâu thuẫn hay

xung đột với bất kì con vật nào khác ngoài chính bản thân nó Con hươu tự hào với cặp sừng đồ sộ của mình vì cho rằng nó đẹp Bị sư tử vồ vì cặp sừng vướng vào cây không chạy thoát được Lúc đó chân lí mà nó nhận ra: “những người có thể cứu mình thì mình nghĩ là họ tồi, yếu ớt còn những kẻ làm mình mất đời thì mình lại từng thích thú.” Đây là loại xung đột nằm sau hành động

Cũng có loại truyện ngụ ngôn có hai nhân vật (loại này khá phổ biến) Xung đột giữa các nhân vật là xung đột vốn có (sói và cừu, gấu và ong mật, sư tử và các con vật khác…), hoặc cũng có thể giữa chúng vốn không có quan hệ thù địch (thỏ

và rùa, công và sếu, cáo và sói…) Nhưng dù có mâu thuẫn trước hay không thì xung đột cũng biểu hiện qua những lí lẽ hành động

Ví dụ: truyện Sói và dê xung đột giữa sói và cừu là xung đột vốn có nhưng

vẫn thể hiện ở mặt lí lẽ Lí lẽ của sói chỉ là ngụy biện và dê luôn nhìn ra được mặt trái của lời dụ dỗ ngon ngọt Từ đó rút ra được một chân lí trong cuộc sống:

“chẳng ai cho không ai cái gì”

Ngoài ra, xung đột trong truyện ngụ ngôn còn được thể hiện dưới dạng xung đột giữa tác giả (hoặc người sử dụng truyện) với nhân vật trong câu chuyện (xem

ví dụ trong giáo trình)

Xét đến cùng, xung đột trong truyện ngụ ngôn đều phản ánh xung đột xã hội

Đó là xung đột giữa người bị áp bức với kẻ áp bức được khái quát từ những kinh

Trang 24

nghiệm đấu tranh xã hội Đặc điểm chung của truyện ngụ ngôn là đều lấy hình ảnhnhững con vật to khỏe làm biểu tượng của kẻ mạnh, những con vật nhỏ bé nhưng đông dảo, nhanh nhạy và thông minh làm biểu tượng của kẻ yếu.

Xung đột trong truyện ngụ ngôn cũng có thể phản ánh cái tốt và cái xấu trong

xã hội Sự đúng sai thông thường không phải là đặc trưng ở một giai cấp nào nên việc đi tìm đúng sai sau những hành vi ứng xử của nhân vật ngụ ngôn là không nhất thiết

3.5 Thực tại và hư cấu trong truyện ngụ ngôn.

Truyện cổ tích về loài vật có sự đan xen giữa thực tế và hư cấu Ở truyện ngụ ngôn câu truyện kể hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng Hư cấu ngụ ngôn là

hư cấu chịu sự chi phối của tư duy suy lí Tức là câu truyện được kể có sự chọn lọc trong việc chọn lựa nhân vật, hoàn cảnh sao cho phù hợp với ý tưởng có sẵn Truyện ngụ ngôn không sáng tạo ra cả thế giới nghệ thuật mà chỉ đặt ra câu

chuyện để minh họa cho ý tưởng của mình Dù trong truyện ngụ ngôn có xuất hiệncon người làm ta liên tưởng đến một sự kiện thực tế, hiện tượng thực tế thì đó cũng không phải là một hiện tượng thực tế cụ thể mà chỉ là một loại hiện tượng thực tế

Nói như vậy không có nghĩa là truyện ngụ ngôn hoàn toàn không dựa trên tính xác thực Xét trên góc độ nào đó ta vẫn có thể ít nhiều hiểu biết về những đặc tính của các con vật và về tâm lí, tính cách con người Tác giả ngụ ngôn chỉ dựa vào một mặt nào đó của sự việc trong thực tế để từ đó xây dựng nên câu chuyện cho phù hợp với ý tưởng muốn gởi gắm

3.6 Lời kể trong truyện ngụ ngôn dân gian.

Lời kể trong truyện ngụ ngôn dân gian có thể được tóm gọn trong hai đặc điểm:

- Có tính chất cô đúc như những lời châm quy

- Có tính chất châm biếm trong giọng điệu lời kể

Đối với truyện ngụ ngôn, nó đã phản ánh con đường thực tế để nhận ra chân lí cuộc sống: chân lí có thể được rút ra từ kinh nghiệm, từ hoạt động thực tiễn, từ

Trang 25

những sai lầm, thất bại và từ cuộc đấu tranh với ngụy lí Truyện ngụ ngôn, nhất là ngụ ngôn dâ gian, thường không ban phát chân lí Đó có thể là cơ sở và ý nghĩa của tính chất châm biếm trong giọng điệu truyện ngụ ngôn.

4 Tìm hiểu các truyện ngụ ngôn đã học ở Ngữ văn 6

4.1: Truyện Ếch ngồi đáy giếng

a Đặc điểm nội dung và nghệ thuật

- Truyện kể về một con ếch, sống trong môi trường có giới hạn nên hiểu biết hạnhẹp mà huênh hoang Khi thay đổi môi trường sống mà vẫn giữ thói cũ, nó bị mộtcon trâu dẫm bẹp

- Sử dụng nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn: Mượn câu chuyện nhỏ về loài vật đểđưa ra bài học rất có ý nghĩa đối với con người

- Truyện có nhiều hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc

để có được một kết cục không được tốt đẹp

- Thứ hai, đó là bài học về tính cách Không được chủ quan, kiêu ngạo, coi thườngnhững đối tượng chung quanh mình Kẻ chủ quan, kiêu ngạo phải trả giá đắt, cókhi là tính mạng của chính mình

Trang 26

4.2: Truyện Thầy bói xem voi

a Đặc điểm nội dung và nghệ thuật

- Truyện kẻ về năm ông thầy bói xem voi Mỗi ông sờ một bộ phận của voi rồi cãinhau, chẳng ai chịu ai, cuối cùng đánh nhau vỡ đầu chảy máu Câu chuyện cho tabài học về cách xem xét, đánh giá, nhìn nhận sự việc

- Mượn một câu chuyện nhỏ, kể một cách ngắn gọn nhưng khiến người đọc phảisuy ngẫm, từ đó rút ra bài học sâu sắc

- Sử dụng yếu tố gây cười ( sờ voi,cách phán về voi, so sánh voi với các đồ vậtquen thuộc, cãi nhau, đánh nhau) để giúp người đọc nhận thức được sự chủ quan,phiến diện trong việc tìm hiểu thế giói xung quanh bị đem ra làm trò cười chothiên hạ

4.3: Truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

a Đặc điểm nội dung và nghệ thuật

- Qua câu chuyện về sự bất hòa giữa năm nhân vật: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệngtác giả dân gian muốn nêu ra bài học: Trong một tập thể mỗi thành viên không thể

Trang 27

sống tách biệt mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại Do

đó phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng sức lao động của nhau

- Tác giả khéo léo tưởng tượng ra câu chuyện về mối quan hệ gữa các bộ phậntrong cơ thể để nêu ra bai học có ý nghĩa

- Cách kể chuyện sinh động, hấp dẫn, sự quan sát, miêu tả đúng với đặc điểm từng

bộ phận của cơ thể

b Bài học

Câu chuyện về mỗi bất hòa giữa các bộ phận trong cơ thể là một câu chuyện có ýnghĩa sâu sắc Các nhân vật trong truyện chính là những sáng tạo nghệ thuật đặcsắc về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa các cá thể với tập thể ( ở đâylại là một tập thể gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau) Qua truyện, tác giả dân giangiúp người nghe thấy được:

- Ở đời, mỗi người có một vị trí, vai trò riêng trong cộng đồng Tuy khác nhau vềnhiệm vụ nhưng tất cả đều có mỗi liên hệ, gắn bó chặt chẽ với nhau

- Trong cộng đồng, quan hệ giữa các thành viên vừa là bổ sung vừa là hỗ trợ chonhau nên không được ghen tị hay coi thường công sức của người khác Nếu ghen

tị, có thể hại mình và hại tập thể

4.4: Truyện Đeo nhạc cho mèo

a Đặc điểm nội dung và nghệ thuật

- Truyện kể về việc làng chuột mở cuộc họp, bàn về cách chống lại mèo Cuộc họpdiễn ra rất sôi nổi, nhưng đến khi đeo nhạc cho mèo thì ai cũng chối, đùn đẩy cho nhau Ông cống đùn cho anh Nhắt, anh Nhắt láu lỉnh lại đẩy sang cho chuột Chù Rốt cuộc chuột Chù, vì không chối vào đâu được nữa mà cũng không biết đẩy cho

Trang 28

ai, nên đành phải nhận Câu chuyện cho ta bài học về việc phải cân nhắc điều kiện,khả năng thực hiện trước một công việc, đồng thời cũng phê phán những ý tưởng viển vông, những kẻ ham sống, sợ chết.

- Mượn truyện về loài vật bé nhỏ để đưa ra một bài học sâu sắc về cách sống, cáchứng xử trước công việc cũng như rèn luyện tính cách cho mỗi người

- Truyện miêu tả sinh động, sâu sắc làng chuột và từng loại chuột ( thông qua cuộchọp của hội đồng chuột và tên gọi, bộ dạng, hành động, ngôn ngữ tính cách củatừng nhân vật)

b Bài học

Câu chuyện nêu lên những bài học ở đời:

- Thứ nhất, một sáng kiến hay kế hoạch tốt phải có điều kiện để thực hiện nó Dù tốt đến mấy nhưng không thể thực hiện được trong thực tiễn thì đó cũng chỉ là những kế hoạch, sáng kiến viển vông, không có giá trị

- Thứ hai, người thực hiện kế hoạch phải có đủ phẩm chất, năng lực để thực hiện

nó Nếu chỉ đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm, bắt một ai đó phải nhận thì dù kế hoạch có tính thực tiễn cũng chưa chắc đã thực hiện được

- Thứ ba, một hội đồng toàn những kẻ chỉ biết nói cho sướng miệng rồi đùn đẩy trách nhiệm cho người khác chỉ có thể là hội đồng chuột, rất dễ đi đến những quyết định ảo tưởng, phi thực tế

5 Nguyên tắc giáo dục Kĩ năng sống

Nguyên tắc 5 chữ T: Tương tác, trải nghiệm, tiến trình, thay đổi hành vi, thời gian

- Tương tác: KNS không thể được hình thành qua việc nghe giảng & tự đọc tàiliệu Cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên vàvới nhau trong quá trình giáo dục

Trang 29

- Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm và thựchành.

- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” màđòi hỏi phải có cả quá trình:

Nhận thứchình thành thái độ thay đổi hành vi

- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thayđổi hành vi theo hướng tích cực

- Thời gian: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càngsớm càng tốt đối với trẻ em

6 Các kĩ năng sống cơ bản

6.1 Kĩ năng giao tiếp

- Là kỹ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗi người khi tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗi người; khả năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác

Trang 30

Tác dụng : Tôn trọng giá trị của mọi người; có quyết định đúng đắn phù hợp với bản thân.

6.4 Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo

Cách thức, phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra giải pháp tối ưu trong các tình huống cuộc sống

Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:

+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuốc sống

+ Dựa trên các qui luật của chuyên ngành và phương pháp tư duy để phân tích.+ Liên hệ với thực tiễn, điều kiện của mình

+ Chủ động đưa ra giải pháp của mình

+ Trao đổi với người có liên quan để xử lý

Lưu ý: Trước khi hỏi phải suy nghĩ chủ động, kể cả suy nghĩ cách hỏi

Trang 31

- Tính kiên định: Thực hiện mong muốn (hoặc từ chối) với sự xem xét khách quan, hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của các bên tham gia, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài Kiên định là sự cân bằng, hài hoà giữa hiếu thắng, vị kỷ và phục tùng, phụ thuộc.

6.8 Kỹ năng đặt mục tiêu

- Mục tiêu được thể hiện bằng ngôn ngữ cụ thể, không chung chung,viển vông, lượng hoá được kết quả cụ thể để có thể kiểm định được

- Xác định các bên liên quan (chủ trì, phối hợp trong thực tiễn)

- Xác định thời gian hoàn thành, các mốc thời gian trung gian

- Có nguồn lực đảm bảo

6.9 Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng

Là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là sự tất yếu của cuộc sống, hiểu nguyên nhân và ứng phó tích cực khi bị căng thẳng

6.10 Kĩ năng hợp tác

- Kỹ năng hợp tác là kỹ năng cần thiết của mỗi cá nhân, được hình thành trong quátrình tham gia hoạt động trong một nhóm (có thể từ 2 người trở lên) để cùng nhauhoàn thành một công việc

- Mỗi cá nhân đều có mặt mạnh riêng Sự hợp tác trong nhóm giúp mỗi cá nhânđóng góp năng lực, sở trường riêng cho lợi ích chung của nhóm, đồng thời học tập

và chia sẻ kinh nghiệm được từ các thành viên khác

6.11 Kĩ năng từ chối

Trang 32

- Là nghệ thuật nói không với những điều người khác đề nghị nhưng bản thânmình không thích, không muốn và không có khả năng thực hiện nhưng lại khônglàm tổn thương lớn đến mối quan hệ vốn có.

6.12 Kĩ năng thương lượng

* Một số nguyên tắc trong thương lượng

- Cần tự tin

- Nêu câu hỏi nếu có thắc mắc

- Nên cung cấp thông tin

- Gợi ra những khoản nhân nhượng có đi có lại

- Đưa ra những dự kiến của mình

- Phối hợp tốt tính kiên quyết và tính mềm mỏng, trong mọi hoàn cảnh giữcho được sáng suốt, tỉnh táo

- Biết lắng nghe và hiểu rõ vấn đề

- Có khả năng đứng ở địa vị bên kia để nhận định sự việc theo quan điểmcủa họ cũng như theo quan điểm của mình

7 Phương pháp giáo dục Kĩ năng sống

Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sốngtrong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái

Môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em mộtthiếu sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống Vì vậy, việc giáo

Trang 33

dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học qua học tập – sinh hoạt ở trường là điều hếtsức cần thiết.

Theo đó, bằng trách nhiệm, bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình, giáo viêncần từng bước một giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua từng bài dạy, thông qua các hoạt động ở trường, ở lớp

Giáo dục kỹ năng sống không phải là để nói cho trẻ biết thế nào là đúng thế nào là sai như ta thường làm Cũng không phải là rao truyền nhưng lời hay ý đẹp

để chúng vào tai này rồi ra tai kia Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc chép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn

Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn những giảipháp khác nhau Quyết định phải phát xuất từ trẻ Vì thế học phải hết sức gần gũivới cuộc sống hay ngay trong cuộc sống nội dung phải phát xuất từ chính nhu cầu

và kinh nghiệm của trẻ Trẻ cần có điều kiện để cọ xát các ý kiến khác nhau, traođổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng trẻ phải tham gia chủ động vì cóthế trẻ mới thay đổi hành vi

Do đó nhiều phương pháp được áp dụng để đem lại những điều kiện trên nhưsinh hoạt hay thảo luận theo nhóm, theo cặp, động não, sắm vai, phân tích tìnhhuống, tranh luận trò chơi, huy động tối đa nghe, nhìn, vận động… trẻ không chỉthực tập thực hành trong khi học mà còn làm bài tập ở nhà, đi thực đia tham giacác phong trào, các dự án… ví dụ học về môi trường, trẻ có thể đi du khảo, thamgia làm sạch đường phố…học về trật tự an toàn giao thông, trẻ có thể bày nhữngtrò chơi về luật đi đường, quan sát tình hình giao thông rồi nhận xét Dưới đây làmột số phương pháp tiêu biểu:

7.1 Phương pháp động não

Trang 34

Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinhđược nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là một phươngpháp có ít để (lôi ra) một danh sách các thông tin.

- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cảlớp hoặc trước nhóm Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiềucàng tốt

- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát,trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắngnghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộng độngnhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt

7.2 Thảo luận nhóm

Như bản thân tiêu đề của phương pháp đã ngụ ý thực chất của phương phápnày là để học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ Thảo luận nhóm được sửdụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quátrình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến

để giải quyết một vấn đề có liên quan đến bài học đồng thời cũng phát huy được kĩnăng giao tiếp, hợp tác, ra quyết định…

7.3 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “ Làm thử” một sốcách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạynhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một

sự kiện cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính củaphương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn

ấy Qua đó học sinh có thể

Ngày đăng: 19/01/2018, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w