VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT NĂNG LỰC HỌC SINH KHI DẠY MÔN GDCD 6 1 Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra như một y.
Trang 1VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẨM
CHẤT NĂNG LỰC HỌC SINH KHI DẠY MÔN GDCD 6
Theo nghị quyết TW2 khóa VIII và kết luận của hội nghị TW6 khóa IX nêu rõ:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phươngpháp tiên tiến và phương tiện hiện đại qua quá trình dạy học"
Luật Giáo dục cũng đã qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm củatừng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập chohọc sinh"
Từ yêu cầu đó, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từchương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học - từ chỗquan tâm tới việc học sinh học được gì đến việc học sinh vận dụng được gì qua quátrình học tập Từ chỗ học sinh tiếp thu thụ động những kiến thức qui định sẵn sang tựlực, tích cực lĩnh hội kiến thức Để thực hiện được điều đó, phải thành công trong việcchuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều”sang dạy cách học tíchcực nhằm giúp học sinh chủ động, tự lực lĩnh hội tri thức, vận dụng tri thức, rèn luyện
kĩ năng để rồi từ đó hình thành năng lực và phẩm chất Một trong những bộ môn cầnchú trọng đó là giáo dục công dân
Năm học 2021-2022 là năm học BGD&ĐT tiến hành cải cách sách giáo khoakhối THCS nên có nhiều đổi mới về cả kiến thức và kĩ năng Vậy làm thế nào để vừanâng cao được chất lượng dạy và học bộ môn vừa phát huy được phẩm chất và năng
1
Trang 2lực học sinh, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố trong đó yếu tố "người dẫnđường”có một vị trí rất quan trọng Ở vị trí này người thầy phải là người hướng chohọc sinh đường đi, là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức,đưa ra được cách cho học sinh thực hiện sao cho đạt hiệu quả Đặc biệt chú trọng đếnkhả năng giải quyết vấn đề và khả năng giao tiếp của học sinh Chính vì vậy mà tôimạnh dạn đề xuất biện pháp:
“Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để phát triển phẩm chất năng lực học sinh khi dạy môn giáo dục công dân 6"
2 Nội dung sáng kiến:
2.1 Cơ sở lý luận:
2.1.1 Khái niệm năng lực
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng 1998) có giải thích:Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện mộthoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thànhmột loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướngphát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì
“Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức,
kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận
dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng)được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việcnào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân
đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi” Định hướng chương trình giáo dục
phổ thông (GDPT) đã xác định một số năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải
có để đáp ứng với tình hình thực tế cuộc sống đang phát triển và hòa nhập với môitrường quốc tế
Năng lực làm chủ và Năng lực xã hội Năng lực công cụ
Trang 3phát triển bản thân
Năng lực tự học Năng lực giao tiếp Năng lực tính toán
Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực hợp tác Năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực quản lí bản thân
2.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triểnnăng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từnhững năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáodục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạyhọc, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng nănglực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con ngườinăng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình nàynhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướngphát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩmcuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điềukhiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung vàchương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm của chươngtrình dạy học định hướng phát triển năng lực:
3
Trang 4Chương trình định hướng nội dung
Chương trình định hướng phát triển năng lực
Mục tiêu
giáo dục
Mục tiêu dạy học được mô tả
không chi tiết và không nhất thiết
phải quan sát, đánh giá được
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chitiết và có thể quan sát, đánh giá được;thể hiện được mức độ tiến bộ của HSmột cách liên tục
Nội dung
giáo dục
Việc lựa chọn nội dung dựa vào
các khoa học chuyên môn, không
gắn với các tình huống thực tiễn
Nội dung được quy định chi tiết
trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạtđược kết quả đầu ra đã quy định, gắn vớicác tình huống thực tiễn Chương trìnhchỉ quy định những nội dung chính,không quy định chi tiết
Phương
pháp dạy
học
GV là người truyền thụ tri thức,
là trung tâm của quá trình dạy
học HS tiếp thu thụ động những
tri thức được quy định sẵn
- GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ
HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.Chú trọng sự phát triển khả năng giảiquyết vấn đề, khả năng giao tiếp…
- Chú trọng sử dụng các quan điểm,phương pháp và kỹ thuật dạy học tíchcực; các phương pháp dạy học thínghiệm, thực hành
Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây dựng Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu
ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình
Trang 52.1.3 Các năng lực mà môn học giáo dục công dân hướng đến
- Năng lực giải quyết vấn đê
Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lực giảiquyết vấn đề (GQVĐ) Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất cho rằngGQVĐ là một NL chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khámphá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có địnhhướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trongtình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyếtđịnh giải pháp tối ưu
Với môn học giáo dục công dân, năng lực này cũng cần được hướng đến khitriển khai các nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trìnhhình thành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập của môn học, khi nảy sinhnhững tình huống có vấn đề Quá trình giải quyết vấn đề trong môn GDCD có thểđược vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một vấn đề cụ thể
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà mônhọc Giáo dục công dân hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác định cáctình huống và những ý tưởng Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê vàkhát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức
5
Trang 6- Năng lực hợp tác
Học tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ để hoànthành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việc cùng nhau,học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người khác, hoàgiải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây là hình thức học tập giúphọc sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân vàtập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệuquả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau
để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hộihiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở củaquá trình hội nhập
Trong môn học Giáo dục công dân, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùngchia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm
vụ học tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thểhiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắngnghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây lànhững yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trongbối cảnh mới
- Năng lực tự quản bản thân
Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm soát cảmxúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập kế hoạch
và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vi của cá nhântrong các bối cảnh khác nhau Khả năng tự quản bản thân giúp mỗi người luôn chủđộng và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉ luật,biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình
Trang 7Cũng như các môn học khác, môn Giáo dục công dân cũng cần hướng đến việcrèn luyện và phát triển ở HS năng lực tự quản bản thân Trong các bài học, HS cần biếtxác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch để đạtđược mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiếnthức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực,hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiếttrong những tình huống của cuộc sống.
2.2 Thực trạng:
- Vê phía giáo viên:
Nhiều giáo viên tâm huyết với bộ môn giáo dục công dân cho rằng việc dạyhọc vẫn chưa tạo sức hút cho học sinh vì kiến thức khô khan, nhiều khái niệm Chưavận dụng có hiệu quả lý luận dạy học vào thực tiễn bài giảng nên nhiều giờ dạy giáoviên vẫn chưa thực sự giúp học sinh thể hiện được năng lực riêng Sự phát huy tínhtích cực chủ động của học sinh thực ra vẫn mang tính chất nửa vời Không phát huyđược năng lực tư duy sáng tạo của các em Đôi khi giáo viên dạy học còn đọc chép,dạy học không gắn với thực tiễn nên hiệu quả thực sự của học sinh chưa cao
- Năm nay là năm đầu tiên tiếp cận chương trình mới nên việc vận dụng phươngpháp mới vào dạy học còn chưa thật đồng bộ
- Vê phía học sinh:
Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi longại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học môn GDCD Coi môn học làmôn phụ nên không thực sự chú tâm học tập Một nét đặc thù là học sinh lớp 6 ở đầucấp học các em vẫn còn lúng túng khi tiếp cận giờ học, ngồi học thụ động, chưa pháthuy được tính tích cực
Chương trình mới cũng là một điều còn mới mẻ đối với học sinh Cần phải cóthời gian làm quen và thích nghi
Đầu năm tôi tiến hành khảo sát chất lượng về các năng lực được phát huy tronggiờ học GDCD ở ba lớp 6
Khối Tổng số
học sinh
Phát huy tốt các năng lực
Chưa phát huy hết năng lực
Số học sinh Tỉ lệ % Số học sinh Tỉ lệ %
7
Trang 86A2 44 15 38,0 25 62,0
2.3 Biện pháp tiến hành:
2.3.1 Tìm hiểu nắm vững mục tiêu bài giảng giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực
Theo tuyên ngôn của tổ chức UNESSCO - Bốn trụ cột của giáo dục bao gồm:Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để tự khẳng định(Learning to be) và Học để cùng chung sống (Learning to live together)
Đây cũng là mục tiêu cần hướng tới của môn giáo dục công dân cũng như toàn
xã hội Trước hết phải hiểu rõ khái niệm Năng lựcđây là một vấn đề rộng với nhiềuđịnh nghĩa khác nhau:
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh
“competentia”.“Năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đê do những tinh huống này đặt ra” (Theo Xavier Roegiers – Làm thế nào để phát triển các
năng lực nhà trường)
Hoặc như GS TS Đinh Quang Báo lấy dấu hiệu từ các yếu tố tạo thành khả
năng hành động “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức kinh nghiệm, kỹ năng , thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Hội thảo đổi mới chương trình SGK – Bộ Giáo
dục tổ chức 10- 12/12/2012 tại Hà Nội)
Trong giáo dục Theo định hướng năng lưc học sinh quan trọng là xác định rõnhững năng lực cần có và có thể phát triển trong dạy học Trong đó gồm năng lựcchung có thể phát triển ở các môn học khác nhau và năng lực riêng
Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lựchành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:
Các thành phần cấu trúc của năng lực
- Năng lực chuyên môn (Professional competency):
- Năng lực phương pháp (Methodical competency):
- Năng lực xã hội (Social competency):
- Năng lực cá thể (Induvidual competency):
Trang 9Năng lực cốt lõi
Nhóm NL làm chủ
và PT bản thân
Nhóm NL quan hệ
xã hội
Nhóm năng lực công cụ
Năng lực
tự học Năng lựcgiải quyết
vấn đề Năng lựcsáng tạo
Năng lựctự quản lý Năng lực giao tiếp Năng lực hợp tácNăng lực sử dụngCN-TTNăng lực sử dụng ngôn ngữ Năng lực tính toán
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triểnnăng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức,
kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và nănglực cá thể Những năng lực này có mối quan hệ biện chứng không tách rời nhau Nănglực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này
- Trước hết là nhóm năng lực cốt lõi chung:
Qua bài giảng giáo viên công dân phải giúp học sinh hình thành những phẩmchất:
(1) Yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước
(2) Nhân ái khoan dung
(3) Trung thực, tự trọng, chí công vô tư
(4) Tự lập tự tin, tự chủ, có tinh thần vượt khó
9
Trang 10(5) Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước và môi trường tự nhiên.(6) Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng chấp hành kỉ luật, pháp luật.
Để hình thành được những phẩm chất năng lực đó trong môn giáo dục công dânthì nhất thiết phải cải tiến phương pháp dạy học
2.3.2 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để phát huy phẩm chất năng lực học sinh:
2.3.2.1 Phương pháp dạy nêu/ phát hiện và giải quyết vấn đề:
Nêu và giải quyết vấn đề, đặt và giải quyết vấn đề , phát hiện và giải quyết vấnđề là những thuật ngữ được dùng trong dạy học Các thuật ngữ này có đặc điểm
chung là phát hiện và giải quyết được vấn đê để xây dựng nên kiến thức mới và áp
dụng kiến thức vào thực tiễn
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp tạo điều kiện để họcsinh có thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách tư duy mang tính khoa học Nókhông những tạo nhu cầu, hứng thú học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức, mà còn phát hiệnnăng lực sáng tạo của học sinh Sau khi giải quyết vấn đề, học sinh sẽ thu nhận đượckiến thức mới, kĩ năng mới với tinh thần thái độ tích cực
* Quy trình của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Căn cứ vào quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề sẽ được thực hiệntheo bốn mức độ:
Lập
kế hoạch
Giải quyết vấn đề
Kết luận
Trang 11vấn đề
1 Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên
2 Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên và
học sinh
3 Giáo viên và
học sinh
Giáo viên vàhọc sinh Học sinh Học sinh
Giáo viên vàhọc sinh
- Sau đó giáo viên chốt lại vấn đề
Tự hào về truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ chính là giữ gìn nguồngốc bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển bền
11
Trang 12vững của đất nước.Để thực hiện nhiệm vụ cao quý ấy không ai khác chính là thế hệthanh niên Việt Nam ngày nay.
+ Khi dạy bài Siêng năng kiên trì ở hoạt động khởi động
Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận với bài mới bằng hoạt động“Dự đoánqua hình ảnh”
Câu trả lời của học sinh
Bạn nam không chịu suy nghĩ, bỏ dở bài tập
Bạn nữ kiên trì suy nghĩ, quyết tâm làm bài tập và kêu gọi bạn cùng làm
- GV giao nhiệm vụ cho HS thông qua trò chơi “Khám phá hình ảnh”
Bước 1: Quan sát hình ảnh và trả lời câu
hỏi:
? Hai bạn trong hình đã có biểu hiện như
thế nào trong học tập?
? Nếu là em, em sẽ lựa chọn hành động
theo bạn nam hay bạn nữ?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập - HS làm việc cá nhân, suy nghĩ,
trả lời
Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận - Học sinh cử đại diện lần lượt
Trang 13trình bày các câu trả lời.
Hình 1: Bạn nam không chịusuy nghĩ, bỏ dở bài tập
Hình 2: Bạn nữ kiên trì suynghĩ, quyết tâm làm bài tập và kêu gọibạn cùng làm
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ
- GV nhận xét, đánh giá, chốt vấn đề và giới thiệu chủ đề bài học:
Sự kiên trì, siêng năng và quyết tâm rất cần đối với bản thân mỗi con người chúng
ta
=> Như vậy, với hình thức tổ chức trò chơi thẩm thấu âm nhạc, dự đoán qua hìnhảnh giáo viên đã đưa ra vấn đề khiến cho học sinh tìm hiểu để tìm tòi phát hiện đểrồi kết luận được vấn đề
Ở phương pháp này giáo viên đã phát huy được ở học sinh những năng lực:
- Tự chủ và tự học: Tự giác học tập, lao động
- Điều chỉnh hành vi: Có những việc làm cụ thể, phù hợp
- Phát triển bản thân: Kiên trì mục tiêu, thực hiện nhiệm vụ
học tập và rèn luyện đạo đức
- Chăm chỉ:
- Trách nhiệm:
13
Trang 142.3.2.2 Phương pháp trò chơi
- Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề haythể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó
- Quy trình thực hiện
+Giáo viên phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho học sinh
+ Chơi thử ( nếu cần thiết)
+ Học sinh tiến hành chơi
+ Đánh giá sau trò chơi
+ Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi
- Khi tổ chức trò chơi giáo viên cần lưu ý
+ Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề bài học
+ Học sinh phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi
+ Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi
+ Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
+ Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho HS
+ Sau khi chơi, giáo viên cần cho HS thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi
Trang 15- Khi dạy bài Tự lập: Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận với bài mới bằng trò chơi “Đoán ý đồng đội”.
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập:
- GV giao nhiệm vụ cho HS thông qua trò chơi “Đoán ý đồng đội”
+ Giáo viên chia lớp thành 4-5 nhóm
+ Phổ biến luật chơi
Từ khoá là các việc làm ở trường, ở nhà thể hiện tín tự lập: quét nhà, giặt quần
áo, tưới cây, rửa bát, nấu cơm, học bài, đạp xe đi học, trông em, gấp quần áo, phơiquần áo, gấp chăn màn…
Kết thúc 2 lượt chơi, đội nào đoán được đúng nhiều từ khoá, trong thời gianngắn hơn đội đó chiến thắng
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS cử đại diện nhận từ khoá và diễn đạt từ khoá
15
Trang 16- Các em còn lại trong đội đoán từ khoá.
- Lần lượt 4 đội chơi
Bước 3: Báo cáo kết quả và trả lời câu hỏi
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
- Gv nhận xét tinh thần chơi của các đội, đánh giá, chốt vấn đề và giới thiệu chủ
c Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh; Sản phẩm của các nhóm (Phiếu bài tập,phần tham gia trò chơi )