Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn 9, đề tài một sống kinh nghiệm giúp học sinh yêu thích môn ngữ văn
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 9 YÊU THÍCH MÔN NGỮ VĂN
Trang 2MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 9 YÊU THÍCH
MÔN NGỮ VĂN I.Đặt vấn đề:
1.Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu.
a Cơ sở lí luận.
Đất nước trong thời kì đổi mới không thể thiếu sự đổi mới của giáo dục
Sự đổi mới về nội dung chương trình, về phương pháp dạy học đóng một vaitrò quan trọng trong nền giáo dục nước nhà Đó là nền tảng cho một đất nướcphát triển vững mạnh Bên cạnh sự phát triển và đổi mới không ngừng đócũng cần chú trọng đến việc giữ gìn tâm hồn và nếp sống văn hóa của ngườiViệt Nam xưa và nay Sự đổi mới và phát triển toàn diện trong giáo dục đượcđặt ra là một điều đáng mừng nhưng đồng thời cũng là mối lo lắng cho nhữngngười làm công tác giáo dục Có thể nói để làm được những điều vừa nói trênkhông dễ dàng chút nào Đặc biệt với bộ môn Ngữ văn trong trường THCShiện nay khiến nhiều giáo viên cảm thấy buồn và bối rối khi mỗi ngày đến lớpphải chứng kiến cảnh học sinh ngày càng xa rời môn học Việc ngồi trong lớphọc vào giờ Ngữ văn đối với các em có khi là sự bắt buộc phải ngồi đó đểnhào nặn và nhồi nhét kiến thức Học sinh không cảm thấy hứng thú, yêuthích môn học Nguyên nhân của hậu quả trên là do đâu? Do người dạy? Dongười học? Trong khi đó mỗi giáo viên phải hoàn thành nhiệm vụ của mình
ở cả bốn kĩ năng: Nghe - Nói - Đọc - Viết
Cũng là giáo viên bộ môn Ngữ văn trong trường THCS tôi cảm thấy nhóilòng trước thực trạng học văn của các em học sinh hiện nay Vấn đề khôngchỉ xảy ra đối với các em học sinh yếu kém mà ngay cả với những em là họcsinh khá giỏi cũng không ít thờ ơ với môn học, đam mê học văn dần trở nên
xa lạ với học trò Tôi cảm thấy bản thân cần phải có một phần trách nhiệmtrong việc dìu dắt các em trở về với môn học này, môn học trang bị cho mỗingười vẻ đẹp tâm hồn, chiều sâu văn hóa và cả về kiến thức khoa học Chính
vì vậy việc giúp học sinh yêu thích môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết; yêuthích để hiểu rồi sau đó vận dụng vào trong đời sống; yêu để học rồi sau đóhình thành những kĩ năng cơ bản làm hành trang bước vào đời
Qua thực tế của việc giảng dạy môn Ngữ văn trong trường THCS cácnăm qua, cá nhân tôi đã tìm tòi học hỏi đúc kết một số kinh nghiệm giúp cho
tôi chọn và nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 9 yêu thích môn Ngữ văn Ngữ văn
b.Cơ sở thực tiễn:
Trang 3Trong trường THCS, môn học Ngữ văn có ba phân môn: Văn, TiếngViệt và Làm văn Số tiết dạy môn học này chiếm thời gian nhiều hơn các mônhọc khác ở mỗi lớp Chính vì vậy việc dạy - học văn dễ dẫn đến hướng khiếnhọc sinh nhàm chán Một số phương pháp giảng dạy trước đây như dạy họcđọc chép, dạy nhồi nhét kiến thức, dạy như là đi vào nghiên cứu văn học làmcho mối quan hệ hợp tác giữa thầy - trò bị tách rời; học sinh ngồi trong lớphọc thụ động thiếu sáng tạo, sự hứng thú đam mê với giờ học trên lớp Đồngthời với phương pháp dạy học mới - lấy người học làm trung tâm có thay đổiphần nào thái độ học tập của học sinh đối với môn Ngữ văn nhưng vẫn chưaphát huy hết hiệu quả, cả thầy và trò lẩn quẩn trong giờ học giống như đượclập trình sẵn được chưa đem lại niềm yêu thích thực sự ở học sinh đối với bộmôn Để đạt hiệu quả trong một tiết học thì cả thầy và trò cần trang bị thật kĩ
để phát huy được tính công cụ và tính nhân văn trong việc học văn
Đi sâu vào tìm hiểu phân tích vấn đề yêu hay không yêu môn học Ngữvăn của các em học sinh hiện nay có nhiều nguyên nhân Ta cứ nói do hoàncảnh xã hội và cơ chế thị trường phát triển đã ảnh hưởng nhiều đến lớp trẻ,đến học trò khiến các em không học Ở góc độ nào đó nguyên nhân lại xuấtphát từ phía những thầy cô đang đứng lớp, bởi giáo dục trong buổi giao thờigiữa cái truyền thống và hiện đại làm không ít giáo viên phân vân trong việclựa chọn phương pháp giảng dạy Phương pháp dạy học mới lấy học sinh làmtrung tâm, được hầu hết giáo viên đồng tình, vì phát huy được tính chủ động,tích cực, sáng tạo của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức Tuy nhiên, đốivới học văn không nên phủ nhận sạch trơn phương pháp truyền thống, tức làvẫn phải giảng bình khi thấy cần thiết Cần có sự phối hợp đúng lúc và chặtchẽ giữa hai phương pháp trong quá trình dạy học
Trong thực tế, vai trò của thầy cô trên lớp học là đặc biệt Tại sao lại nóinhư vậy? Chúng ta có thể thấy rằng việc tổ chức lớp học thành công haykhông phụ thuộc chính vào thầy cô giáo
Không phải lúc nào đặt vấn đề và giải quyết vấn đề cũng trôi chảy, suông
sẻ Học sinh THCS đang ở độ tuổi diễn biến tâm sinh lí vô cùng phức tạp,môn Ngữ văn lại mang tính đặc thù vì vậy giáo viên gặp nhiều khó khăn trongquá trình tổ chức, thực hiện quá trình dạy học Lúc này đây mới thấy đượcrằng những thầy cô giáo dạy văn không chỉ là kĩ sư mà còn là một một nhàtâm lí học, một nghệ sĩ sân khấu học đường
2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài :
Hiện nay, nhiều người làm công tác giáo dục, nhiều giáo viên môn Ngữvăn đặt câu hỏi về vấn đề “Làm thế nào để học sinh yêu thích môn Ngữ văn?
Trang 4Vì sao học sinh không thích học văn? ” Vấn đề được nói đến khá nhiềutrong các hội thảo chuyên môn, trên báo chí và mạng thông tin nhưng vẫnchưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng, phần lớn mỗi giáo viên đi theo cách riêngcủa mình
Chương trình Ngữ văn THCS lượng kiến thức tương đối nhiều, có nhiềubài học khô khan, nặng nề và không phù hợp với độ tuổi học sinh Trongtrường hợp này, tôi đã linh động sử dụng phối hợp các tranh ảnh, các videohoặc sơ đồ tư duy, thang kiến thức để các em đỡ nhàm chán, dễ tiếp nhận kiếnthức hơn
Việc dạy học Ngữ văn còn nặng về lí luận Ít liên hệ thực tế, kém sinhđộng Các nội dung tích hợp còn cứng nhắc Khi liên hệ thực tế hay tích hợptôi đã cụ thể hóa bằng những dẫn chứng tiêu biểu, có thể kiểm chứng được,thậm chí là trực quan
Trong quá trình ra đề kiểm tra cần xác định đề theo hướng mở Tùy theonăng lực của học sinh tôi đã thực hiện ra đề ở dạng này, các em đã có sự độngnão, tư duy tích cực
Trả bài là hoạt động quan trọng mà nhiều giáo viên coi nhẹ Giáo viênchấm và nhận xét bài thật kĩ của từng học sinh rồi mới trả bài cho các em, đểcác em tự nhận xét đánh giá mức độ của bài làm Từ đó xác định cái được vàchưa được trong bài làm để tìm ra hướng giải quyết tiếp theo
Các bước cần thiết để có một giờ dạy học Ngữ văn thành công phải cụthể như sau:
- Chuẩn bị: Đây là khâu quan trọng nhất
+ Đối với giáo viên: Dặn dò và giao nhiệm vụ cụ thể cho lớp học (tổ,nhóm) về nội dung của tiết học tiếp theo đúng theo phân phối chương trình
Để làm được điều này giáo viên phải soạn câu hỏi của bài học trên cơ sở câuhỏi trong SGK để giao cho học sinh trả lời, đồng thời đưa ra trước một sốphương pháp dạy học phù hợp với bài học để việc phân bố lớp học hợp lí vàhiệu quả trong buổi học sau
+ Đối với học sinh: Chuẩn bị theo yêu cầu của giáo viên, lớp trưởng (tổtrưởng, nhóm trưởng) nhận nhiệm vụ được giao và triển khai cụ thể cho từngthành viên lớp học
- Thực hiện hoạt động: Dựa vào tiến trình dạy học trên lớp giáo viên thựchiện các nội dung cụ thể nhưng phải đáp ứng những vấn đề sau:
+ Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh có thể bằng các hình thức khác nhau
để nắm được mức độ học sinh thâm nhập vào bài học, số lượng học sinh thực
Trang 5hiện theo yêu cầu của giáo viên là bao nhiêu để có thể linh động trong việchướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động.
+ Giáo viên hướng dẫn để học sinh triển khai vấn đề, giải quyết vấn đềrồi đi đến kết luận, hướng dẫn cho học sinh thực hiện trên cơ sở của khâuchuẩn bị trước đó Học sinh vẫn là tâm điểm của giờ học văn
- Tiến hành kiểm tra, đánh giá: Đây là khâu cuối cùng quyết định sựthành công hay thất bại của người giáo viên trong quá trình tổ chức lớp học
Có nhiều hình thức để kiểm tra kết quả đạt được của các em sau một giờ họcvăn
+ Kiểm tra bằng hình thức vấn đáp được thực hiện nhiều nhất, thường làgiáo viên hỏi học sinh trả lời để kết luận và đánh giá, điều này đồng nghĩa vớiviệc học sinh ở trong tư thế bị động Thực ra chúng ta có thể để người họccũng chính là người hỏi và trả lời Học sinh được chất vấn và tranh luận, kếtluận, nhận xét Giáo viên tập trung quan sát và tổng hợp các vấn đề mà họcsinh đã giải quyết, làm chủ quỹ thời gian, nhận xét và đánh giá chung Trongtrường hợp này học sinh sẽ cảm thấy mình thực sự “có ích” về những đónggóp chân thành của các em đối với lớp học
+ Có thể kiểm tra học sinh bằng hình thức viết Ở đây, học sinh khôngviết theo nội dung mà giáo viên yêu cầu Nhưng giáo viên phải hướng dẫncho các em xác định nội dung (phần) nào là quan trọng và quan trọng nhất,các em phải thích nội dung đó thì mới có cảm xúc và hứng thú để nhảy múatrên trang giấy của mình Học sinh trao đổi bài lẫn nhau để chỉ ra cái đúng,hay và sáng tạo trong bài của bạn, các lỗi còn thiếu trong bài làm đều phải ghinhận và sửa chữa nhưng không đặt nặng, nên nhớ rằng chúng ta đang kiểm tracái đạt được của học sinh
II Nội dung nghiên cứu:
1 Thực trạng và nguyên nhân học sinh không yêu thích môn Ngữ văn THCS:
Muốn xác lập hệ thống các phương pháp dạy học Ngữ văn trước tiên tacần xác định nội dung môn học, xác định các hoạt động cơ bản để đạt đượckết quả của môn học rồi từ đó mới xác định các phương pháp cụ thể đặc thù
bộ môn Phương pháp dạy học Ngữ văn phụ thuộc vào đặc trưng của bộ môn.Với ba phân môn trong chương trình Ngữ văn THCS gắn liền với banguyên nhân làm cho học sinh nhàm chán môn học này:
- Thứ nhất với phân môn Văn: Nhiều học sinh ngồi trong lớp nhưng tản
mạn không chú ý, ngồi nhìn lên bảng nhưng khô hạn cảm xúc do các em chưa
Trang 6thực sự nắm được tác phẩm: về thời đại văn học, thời đại lịch sử, về tác giả,nội dung của tác phẩm trong mối tương quan với đời sống con người…
- Thứ hai với phân môn Tiếng Việt: Với phân môn này đòi hỏi một giờ
học sinh động với các phương pháp dạy học mới, hình ảnh trực quan sinhđộng, bài tập đưa ra cụ thể và phải giải quyết triệt để để cuốn học sinh vào bàihọc Đôi khi chúng ta quen với việc giảng dạy đều đều cả ba phân môn,phương pháp dùng chung, cách thức chung nên hiệu quả tiết học đem lại cònchưa thỏa đáng
- Thứ ba với phân môn Làm văn: Đa phần học sinh không xác định đúng
chắc chắn yêu cầu của đề bài nêu ra, điều này ngay cả với học sinh giỏi cũnghay mắc phải Bên cạnh đó việc giúp các em khắc phục những lỗi sai vẫnchưa được quan tâm đúng mực đã làm cho học sinh không biết được những gìsai sót và còn thiếu trong bài làm vì vậy việc dễ nản chí là vấn đề không tránhkhỏi ở học sinh
Với những nguyên nhân này, ta có thể sử dụng đồng bộ các phương phápdạy học, sử dụng đồng bộ hiệu quả sơ đồ tư duy, trò chơi, hình ảnh trực quan.Cần có sự phối hợp đúng lúc và chặt chẽ giữa hai phương pháp dạy học lấyngười học làm trung tâm nhưng vẫn sử dụng phương pháp giảng bình khi cầnthiết
2 Biện pháp giúp học sinh lớp 9 yêu thích môn Ngữ văn
2.1 Về phân môn Văn:
Với một giờ học văn, việc chuẩn bị trước đó để đi đến khởi động cho tiếthọc có vai trò quan trọng Một trò chơi để đi vào bài học mới sẽ giúp các emgiảm căng thẳng mệt mỏi đối với bài học mới
Hoặc ngay ở bước đầu tiên của thao tác dạy học đọc - hiểu giáo viên cầnthiết sử dụng phương pháp đọc sáng tạo nhằm mục đích hướng học sinh có sựvận động kết hợp của tư duy logic, tư duy hình tượng, tình cảm, giọng đọc,thậm chí cả điệu bộ; học sinh có thể nhập vai, tái tạo hình tượng nghệ thuật,hiểu tác giả, hiểu giá trị nội dung nghệ thuật của văn bản một cách chân xác.Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh theo hệ thống câu hỏi giáo viên đãgiao cho các em trước đó, kiểm tra xem hệ thống kiến thức văn bản đã đượccác em xây dựng thông qua sơ đồ tư duy chưa Với những sơ đồ tư duy đãđược vẽ, giáo viên có thể chọn một sơ đồ để các học sinh làm mẫu, học sinhđược chọn sơ đồ làm mẫu nhiều lần giáo viên sẽ có những hình thức khuyếnkhích khen thưởng tùy theo tình hình lớp học
Phần lớn học sinh trong thời đại công nghệ số không quan tâm đến vấn
đề lịch sử Chính vì vậy đối với một số tác phẩm văn học gắn liền với hoàn
Trang 7cảnh lịch sử của từng thời kì, giáo viên cần giúp các học sinh dựng lại hoàncảnh đó để hiểu được tác giả, ý đồ sáng tác, dễ thâm nhập vào tác phẩm Khihiểu được vấn đề trong mỗi tác phẩm các em sẽ thích thú với tiết học hơn Ởvấn đề này giáo viên có thể sử dụng các slide hình ảnh để trình chiếu kết hợpvới phương pháp dùng lời có nghệ thuật, phương pháp vấn đáp gợi tìm để đivào tìm hiểu các vấn đề trọng tâm của tác phẩm
Bài kiểm tra kiến thức học sinh và kết quả điểm số chính là thước đochuẩn để đánh giá được mức độ tiếp nhận của các em Tuy nhiên giáo viênthường sử dụng phương pháp này với tính áp đặt, nên để học sinh lựa chọnvấn đề kiểm tra trong giới hạn tác phẩm đã học (đó là vấn đề yêu thích), giáoviên cần giúp các em định hướng nội dung, vấn đề nào là trọng tâm để sự lựachọn được chuẩn xác, học sinh lại hào hứng với vấn đề được lựa chọn đểkiểm tra
2.1.2 Biện pháp hỗ trợ hợp tác:
* Phần khơi gợi:
Bài tập 1: Văn bản “Ánh trăng” – Nguyễn Duy.
Cho trình chiếu các slide hình ảnh, đặt câu hỏi để học sinh thực hiện đivào bài mới:
Câu hỏi:
- Các hình ảnh nói đến những địa danh nào trong bài thơ ?
- Ta thấy hình ảnh này người lính đang đứng ở đâu?
GV giới thiệu văn bản “Ánh trăng ”, người lính đang ở hiện tại nhớ vềqua khứ
Trang 8Trên cơ sở sự chuẩn bị của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi giáo viênchuẩn bị trước về văn bản và sơ đồ tư duy giáo viên phân mỗi nhóm học sinhtrong lớp đảm nhận một phần nội dung (4 nhóm); nhóm 1 hỏi nhóm 2, nhóm
2 hỏi nhóm 3, nhóm 3 hỏi nhóm 4 và nhóm 4 hỏi nhóm 1, mỗi thành viêntrong các nhóm lần lượt trả lời câu hỏi GV nhận xét và chốt lại kiến thức chohọc sinh
*Liên tưởng:
Bài tập 2: Văn bản “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Vận dụng phương pháp dạy học đọc - hiểu trong dạy học cảm thụ bài thơ
“Sang thu” của Hữu Thỉnh.
- Thứ nhất: Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu bài thơ
- Thứ hai: Hướng dẫn học sinh thực hành tìm hiểu mối quan hệ giao tiếpgiữa tác giả với đối tượng giao tiếp được nói đến trong bài, giữa tác giả vớiđộc giả, với nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp, mụcđích giao tiếp
- Thứ ba: Hướng dẫn học sinh đánh giá mức độ phù hợp của cách lựachọn ngôn ngữ hình ảnh với hoàn cảnh nội dung, mục đích giao tiếp; hóa thânvào tác giả nhân vật trong tác phẩm để hiểu tâm tư tình cảm, điều mà tác giảnhân vật muốn gửi gắm qua văn bản
- Thứ tư: Hướng dẫn học sinh rút ra những nhận định về giá trị nội dung
và nghệ thuật tư tưởng chủ đề của tác phẩm của bài thơ Đó chính là điều màthơ biểu đạt được thông qua ngôn ngữ hình tượng thơ
Trang 9- Thứ năm: Hướng dẫn học sinh thực hành vận dụng tạo lập một văn bảnnói lên những suy nghĩ của cá nhân về giá trị bài thơ, tác giả bài thơ Học sinh
có thể lựa chọn nội dung mình yêu thích để có cảm hứng tạo lập, trình bày,giáo viên ghi nhận cái đạt được của học sinh trong sản phẩm
*Gọi ngôn ngữ - gọi hình tượng
Bài tập 3: Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của
G.Marquez
- Thứ nhất: Giáo viên gợi dẫn cho học sinh tìm hiểu văn bản thông qua
hệ thống câu hỏi, chuẩn bị thông tin tham gia vấn đáp:
Câu văn “Từ khi mới nhen nhóm sự sống trên trái đất đã phải qua 380 triệu năm con bướm mới bay được, rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở chỉ để làm đẹp mà thôi, cũng đã phải trải qua 4 kỷ địa chất con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu” Những giả thuyết nào được đặt ra
để chống lại chiến tranh hạt nhân? Mà chống chiến tranh bằng cái gì? Suynghĩ của học sinh về vấn đề chiến tranh hạt nhân? Vấn đề được đặt ra cómang tính chính trị khô khan hay không?
Giáo viên cho học sinh thảo luận: Chống chiến tranh bằng con bướm,bằng tiếng chim, chống bằng tình yêu trai gái Nó đầy hình tượng Tạo hóaphải lao lực, phải đem hết tài năng ra thì cũng mất hàng trăm triệu năm mớilàm thành con bướm Tạo hóa phải mất thêm gần 200 triệu năm nữa rồi mớilàm ra được bông hồng Và mất thêm cả trăm triệu năm nữa mới làm ra đượctiếng hát, mới làm ra được tình yêu của con người Thế nhưng con người chỉcần một cái bấm nút là xóa sạch 14 lần trái đất Hiện nay nếu tất cả bom hạtnhân nổ thì gần như toàn bộ thái dương hệ bị nổ tung Tạo hóa mất hàng trămtriệu năm còn con người chỉ mất một cái bấm nút trong tích tắc là đã xóasạch Điều này đi ngược lại với tự nhiên, với lí trí của con người nhưng những
kẻ hiếu chiến vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng gây hấn tạo ra chiến tranh hủydiệt thế giới loài người, nhân loại không chỉ trở về thời kì đồ đá mà là về với
số không, với hư vô Còn cái gì khô khan hơn đề tài “Chống vũ khí hạtnhân”? Đây chắc chắn sẽ là một bài đầy tính giảng giải, đầy tính thuyết minh
và những kêu gọi đầy tính chính trị Nhưng chính vì ngôn ngữ văn chương nóibằng hình tượng nên tác giả đã khá thành công trong việc lấy cảm xúc củađộc giả ở các giai đoạn lịch sử khác nhau
Giáo viên chuẩn bị các tài liệu tranh ảnh, phim tài liệu hỗ trợ cho vấn đềchiến tranh hạt nhân được đặt ra trong tác phẩm
- Thứ hai: Giáo viên đưa ra vấn đề vấn đáp: Thái độ cụ thể của học sinhđối với vấn đề chiến tranh hạt nhân
Trang 10Học sinh suy nghĩ trả lời, đây là vấn đề mở nên các đáp án đưa ra đềuđược chấp nhận Giáo viên nhận xét, nêu quan điểm cụ thể (đặc biệt là phảilàm rõ được văn học nói bằng hình tượng), chốt vấn đề.
- Thứ ba: Giáo viên nhận xét và hệ thống hóa toàn bộ nội dung kiến thứcbài học Kiểm tra phần hệ thống hóa kiến thức của học sinh bằng sơ đồ tưduy
2.2 Về phân môn Tiếng Việt:
Nói rằng “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” quả làkhông sai Ấy vậy mà đi vào thực tế giảng dạy phân môn Tiếng Việt học sinh
dễ dàng tiếp cận và nắm kiến thức hơn so với phân môn Văn và Làm văn nếunhư người dạy tổ chức một lớp học sinh động, đúng đặc thù của phân mônTiếng Việt
- Cũng như phân môn Văn, giáo viên cần chú trọng đến khâu chuẩn bịcho cả thầy và trò trong phân môn này Tuy nhiên, việc khai thác sơ đồ tư duyđóng vai trò chủ đạo trong chuẩn trong việc chuẩn bị bài học mới của họcsinh Các em sẽ khai thác được nội dung bài học mà không phụ thuộc hoàntoàn vào các loại sách hướng dẫn bán tràn lan trên thị trường
- Trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học giáo viên cần lưu ýđến phương pháp dạy học theo định hướng giao tiếp và phương pháp rènluyện theo mẫu, phương pháp phân tích ngôn ngữ Các phương pháp này giúphọc sinh phát triển đủ các kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết, học sinh sẽ cảmthấy hấp dẫn hứng thú hơn bởi nội dung học tập được gắn liền với thực tiễnđời sống
*Biện pháp kích thích:
Bài tập 4: Từ và cấu tạo từ tiếng Việt, lớp 6.
Vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ khi dạy khái niệm “Từ đơn
từ phức” giáo viên có thể tiến hành như sau:
- Thứ nhất: Giáo viên giới thiệu ngữ liệu cần phân tích trong nội dunghọc tập:
+ Từ đơn: ăn, uống, ngủ, bàn, ghế, tủ, quần, áo, sách, tốt, xấu, xanh, đỏ…
+ Từ phức: ăn uống, bàn ghế, tốt đẹp, long lanh, tốt đẹp…
- Thứ hai: Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu theo định hướng củanội dung bài học (phân tích, nhận xét về số lượng tiếng trong từ, quan hệ giữacác tiếng trong từ (về âm, về nghĩa)
Trang 11- Thứ ba: Hướng dẫn học sinh tự nhận xét, hình thành kết luận về cáckiểu cấu tạo từ; giáo viên sửa chữa và có kết luận cuối cùng chính xác về cáckhái niệm đó.
Có thể hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ nhánh:
Từ ghép: quan
hệ về nghĩa
- Thứ tư: Hướng dẫn học sinh củng cố và vận dụng lí thuyết vào việcluyện tập phân tích một số hiện tượng ngôn ngữ tương ứng Ví dụ cho học
sinh nhận diện cấu tạo của từ trong câu: Cô giáo như mẹ hiền (Câu này có bao
nhiêu từ? Nhận xét về số lượng tiếng trong các từ và mối quan hệ giữa các
Trang 12tiếng trong từ?) Hoặc giáo viên cho học sinh đặt câu (theo chủ đề) và yêu cầunhận diện cấu tạo từ trong câu các em vừa thực hành.
2.3 Về phân môn làm văn:
Trong môn học Ngữ văn ở trường THCS, phân môn Làm văn thườngđem đến nhiều khó khăn đối với học sinh Các em không xác định được cácyêu cầu của đề, chưa nắm được điểm mấu chốt ở từng kiểu bài, không biếtmình đúng - sai chỗ nào và bản thân phải làm gì tiếp theo đã làm cho các em engại môn học và nhàm chán
- Đối với các kiểu bài làm văn trong chương trình Ngữ văn THCS giáo viêncần xác định rõ cho học sinh, phân biệt rạch ròi để tránh sự nhầm lẫn trongviệc xác định các kiểu bài Ở vấn đề này giáo viên có thể sử dụng chiếc thangkiến thức
- Tiếp theo đó là việc xác định các yêu cầu của đề bài, vận dụng sơ đồ tư duy
ở phần này là hợp lí Giáo viên hướng dẫn cho học sinh xác định từ khóa của
đề bài nêu ra và sau đó vẽ sơ đồ Công việc cuối cùng của cả thầy và trò là trảbài kiểm tra Giáo viên cần quan tâm nhiều hơn đến tiết trả bài Giống nhưmọi hoạt động học tập khác, việc chữa bài sẽ trở nên cuốn hút, hấp dẫn khihọc sinh phải động não chứ không chỉ đơn thuần nghe và chép câu trả lờiđúng Khi đó việc tiếp thu những kiến thức mới sẽ trở nên dễ dàng, thú vị vàlôi cuốn Điều này cũng làm cho học sinh nhận thấy được mình có thể rútkinh nghiệm từ những lỗi sai trong bài kiểm tra
- Tự chữa bài sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong quá trình học cũngnhư khuyến khích ý thức tự lập của các em Cả học sinh khá lẫn học sinh yếuđều có thể làm việc theo tốc độ của riêng của mỗi người mà lại không làm ảnhhưởng đến hiệu suất làm việc của cả lớp Khi đó chắc chắn học sinh sẽ có thái
độ tích cực hơn với những bài viết làm văn
* Biện pháp ghi nhớ:
Bài tập 5: Phương thức biểu đạt, Ngữ văn 6.
Sau khi hướng dẫn học sinh nắm kiến thức về văn bản và mục đích giaotiếp, giáo viên định hướng cho các em nắm vấn đề cơ bản về các phương thứcbiểu đạt chính (các kiểu bài chính) thông qua thang kiến thức Yêu cầu họcsinh xác định nội dung từng vấn đề và điền vào