1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luan van cai cach thu tuc hanh chinh theo co che mot cua, mot cua lien thong

120 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Theo Cơ Chế “Một Cửa”, “Một Cửa Liên Thông” Tại Ủy Ban Nhân Dân Cấp Phường Tại Quận Nam Từ Liêm
Tác giả Bùi Kim Cúc
Người hướng dẫn GS.TS. Đinh Văn Mậu
Trường học Học viện hành chính quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 127,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cải cách hành chính là một yêu cầu có tính khách quan, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà những đòi hỏi của người dân ngày càng cao về một nền hành chính phục vụ. Theo đó, cải cách hành chính được tiến hành trên các mặt: thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính. Mục tiêu nhằm hướng tới xây dựng một nền công vụ hiện đại, chuyên nghiệp, năng động và hiệu quả. Nội dung quan trọng của cải cách hành chính là cải cách thủ tục hành chính, được coi là “đột phá khẩu”, nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính tối đa, tránh rườm rà gây lãng phí về kinh tế, thời gian và tìm ra được cách thức tổ chức, quy trình thực hiện các thủ tục hành chính một cách tối ưu nhất. Đối với bất cứ nền hành chính nào, thủ tục hành chính là công cụ không thể thiếu để điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước với công dân, tổ chức được đưa vào trật tự cần thiết. Do trước đây chúng ta chưa thực sự chú trọng vấn đề này nên tuy đã đề cập đến cải cách thủ tục hành chính nhưng đến nay thủ tục hành chính vẫn là một trong những nguyên nhân gây ách tắc, kìm hãm các hoạt động kinh tế xã hội, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân, cũng như sự hoạt động nhịp nhàng của bộ máy hành chính nhà nước và điều đáng ngại là tệ nạn đó làm giảm lòng tin của nhân dân vào đảng, nhà nước và chế độ. Nhận thức rõ những bất cập của thủ tục hành chính là khiếm khuyết lớn trong nền hành chính nhà nước,từ năm 1992 Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 220CTTTTg về việc quy định một số điểm trong quan hệ làm việc tại các ban ngành. Tiếp đó ngày 451994 chính phủ ban hành Nghị quyết 38NQCP về cải cách một số bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Mục đích là đẩy mạnh hơn nửa trong quá trình cải cách thủ tục hành chính. Nội dung của Nghị quyết một mặt yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục thực hiện chỉ thị nói trên mặt khác đòi hỏi các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương theo thẩm quyền của mình rà soát, xem xét lại toàn bộ những thủ tục hành chính đang áp dụng để giải quyết công viêc của công dân và tổ chức. Việc thực hiện cải cách TTHC theo mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” tại các cơ quan HCNN, đặc biệt là cấp quận và cấp phường là một trong những yêu cầu cấp thiết trong việc thực hiện Chương trình tổng thể CCHC của Chính phủ. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả thực hiện từ đó đề ra các giải pháp quản lý chất lượng mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” tại UBND cấp quận, phường có ý nghĩa quan trọng và thiết thực. Ngày 0492003, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1812003TTg về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với các cơ quan HCNN. Sau đó Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 222006QĐTTg ngày 24012006 về việc giao nhiệm vụ xử lý các vướng mắc, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp về TTHC; Quyết định số 932007QĐTTg ban hành Quy chế thực hiện mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông liên thông” tại các cơ quan hành chính trong cả nước; Quyết định 092015QĐTTg ngày 2532015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Và UBND thành phố Hà Nội cũng ban hành Quyết định 072016QĐUBND ngày 0832016 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy định thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức tại các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội. Việc chọn cấp phường tại UBND quận Nam Từ Liêm làm địa bàn khảo sát và đánh giá thực trạng mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” để thực hiện luận văn này, tác giả còn có những lý do như sau: Thứ nhất, quận Nam Từ Liêm là quận đầu tiên trên địa bàn Hà Nội thực hiện liên thông các thủ tục hành chính. Đây là một quận mới còn non trẻ, được thành lập từ khi chia tách huyện Từ Liêm thành hai quận Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm. Là một quận có số dân không đông, trình độ dân trí khá đồng đều và đặc biệt số lượng hồ sơ TTHC tại đây cũng khá phức tạp và tương đối nhiều. Vì vậy việc áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại UBND các phường sẽ không tránh khỏi những hạn chế, bất cập về thái độ ứng xử của công chức với người dân, thời gian rả kết quả còn trễ hẹn, sự phối hợp giữa bộ phận “Một cửa” với một số cơ quan, phòng ban cùng cấp hoặc cấp quận chưa được thông suốt… mặc dù quận Nam Từ Liêm đã và đang được đánh giá là đơn vị đi đầu trong tiến trình thực hiện CCHC trong toàn thành phố. Thứ hai, tác giả hiện nay đang làm việc tại bộ phận một cửa của UBND phường Mỹ Đình 1 – là một trong mười phường thuộc quận Nam Từ Liêm nên việc thực hiện luận văn này tương đối thuận lợi, các số liệu được thống kê, khảo sát sát có tính thực tế và chính xác, đồng thời luận văn không chỉ là kết quả hoàn thành nhiệm vụ học tập mà còn đóng góp phần một phần nhỏ bé trong quá trình thực hiện CCTTHC tại địa phương. Với những lý do trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu: “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại UBND cấp xã tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI KIM CÚC

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO

CƠ CHẾ “MỘT CỬA”, “MỘT CỬA LIÊN

THÔNG”

TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP PHƯỜNG

TẠI QUẬN NAM TỪ LIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI KIM CÚC

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO

CƠ CHẾ “MỘT CỬA”, “MỘT CỬA LIÊN

THÔNG”

TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP PHƯỜNG

TẠI QUẬN NAM TỪ LIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 38 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS ĐINH VĂN MẬU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ đề tài "Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân cấp Phường tại quận Nam Từ Liêm" là công trình nghiên cứu của bản thân tôi

cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn khoa học Các số liệu trongluận văn là khách quan, trung thực, dựa trên kết quả nghiên cứu, thu thập tàiliệu và các số liệu đã được công bố

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2016

Tác giả

Bùi Kim Cúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Lãnh đạo, giảng viên và toàn thể cán

bộ, viên chức đang công tác tại Học viện hành chính quốc gia Nhờ sự giảngdạy và hướng dẫn tận tình của thầy cô đã giúp tôi tiếp cận, cập nhật, bổ sungnhững kiến thức quý báu, phục vụ tốt cho việc nghiên cứu cũng như công tácchuyên môn của bản thân

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến GS,TSĐinh Văn Mậu, người thày đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để truyền đạtcho tôi kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu, trình bày đề tài khoa học vớitinh thần trách nhiệm cao Thầy luôn hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quátrình nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo phường Mỹ Đình 1 và quậnNam Từ Liêm và bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiệnthuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2016

Học viên

Bùi Kim Cúc

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

- CCHC:

- CCTTHC :

Cải cách hành chínhCải cách thủ tục hành chính

- CB, CC: Cán bộ, công chức

- GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- TN&MT: Tài nguyên và Môi trường

- TTHC: Thủ tục hành chính

- UBND: Ủy ban nhân dân

- VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”, “MỘT CỬA LIÊN THÔNG” CẤP PHƯỜNG 10

1.1.Một số khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Khái niệm cải cách và cải cách hành chính 10

1.1.2 Khái niệm thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính 12

1.1.3 : Cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông” 19

1.2 Căn cứ pháp lý 21

1.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông” 21

1.2.2 Phạm vi áp dụng cơ chế“Một cửa”, “Một cửa liên thông” 27

1.2.3 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 28

1.3 Vai trò và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” 36

1.3.1 Vai trò cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên

thông” 36

1.3.2 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” là yêu cầu bức thiết của nước ta trong giai đoạn hiện nay 38

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”, “MỘT CỬA LIÊN THÔNG” TẠI UỶ BAN NHÂN CẤP PHƯỜNG, QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43

2.1 Khái quát đặc điểm tình hình quận Nam Từ Liêm 43

Trang 7

2.2 Thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửaliên thông” tại UBND Phường, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội44

2.1.1 Chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”

“một cửa liên thông” tại UBND quận Nam Từ Liêm 44

2.2.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Bộ phận “một cửa” tại UBND các

phường, quận Nam Từ Liêm 48

2.2.3 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên

thông” tại UBND phường, quận Nam Từ Liêm 52

2.2.4 Đánh giá chung về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một

cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân cấp phường, quận Nam Từ Liêm75 Tiểu

kết chương 2 87 Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”,“MỘT CỬA LIÊN THÔNG” TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP PHƯỜNG, QUẬN NAM TỪ LIÊM 88

3.1 Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính theo cơchế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại UBND phường, quận Nam Từ Liêm 88

3.1.1 Chỉ đạo thống nhất việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” 92

3.1.2 Xác định rõ vị trí, vai trò của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong

việc giải quyết thủ tục hành chính 95

3.1.3 Phân công trách nhiệm các ban, ngành, bộ phận chuyên môn trong việc thực

hiện cơ chế “một cửa” “một cửa liên thông” 96

3.1.4 UBND quận Nam Từ Liêm và UBND các phường quan tâm chỉ đạo, không

ngừng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế mới 97

3.2 Các giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “mộtcửa”, “một cửa liên thông” tại UBND quận Nam Từ Liêm 98

3.2.1 Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế phối hợp của các bộ

phận, phòng ban thuộc UBND cấp quận và phường 98

Trang 8

3.2.2 Lãnh đạo UBND quận cần chỉ đạo rà soát lại quy trình giải quyết thủ tục hành

chính của cấp phường theo hướng mỗi thủ tục hành chính chỉ giao cho mộtcấp

giải quyết 99

3.2.3 Xác định lại số lượng hợp lý các thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế

“một cửa”, “một cửa liên thông” 100

3.2.4 Đơn giản hóa hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, mẫu hóa

một số giấy tờ của thủ tục hành chính 102

3.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách chế độ tiền lương và

các chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm việc ở Bộ phận “một cửa” 104

3.2.6 Xây dựng bộ tiêu chí để giám sát, đánh giá hiệu quả làm việc của cán bộ công

chức ở Bộ phận “một cửa” các phường 106

3.2.7 Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục

hành chính 108

3.2.8 Học tập, trao đổi kinh nghiệm điều hành hoạt động của Bộ phận “một cửa”,

“một cửa liên thông” với một số địa phương 110

KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 64Bảng 2.2 67Bảng 2.3 Ý kiến của công chức về việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại Mộtcửa và Một cửa liên thông 69Bảng 2.4 Ý kiến của công dân về việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại Mộtcửa và Một cửa liên thông 70

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Cải cách hành chính là một yêu cầu có tính khách quan, đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay, khi mà Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà nhữngđòi hỏi của người dân ngày càng cao về một nền hành chính phục vụ Theo

đó, cải cách hành chính được tiến hành trên các mặt: thể chế, thủ tục hànhchính, tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, tài chính công,hiện đại hóa nền hành chính Mục tiêu nhằm hướng tới xây dựng một nềncông vụ hiện đại, chuyên nghiệp, năng động và hiệu quả Nội dung quan trọngcủa cải cách hành chính là cải cách thủ tục hành chính, được coi là “đột phákhẩu”, nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính tối đa, tránh rườm rà gâylãng phí về kinh tế, thời gian và tìm ra được cách thức tổ chức, quy trình thựchiện các thủ tục hành chính một cách tối ưu nhất

Đối với bất cứ nền hành chính nào, thủ tục hành chính là công cụkhông thể thiếu để điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước với công dân, tổchức được đưa vào trật tự cần thiết Do trước đây chúng ta chưa thực sựchú trọng vấn đề này nên tuy đã đề cập đến cải cách thủ tục hành chínhnhưng đến nay thủ tục hành chính vẫn là một trong những nguyên nhân gâyách tắc, kìm hãm các hoạt động kinh tế- xã hội, việc thực hiện các quyền vànghĩa vụ của công dân, cũng như sự hoạt động nhịp nhàng của bộ máyhành chính nhà nước và điều đáng ngại là tệ nạn đó làm giảm lòng tin củanhân dân vào đảng, nhà nước và chế độ

Nhận thức rõ những bất cập của thủ tục hành chính là khiếm khuyếtlớn trong nền hành chính nhà nước,từ năm 1992 Thủ tướng chính phủ đãban hành chỉ thị 220/CTT-TTg về việc quy định một số điểm trong quan hệlàm việc tại các ban ngành Tiếp đó ngày 4/5/1994 chính phủ ban hànhNghị quyết 38/NQ-CP về cải cách một số bước thủ tục hành chính trongviệc giải quyết công việc của công dân và tổ chức Mục đích là đẩy mạnh

10

Trang 11

hơn nửa trong quá trình cải cách thủ tục hành chính Nội dung của Nghịquyết một mặt yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục thực hiệnchỉ thị nói trên mặt khác đòi hỏi các cơ quan nhà nước từ trung ương đếnđịa phương theo thẩm quyền của mình rà soát, xem xét lại toàn bộ nhữngthủ tục hành chính đang áp dụng để giải quyết công viêc của công dân và tổchức.

Việc thực hiện cải cách TTHC theo mô hình “một cửa”, “một cửaliên thông” tại các cơ quan HCNN, đặc biệt là cấp quận và cấp phường làmột trong những yêu cầu cấp thiết trong việc thực hiện Chương trình tổngthể CCHC của Chính phủ Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả thựchiện từ đó đề ra các giải pháp quản lý chất lượng mô hình “một cửa”, “mộtcửa liên thông” tại UBND cấp quận, phường có ý nghĩa quan trọng và thiếtthực

Ngày 04/9/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định181/2003/TTg về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối vớicác cơ quan HCNN Sau đó Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyếtđịnh số 22/2006/QĐ-TTg ngày 24/01/2006 về việc giao nhiệm vụ xử lý cácvướng mắc, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp về TTHC; Quyếtđịnh số 93/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế thực hiện mô hình “một cửa”,

“một cửa liên thông liên thông” tại các cơ quan hành chính trong cả nước;Quyết định 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ banhành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hànhchính nhà nước ở địa phương Và UBND thành phố Hà Nội cũng ban hànhQuyết định 07/2016/QĐ-UBND ngày 08/3/2016 của UBND thành phố Hà Nội

về việc ban hành Quy định thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liênthông trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức tại các cơ quan hànhchính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội

Việc chọn cấp phường tại UBND quận Nam Từ Liêm làm địa bànkhảo sát và đánh giá thực trạng mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông”

Trang 12

để thực hiện luận văn này, tác giả còn có những lý do như sau:

Thứ nhất, quận Nam Từ Liêm là quận đầu tiên trên địa bàn Hà Nội

thực hiện liên thông các thủ tục hành chính Đây là một quận mới còn nontrẻ, được thành lập từ khi chia tách huyện Từ Liêm thành hai quận Nam TừLiêm và Bắc Từ Liêm Là một quận có số dân không đông, trình độ dân tríkhá đồng đều và đặc biệt số lượng hồ sơ TTHC tại đây cũng khá phức tạp

và tương đối nhiều Vì vậy việc áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liênthông” tại UBND các phường sẽ không tránh khỏi những hạn chế, bất cập

về thái độ ứng xử của công chức với người dân, thời gian rả kết quả còn trễhẹn, sự phối hợp giữa bộ phận “Một cửa” với một số cơ quan, phòng bancùng cấp hoặc cấp quận chưa được thông suốt… mặc dù quận Nam TừLiêm đã và đang được đánh giá là đơn vị đi đầu trong tiến trình thực hiệnCCHC trong toàn thành phố

Thứ hai, tác giả hiện nay đang làm việc tại bộ phận một cửa của UBND

phường Mỹ Đình 1 – là một trong mười phường thuộc quận Nam Từ Liêm nênviệc thực hiện luận văn này tương đối thuận lợi, các số liệu được thống kê,khảo sát sát có tính thực tế và chính xác, đồng thời luận văn không chỉ là kếtquả hoàn thành nhiệm vụ học tập mà còn đóng góp phần một phần nhỏ bétrong quá trình thực hiện CCTTHC tại địa phương

Với những lý do trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu: “Cải cách thủ tụchành chính theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại UBND cấp xã tạiquận Nam Từ Liêm, Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Ngày 10/01/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số30/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án Đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnhvực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010 (gọi là Đề án 30) Đây là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch cải cách hành chính nhà nướcgiai đoạn 2006- 2010 của Chính phủ, với mục tiêu nhằm bảo đảm sự thốngnhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính; tạo sự

Trang 13

thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủtục hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí Đề

án 30 khẳng định quyết tâm của Chính phủ tiến hành cải cách hành chính nhànước, Đề án 30 là một điểm nhấn để cá nhân, tổ chức, nhà đầu tư trong vàngoài nước có lòng tin vào công cuộc đổi mới của Việt Nam

Nguyễn Xuân Phúc : “ Tiếp tục cải cách hành chính ở Việt Nam thờigian tới” Tạp chí cộng sản tháng 12 năm 2013 Bài nghiên cứu, bàn về đẩymạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, tập trung triển khai dứt điểm cácphương án đơn giản hóa thủ thủ tục hành chính theo nghị quyết 25của Chínhphủ và thực hiện các nhiệm vụ về cải cách thủ tục hành chính thuộc các đề án

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đồng thời với Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm

2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế mộtcửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tạo điều kiệnthuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính

PGS.TS Lê Chi Mai, Từ mô hình "một cửa" một số giải pháp để cảicách dịch vụ hành chính công, thông tin khoa học hành chính, số 3/2005.Nghiên cứu cho thấy, mô hình một cửa là một trong những giải pháp để cảicách dịch vụ hành chính công Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào việc ápdụng mô hình một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước mà tiếp cận với đốitượng chính là cải cách dịch vụ hành chính công

Trần Thị Thanh : “ Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “mộtcửa” tại một số UBND huyện tại tỉnh Quảng Ninh” Luận văn thành côngtrong việc hệ thống cơ sở lý luận về thủ tục hành chính và mô hình một cửa,nhưng phạm vi nghiên cứu rộng đối với nhiều huyện trên địa bàn tỉnh, chưaxác định đối tượng một số chính quyền cụ thể, nên khó áp dụng vào thực tiễnhuyện Thạnh Phú

Trang 14

Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công “ Cải cách thủ tục hànhchính trong lĩnh vực Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm” tác giảChu Thị Thanh Vân nghiên cứu thực trạng thủ tục hành chính trong Quản lýnhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm và đề xuất các giải pháp hoàn thiệnthủ tục trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, hạn chế là không bàn đến cơ chếmột cửa, hướng mà đề tài của luận văn dự định nghiên cứu.

Nguyễn Đăng Vân : “Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cảicách thủ tục hành chính ở Việt Nam” Luận án tiến sỹ, trường đại học Luật,

Hà Nội, năm 2013 Luận án nghiên cứu đánh giá thực trạng Pháp luật doanhnghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành chính, phát hiện nhữngthành công và hạn chế của Pháp luật doanh nghiệp về thủ tục hành chính vềthành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp, đang tác động tích cực và tiêucực đến cải cách thủ tục hành chính và các giải pháp hoàn thiện Pháp luậtdoanh nghiệp

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Ngọc Quả với đề tài "Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng", năm 2014 Luận văn đã đề cập tới một số vấn

đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông, thựctrạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại quận NgôQuyền, thành phố Hải Phòng Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra giải pháphoàn thiện cơ chế một cửa liên thông tại quận Ngô Quyền, thành phố HảiPhòng Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập tới quận NgôQuyền, thành phố Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Sĩ Minh với đề tài "Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa và một cửa liên thông tại Ủy ban nhân cấp quận, thuộc thành phố Cần Thơ", năm 2013 Luận văn đã đề cập tới một

số vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa và cơchế một cửa liên thông, thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chếmột cửa, một cửa liên thông tại cấp quận, thành phố Cần Thơ Đồng thời, luận

Trang 15

văn đã đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông tại cấp quận, thành phố Cần Thơ Đối tượng của luận văn làcác quận, có trình độ kinh tế xã hội tương đối phát triển và đồng đều.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Phùng Việt Hưng với đề tài "Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực hiện chương trình cải cách hành chính ở cấp huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc", năm 2014 Luận văn nêu một cách khái quát về

cải cách hành chính và đánh giá cải cách hành chính ở Việt Nam, thực trạngcông tác đánh giá cải cách hành chính cấp huyện theo tiêu chí tại tỉnh VĩnhPhúc, trong đó có tiêu chí đánh giá bộ phận một cửa cấp huyện Luận văn đưa

ra giải pháp xây dựng và triển khai thực hiện bộ tiêu chí đánh giá thực hiệncải cách hành chính cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn đã đề cập tới đốitượng là cấp huyện, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng nội dung đề cấp đến rộng và ở khíacạnh đánh giá cải cách hành chính

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thu Hoàn với đề tài "Cải cách thủ tục hành chính tại Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Bộ khoa học và công nghệ", năm 2014 Tác giả đề cập đến cải cách thể chế đã tác động đến cải cách

thủ tục hành chính tại Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Bộ Khoa học và côngnghệ, đồng thời đánh giá về cải cách thủ tục trong việc phục vụ người dân

Những nghiên cứu này đã góp phần vào việc hình thành khung lýthuyết về cải cách hành chính và thủ tục hành chính, phân tích lý luận và thựctiễn về cải cách hành chính, thủ tục hành chính nói chung và cải cách thủ tụchành chính theo cơ chế một cửa nói riêng

Các công trình nghiên cứu khoa học này đều đề cập đến cải cáchTTHC theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ở từng lĩnh vực cụ thể,từng địa phương khác nhau Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về cơchế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cấp xã tại UBND quận Nam TừLiêm tiếp cận với những đặc thù của địa phương

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích:

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế “một cửa”, “mộtcửa liên thông” cấp xã tại quận Nam Từ Liêm đáp ứng yêu cầu giải quyếtTTHC cho tổ chức, công dân thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả

3.2.Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về cải cách thủ tụchành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông

- Thống kê số liệu, khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa”,

“một cửa liên thông” tại một số phường quận Nam Từ Liêm trong thời gianqua nhằm đánh giá, rút ra kinh nghiệm, bài học để áp dụng vào thực tiễntrong giai đoạn tiếp theo

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liênthông” đối với UBND cấp xã tại quận Nam Từ Liêm

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thủ tục hành chính cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” UBND cấp xã

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: UBND 05 phường Mỹ Đình 1, Mỹ Đình 2, Trung Văn, Cầu Diễn, Mễ Trì thuộc UBND quận Nam Từ Liêm

- Về thời gian: Từ năm 2014 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận:

Đề tài luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu tài liệu: Một số văn bản quy

Trang 17

phạm pháp luật, tài liệu, giáo trình

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp thống kê được ứng dụng thường xuyên trong thu thập và

xử lý dữ liệu phục vụ nghiên cứu định lượng, đồng thời sử dụng phương phápthống kê để tóm tắt thông tin nhằm hỗ trợ cho việc tìm hiểu rõ vấn đề nghiêncứu Từ đó đưa ra kết luận về nội dung nghiên cứu dựa trên các số liệu vàgiúp cho việc dự báo xu hướng diễn biến của vấn đề cần nghiên cứu trongthời gian tới Cụ thể là thu thập, thống kê những số liệu liên quan đến hoạtđộng “một cửa” và “một cửa liên thông” 05 phường để qua đó đánh giáthực trạng của đề tài

Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng xuyên suốt luận vănnày Tác giả sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp để tìm hiểu, xem xétnhững nghiên cứu trước đây về nội dung liên quan đến đề tài đã được tiếnhành như thế nào, kết quả ra sao Để từ đó rút ra những nhận xét về ưu điểm

và hạn chế trong hoạt nhận và trả kết quả cũng như cơ chế phối hợp giữa

”Một cửa” và sự liên thông các đơn vị khác

So sánh cũng là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong quátrình nghiên cứu đề tài Dựa vào phương pháp so sánh, tác giả tìm ra nhữngđiểm giống nhau và khác nhau của những vấn đề cần nghiên cứu, qua đó giúpcho việc nhận xét, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khoa học và chính xáchơn

Phương pháp phỏng vấn thông qua Bảng hỏi đối tượng là công dân vàcông chức làm việc tại Bộ phận “một cửa” ( Sẽ được mô tả tại phần thực trạngcủa luận văn)

Tóm lại, việc chọn lọc, vận dụng những phương pháp nêu trên vào từngnội dung nghiên cứu sẽ giúp tác giả làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu cũng như

đề xuất những giải pháp khả thi, phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 18

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý, đồng thời, phân tíchđánh giá cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” và “một cửaliên thông”, qua đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cải cách thủ tục hànhchính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” cấp phường tại quậnNam Từ Liêm

Những kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu

về cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế

“một cửa”, “một cửa liên thông” cấp xã nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các Phần Mở đầu; Kết luận; Mục lục; Phụ lục; Danh mục tàiliệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về cải cách TTHC theo cơ chế

“một cửa”, “một cửa liên thông” cấp phường

Chương 2: Thực trạng cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa”, “mộtcửa liên thông” tại UBND cấp phường tại quận Nam Từ Liêm, thành phố

Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện cải cáchTTHC theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ” tại UBND cấpphường tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC

HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”, “MỘT CỬA

LIÊN THÔNG” CẤP PHƯỜNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm cải cách và cải cách hành chính

Cải cách tùy từng cách tiếp cận sẽ hiểu theo các cách khác nhau Theocách hiểu thông thường nhất cải cách là sửa đổi những bộ phận cũ cho thànhhợp lý và đáp ứng yêu cầu khách quan hơn [24, tr 104]

Hành chính học thì cho rằng cải cách là sự sửa đổi căn bản từng phần,từng mặt của đời sống xã hội theo hướng tiến bộ mà không đụng tới nền tảngcủa chế độ xã hội hiện hành [6, tr 58]

Cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏicủa thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàntất trong một thời gian nhất định Cải cách còn có thể hiểu là sự điều chỉnhlớn đối với các cấu trúc chính trị, văn hóa, kinh tế của xã hội, cần phải có sựđồng tình, ủng hộ của các lực lượng xã hội Do đó, cải cách sẽ tạo ra nhữngthay đổi mang tính hệ thống hơn, trên quy mô rộng lớn và toàn diện

Cải cách hành chính nhà nước là một khái niệm của hành chính học

Do sự khác biệt giữa chế độ chính trị, trình độ và giai đoạn phát triển kinh

tế-xã hội của cả nước và cả sự khác biệt trong quan điểm và góc độ nghiêncứu mà giữa các nước khác nhau có những quan niệm khác nhau về cải cáchhành chính

Theo nghĩa rộng: cải cách hành chính nhà nước có thể hiểu là mộtquá trình thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hànhpháp, tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sựhợp tác giữa các bộ phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng vàphối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực, hiệu quả quản lý và các sản phẩm

Trang 20

(dịch vụ hoặc hàng hóa) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức

và thực hiện quyền lực [4]

Hiểu theo nghĩa này, cải cách hành chính là những thay đổi được thiết

kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản

lý của bộ máy nhà nước: Lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức công tác cán bộ,tài chính, chỉ huy, phối hợp kiểm tra, thông tin và đánh giá

Cải cách hành chính là thuật ngữ được sử dụng để chỉ quá trình cải biến

có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung củanền hành chính nhà nước (thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức,tài chính công) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của mộtnền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại [6]

Tuy nhiên, qua tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau có thể thấy cáckhái niệm về cải cách hành chính được nêu ra có một số điểm thống nhất sau:

Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mụctiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hànhchính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dânđược tốt hơn so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ,khả thi, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộmáy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhànước sau khi tiến hành cải cách hành chính đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đápứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia;

Cải cách hành chính tùy theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn củalịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt

ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặcmột số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ,công chức, thể chế pháp lý, hoặc tài chính công v.v [4]

Nhìn chung, có thể khái quát về cải cách hành chính như sau: Cải cáchhành chính là quá trình thay đổi có chủ đích nhằm hoàn thiện thể chế của nền

Trang 21

hành chính; cơ cấu tổ chức; cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp

và độ ngũ công chức hành chính để nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu quảhoạt động của nền hành chính công phục vụ dân

1.1.2 Khái niệm thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính

Trong hoạt động quản lý, để giải quyết các công việc cần tuân theonhững thủ tục phù hợp Với nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cáchthức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất,gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quảmong muốn

Đối với hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, thủ tục trước hếtđược hiểu là những trình tự được quy định phải tuân theo khi thực hiện côngviệc Trong quan niệm này, có thể hiểu thủ tục cho hoạt động của các cơ quannhà nước tương đối cụ thể về giấy tờ hành chính cần có mà còn là trật tự hoạtđộng của cơ quan nhà nước được quy định

Quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta, hoạtđộng chấp hành và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đượcthực hiện bằng hành động liên tục theo một trình tự nhất định nhằm đạt mụcđích quản lý đã được đề ra Đó là thủ tục quản lý hành chính nhà nước, đượcgọi là thủ tục hành chính

Trong nghiên cứu thủ tục hành chính, có nhiều quan niệm khác nhau vềphạm vi cụ thể của khái niệm thủ tục hành chính

Quan niệm cho rằng, thủ tục hành chính là trình tự mà các cơ quanquản lý nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý viphạm pháp luật

Theo quan niệm khác thì thủ tục hành chính là trình tự giải quyết bất kỳmột nhiệm vụ cá biệt, cụ thể nào trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.Quan niệm này có phạm vi rộng hơn nhưng vẫn chưa thật đầy đủ, hợp lý, bởi

vì ngoài trình tự giải quyết bất kỳ một vụ việc cá biệt, cụ thể nào thì hoạtđộng ban hành các quyết định quản lý mang tính chủ đạo và mang tính quy

Trang 22

phạm cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt những trình tự nhất định nhằm đảm bảotình hợp pháp và hợp lý của các quyết định.

Với nghĩa rộng khẳng định: thủ tục hành chính là trình tự về thời gian

và không gian các giai đoạn cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt độngcủa các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm trình tự thành lập các công sở;trình tự bổ nhiệm, điều động công chức, viên chức; trình tự lập quy, áp dụngquy phạm để bảo đảm quyền chủ thể và xử lý vi phạm; trình tự tổ chức - tácnghiệp hành chính

Nguyên tắc quản lý nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi hoạt động nhànước phải tuân theo những quy tắc pháp lý quy định về trình tự, cách thức khi

sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để xử lý công việc Những quy tắcpháp lý này là những quy phạm thủ tục Các quy phạm thủ tục bao gồm: thủtục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ tục hành chính Nhằm đạt đếnnhững mục tiêu xác định trước, hoạt động quản lý nhà nước tác động đến rấtnhiều các quan hệ xã hội khác nhau và các quy phạm vật chất hành chính rất

đa dạng Vì vậy không có một thủ tục hành chính duy nhất, mà có nhiều loạithủ tục Và những thủ tục hữu hiệu nhất là vô cùng cần thiết, vì nó đảm bảocho tiến trình hành chính không trì trệ hay cản trở, có ý nghĩa to lớn trongviệc thực hiện các lợi ích xã hội khác nhau Các cơ quan nhà nước và côngchức nhà nước khi ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý nhànước đều phải tuân theo một quy trình đã được quy phạm thủ tục hành chínhquy định, nhằm thực hiện một cách tốt nhất các chủ trương, chính sách củaĐảng và nhà nước theo pháp luật cũng như phục vụ nhu cầu hàng ngày củacông dân

Tóm lại, thủ tục hành chính là một bộ phận cấu tạo chế định tất yếu củaluật hành chính Nói khác đi, thủ tục hành chính là loại hình quy phạm hànhchính có tính công cụ để cho các cơ quan nhà nước có điều kiện thực hiện chứcnăng của mình Thủ tục hành chính bảo đảm cho các quy phạm vật chất của luậthành chính được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội [5, tr 5-7]

Trang 23

Theo cách hiểu mang tính pháp lý thì "Thủ tục hành chính là trình tự,

cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người

có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cánhân, tổ chức" [1, tr 1]

Như vậy, có thể hiểu, thủ tục hành chính là trình tự, cách thức giảiquyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mốiquan hệ nội bộ của cơ quan hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhànước với các tổ chức và công dân

Thủ tục hành chính giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt được mục đích

đã định, phù hợp với thẩm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc của các cánhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Tính chất đa diện và nội dung phong phú của hoạt động quản lý hànhchính có quy định đặc điểm của thủ tục hành chính:

Thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng các quy phạm thủ tục hànhchính Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải được trật tự hóa,nghĩa là phải tiến hành theo những thủ tục nhất định, nhưng không có nghĩa làmọi hoạt động trong quản lý nhà nước đều phải được điều chỉnh bởi quyphạm thủ tục hành chính, mà có hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ trong nội bộ

tổ chức nhà nước do các quy định nội bộ điều chỉnh Về mặt lý luận, pháp luậtkhông thể và cũng không cần thiết phải điều chỉnh mọi quan hệ xã hội Chỉ cócác thủ tục quan trọng phải được quy định bởi pháp luật, nhằm đảm bảo cho

sự tuân thủ chúng thật chặt chẽ

Hoạt động quản lý chủ yếu là hoạt động áp dụng cho pháp luật mà ở

đó, hành vi áp dụng pháp luật liên quan chủ yếu đến việc xác định tình trạngthực tế của vụ việc, lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng và ra quyết định

về việc đó Các hành vi áp dụng pháp luật này được tiến hành theo những thủtục hành chính nhất định Như vậy, nếu thiếu các quy định về thủ tục hànhchính cần thiết thì quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hoạt độngquản lý sẽ không được đảm bảo thực hiện Thủ tục hành chính là một nhân tố

Trang 24

đảm bảo cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và đúng chức năng quản lý của

cơ quan nhà nước, vì nó là những chuẩn mực hành vi cho công dân và côngchức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhànước Dựa vào các thủ tục hành chính, các công việc hành chính sẽ được xử

lý và đạt được nhưng hiệu quả pháp luật đúng như dự định

Thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý hànhchính nhà nước nghĩa là thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục tưpháp, khác với thủ tục tố tụng tại tòa án; kể cả tố tụng hành chính cũng khôngthuộc về thủ tục hành chính Ở một số nước, tòa án hành chính là một hệthống xét xử thuộc ngành hành pháp, trình tự xét xử các khiếu kiện hànhchính có những điểm riêng so với trình tự xét xử tư pháp và có liên quan đếnhoạt động quản lý Ở các nước này trình tự xét xử của tòa án hành chính cũng

có nhiều điểm khác biệt với thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính rất đa dạng, phức tạp Tính đa dạng, phức tạp đóđược quy định bởi hoạt động quản lý nhà nước, là hoạt động diễn ra ở hầu hếtcác lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành chính bao gồm rất nhiều các

cơ quan từ trung ương đến địa phương, mỗi cơ quan đó trong việc thực hiệnthẩm quyền của mình đều phải tuân thủ theo những thủ tục nhất định Hơnnữa, nền hành chính nhà nước của ta hiện nay đang chuyển từ nền hành chínhcai quản sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho xã hội, từ quản lý tậptrung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý hành chính đa dạng

về nội dung và phong phú về hình thức, biện pháp; đồng thời với xu hướnghợp tác quốc tế, đối tượng quản lý không chỉ trong phạm vi nội công dântrong nước mà còn liên quan đến các yếu tố nước ngoài Do vậy, thủ tục hànhchính hiện nay rất đa dạng, phong phú và tính phức tạp cũng tăng lên [5, tr 8-9]

Nội dung Cải cách hành chính được triển khai trên các mặt: Cải cáchthể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xâydựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính

Trang 25

công và hiện đại hóa nền hành chính Trong đó cải cách thủ tục hành chính,thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế mộtcửa liên thông là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầucủa tiến trình cải cách hành chính Cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảmtính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong khi giải quyết công việchành chính; loại bỏ những rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng,gây khó khăn cho dân.

Cải cách thủ tục hành chính được coi là khâu đột phá trong cải cáchnền hành chính nhà nước Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết

để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tăng cường

sự tham gia quản lý của nhân dân, tạo sự chuyển động của toàn hệ thống hànhchính quốc gia, thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủtục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chínhkhi bị tác động

Cải cách thủ tục hành chính thực chất là cải cách trình tự thực hiệnthẩm quyền hành chính trong mối quan hệ tới quyền và nghĩa vụ của côngdân, tổ chức và trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước Cải cách thủ tụchành chính nhà nước là một bộ phận của cải cách thể chế nền hành chính nhànước nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo những chuẩn mựcnhất định, đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng, hành động theo đúng quytrình, quy phạm; thích ứng với từng loại đối tượng, từng loại công việc cụ thể;phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, cải cách thủ tục hành chính là một nội dung quan trọng của cải cách hành chính nhà nước, bao gồm quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện thủ tục hành chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu nền hành chính phục vụ, hiệu lực và hiệu quả.

Cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận của cải cách thể chế hànhchính nhà nước, nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo nhưngchuẩn mực nhất định: đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng, hoạt động

Trang 26

theo đúng quy trình, quy phạm thích ứng với từng loại đối tượng, từng loạicông việc, phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Cải cách thủ tục hành chính thực chất

là cải cách trình tự thực hiện thẩm quyền hành chính trong mối liên hệ tớiquyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và trong nội bộ cơ quan hành chínhnhà nước

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã khẳng định: cải cáchthủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cải cách nềnhành chính nhà nước với nội dung: "Thực hiện cải cách cơ bản các thủ tụchành chính, cả về cơ chế tổ chức thực hiện, loại bỏ những khâu bất hợp lý vàphiền hà, ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật"

Trong tiến trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quanliêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhànước cần dành sự quan tâm nhiều hơn đối với việc cải cách thủ tục hành chínhnhằm đáp ứng các yêu cầu dịch vụ, phục vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệuquả quản lý nhà nước

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính là một yêu cầu bức xúc, là mộttrong những nội dung quan trọng của cải cách hành chính nhà nước và đượcđặt ra trước cải cách hành chính nhà nước, được xem như khâu đột phá củacải cách hành chính Vấn đề cải cách thủ tục hành chính luôn được Chính phủquan tâm Điều này xuất phát từ thủ tục hành chính hàng ngày liên quan đếncông việc nội bộ của cơ quan, cấp chính quyền cũng như tổ chức, công dân.Các quyền và nghĩa vụ của mọi công dân, tổ chức được quy định trong Hiếnpháp và văn bản luật có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào đềuphải thông qua thủ tục hành chính do cơ quan, các cấp chính quyền nhà nướcquy định và trực tiếp thực hiện

Trong điều kiện nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thịtrường và tham gia sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, nhu cầu của các tầnglớp nhân dân cũng tăng lên về số lượng và đa dạng, phức tạp, phong phú,

Trang 27

phức tạp về hình thức và nội dung Tình hình đó đặt ra yêu cầu đối với nhànước mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ công.

Hiện nay, thủ tục hành chính còn tồn tại một số hạn chế như: rườm rà,trùng chéo, cứng nhắc (hợp pháp nhưng chưa hợp lý, chưa phù hợp với thựctế), thủ tục cũ, thủ tục mới lẫn lộn Việc ban hành thủ tục hành chính có lúc,

có nơi còn tùy tiện, cách thức giải quyết thủ tục hành chính vẫn còn hiệntượng cửa quyền, hách dịch, chậm trễ, thẩm quyền trách nhiệm giải quyết thủtục hành chính chưa rõ, vẫn còn hiện tượng công dân, tổ chức phải đi lạinhiều lần để thực hiện một thủ tục hành chính

Tính tất yếu khách quan phải tiếp tục cải cách thủ tục hành chínhkhông chỉ nhìn từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môitrường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn.Cũng không chỉ nhìn từ khía cạnh xã hội là tạo điều kiện thuận lợi cho côngdân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước Hơn nữa, cảicách thủ tục hành chính còn xuất phát từ việc sắp xếp, tổ chức bộ máy theohướng gọn nhẹ, hiện đại; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức vềchuyên môn nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa góp phần bài trừ tựquan liêu, cửa quyền, hối lộ, làm trong sạch bộ máy nhà nước

Mục tiêu và yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính là phải đạt sựchuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc của côngdân Nhiệm vụ cụ thể cải cách thủ tục hành chính là:

Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả cáclĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân,doanh nghiệp; thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môitrường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lựccạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước pháttriển nhanh, bền vững Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư; đấtđai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo

Trang 28

dục; lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác doThủ tướng Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải cách trong từng giai đoạn;

Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, cácngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước; Kiểm soátchặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật;

Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thứcthiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổchức phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhànước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;

Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựngthể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhànước với doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò củacác tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩnmực quốc gia về thủ tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hành chính hiệnhành; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giámsát việc thực hiện;

Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy địnhhành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính vàgiám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhànước các cấp [18]

1.1.3 : Cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông”

1.1.3.1. Khái niệm cơ chế “một cửa”

Theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của

Thủ tướng Chính phủ, “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của công dân, tổ chức bao gồm cả tổ chức, cá nhân người nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan HCNN, từ hướng dẫn tiếp nhận giấy tờ,

hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính đó” [3].

Trang 29

Khái niệm cơ chế “một cửa” còn được khẳng định lại trong Quyết định09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định07/2016/QĐ-UBND ngày 08/3/2016 của UBND thành phố Hà Nội, cụ thể là:

Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chứcthuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trongviệc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trảkết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của

cơ quan hành chính nhà nước[24, điều 1]

Theo đó, bộ phận “một cửa” là nơi tiếp xúc đầu tiên của công dân, tổchức với cơ quan HCNN Bộ phận này có nhiệm vụ tiếp nhận, hướng dẫn ngườidân đầy đủ các thủ tục cần thiết để giải quyết công việc, thẩm định tính hợppháp của hồ sơ sau đó chuyển cho các phòng, ban chuyên môn giải quyết.Người dân cũng đến chính nơi mà mình đã nộp hồ sơ để nhận kết quả theo thờigian quy định

1.1.3.2. Khái niệm cơ chế “một cửa liên thông”

Cơ chế “một cửa liên thông” thực chất là bước phát triển tiếp theo của

cơ chế “một cửa” Việc triển khai thực hiện cơ chế “một cửa” những năm qua

đã thu được những kết quả to lớn, tuy nhiên cơ chế “một cửa” mới chỉ thựchiện tại một cơ quan hành chính, một cấp hành chính nhất định, chưa tạo sựkết nối liên thông giữa các ngành, các cấp với nhau, người dân khi giải quyếtTTHC liên quan tới nhiều ngành, nhiều cấp vẫn phải tự đi đến nhiều cơ quannhà nước khác nhau Do đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 03 năm2015 Ban hành Quy chế thực hiện cơ

chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ởđịa phương Cơ chế một cửa liên thông là cách thức giải quyết công việc của

cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hànhchính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấptrong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giảiquyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận vàtrả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước[24]

Trang 30

Thực tế, có nhiều loại hồ sơ hành chính liên quan đến thẩm quyền giảiquyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan khác nhau, phải qua nhiều đầu mối mới cókết quả cuối cùng Cơ chế “một cửa liên thông” đặt ra yêu cầu các cơ quannhà nước có trách nhiệm phối hợp với nhau trong quy trình xử lý hồ sơ,không để các tổ chức, công dân phải cầm hồ sơ đi từ cơ quan này đến cơ quankhác Người có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một cơ quanHCNN đầu mối Đây chính là căn cứ để từ đó luận văn triển khai các vấn đềliên quan tiếp theo.

1.2 Căn cứ pháp lý

1.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên

quan đến cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông”:

Quan điểm của Đảng chỉ đạo công tác cải cách hành chính nhà nướcnói chung và cải cách thủ tục hành chính được thể hiện trong các Nghị quyếttại các kỳ Đại hội và Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Văn bảncủa Đảng mang tính nền tảng đầu tiên chỉ đạo quá trình cải cách hành chínhnói chung và thủ tục hành chính nói riêng là Báo cáo chính trị của Ban Chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI năm 1986 xác định cơ bản nội dung của cải cách hành chính là tăngcường bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệthống thống nhất, có sự phân định rành mạch, nhiệm vụ, quyền hạn, tráchnhiệm từng cấp đồng thời phải phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính nhànước về kinh tế và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh… thực hiện mộtquy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao

Nhiệm vụ cải cách hành chính tiếp tục được khẳng định tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng xác định những nội dung cụ thể hơntrong việc xây dựng bộ máy hành chính, đứng đầu là Chính phủ, các Bộ, kếtiếp là chính quyền địa phương các cấp, sắp xếp lại tổ chức, biên chế làm cho

bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, xây dựng hoàn chỉnh cơ chế

Trang 31

quản lý và pháp luật Đặc biệt đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳcủa Đảng, tinh thần cải cách hành chính được phát triển hoàn thiện thêm mộtbước đáng kể Đảng đã xác định cụ thể mục tiêu tổng quát của cải cách hànhchính: Xúc tiến cải cách hành chính Cải cách nhằm đổi mới và tăng cường hệthống hành pháp cả về tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động, phát huy vai tròđiều hành của bộ máy hành pháp… trên cơ sở pháp luật thống nhất và sự điềuhành tập trung của Chính Phủ Nhìn chung, đây là những tư tưởng nền tảngchỉ đạo công cuộc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách bộ máy hành chínhnhà nước.

Ngày 23/01/1995, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lầnthứ tám, khóa VII, xác định nhiệm vụ trọng tâm của cải cách nền hành chính

là phải cải cách một bước cơ bản các thủ tục hành chính…, loại bỏ nhữngkhâu xin phép, xét duyệt không cần thiết, giảm phiền hà, ngăn chặn tệ nạn,cửa quyền, sách nhiễu, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật Chính phủ nắmquyền ban hành thủ tục hành chính; đồng thời quy định phạm vi giao quyềncho cấp tỉnh, thành phố được ban hành một số loại thủ tục đặc thù của địaphương Tập trung cải cách thủ tục trong lĩnh vực tác động trực tiếp tới đờisống và sản xuất kinh doanh của nhân dân

Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính và cải cách thủ tụchành chính, các văn kiện tiếp tiếp theo của Đảng tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII, Nghị quyết lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa VIII, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đều có nội dungtrọng tâm là cải cách hành chính, lấy cải cách thủ tục hành chính làm khâu độtphá Vì thực chất thủ tục hành chính là bộ mặt, phương thức giao tiếp của nhànước với dân, thể hiện cụ thể bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do nhân dân và vì nhân dân Trong một thời gian dài, trước khi cảicách, đổi mới, người dân khi có việc bắt buộc phải đến cơ quan nhà nước luôngặp thái độ coi thường, thậm chí xúc phạm của cán bộ, viên chức nhà nước,dẫn đến tâm lý bất bình trong xã hội, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối

Trang 32

với Đảng, nhà nước Chỉ đến khi chúng ta tiến hành cải cách, cụ thể là cảicách thủ tục hành chính làm cho thủ tục công khai, rõ ràng, bình đẳng ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất kinh doanh của người dân, thì khi đótạo ra một không khí chính trị - kinh tế tích cực hơn hẳn, góp phần thúc đẩykinh tế phát triển, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, tiến lên công nghiệp hóahiện đại hóa.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa X xác định đẩy mạnh cải cách hànhchính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Cảicách thủ tục hành chính và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nướcđược đổi mới, hiệu lực, hiệu quả và kỷ luật, kỷ cương được tăng cường hơn

Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng gần 20 lần nói đếnvấn đề cải cách hành chính Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt quan tâm đếnvấn đề này Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XI là: "Hoàn thiện thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập mới trường cạnhtranh lành mạnh và cải cách hành chính", "bãi bỏ các thủ tục hành chính gâyphiền hà cho tổ chức và công dân", "tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh cải cáchhành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng lãng phí, tập trung vào các lĩnhvực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí", "đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chínhtrong Đảng khắc phục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục", "đẩy mạnhcải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp", "thực hiện chương trình tổng thể cảicách hành chính và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia" Nghị quyết đại hộiĐảng khóa XI xác định một trong những nhiệm vụ cần tập trung lãnh đạo, chỉđạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện công cuộc xây dựng đấtnước là đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính liên quanđến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, sinh hoạt của nhân dân

Trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 vềcải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc củacông dân và tổ chức quy định những công việc cụ thể mà các cấp, các ngành

Trang 33

phải tiến hành thực hiện và hoàn thành để đảm bảo yêu cầu cải cách hànhchính Trong đó, cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá đi sâu vào nhữnglĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến người dân như: thủ tục cấp giấy phép xuấtkhẩu, nhập khẩu, đầu tư, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấp đất; đăng ký kinhdoanh, hành nghề; sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông; hộ khẩu; xuấtcảnh, nhập cảnh; trước bạ mua bán chuyển nhượng các loại tài sản; cho vayvốn; công chứng; thanh tra doanh nghiệp.

Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hànhchính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức là văn bản pháp

lý của Nhà nước đầu tiên có đề cập đến việc giải quyết thủ tục hành chínhthông qua cơ chế một cửa, dựa vào nguyên tắc nơi nào là đầu mối có tráchnhiệm chính trong việc giải quyết công việc thì cá nhân, tổ chức trực tiếp đến

đó Như vậy, có thể xác định trong việc giải quyết thủ tục hành chính có liênquan nội bộ của bộ máy hành chính Trung ương, địa phương hay trong mốiquan hệ cung cấp dịch vụ công cho công dân thì nguyên tắc tập trung vào mộtđầu mối chính, có chức năng quản lý chủ yếu để giải quyết công việc lànguyên tắc xuyên suốt quá trình thực hiện Đây cũng là tinh thần chủ đạo củacải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa

Cải cách hành chính trong giai đoạn 2001 - 2010 được xác định có 4nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước;xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công Một trong cácnội dung quan trọng của cải cách thể chế hành chính đó là cải cách thủ tụchành chính Muốn cải cách hành chính thì thủ tục hành chính phải được đơngiản hóa một cách tối đa, tránh rườm rà Để đáp ứng yêu cầu đó Thủ tướngChính phủ đã ký Quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 về việc ban hànhQuy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước địa phương

Ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số93/2007/QĐ-TTg ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửaliên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhằm xác định

Trang 34

những nguyên tắc và nội dung chung nhất đến thực hiện cơ chế một cửa trongcải cách thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

Thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,trong những năm qua, các địa phương đã tập trung triển khai thực hiện cơ chế

cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở

cả 3 cấp chính quyền địa phương để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính

và chất lượng dịch vụ công, góp phần từng bước làm thay đổi cơ bản mốiquan hệ giữa chính quyền và cá nhân, tổ chức theo hướng hành chính phục

vụ, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi đến giao dịch với cơ quan hànhchính

Nghị quyết 30c /NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủkhẳng định: tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chínhnhà nước; thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế mộtcửa tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, đảm bảo sự hài lòng của cá nhân, tổchức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước

Sau 8 năm thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ về thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương đã làm thay đổi căn bản mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và ngườidân Việc thực hiện cơ chế một cửa đã từng bước đi vào nề nếp Tuy nhiênđến nay, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có nhữnghạn chế, không đáp ứng được yêu cầu công cuộc cải cách hành chính theoNghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 ban hành Quy chế thực hiện

cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước địaphương Quyết định ban hành trên nguyên tắc kế thừa những quy định còn phùhợp của Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, đồng thời bổ sung các quy định mớinhằm giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổchức và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cải cách hành chính trong giai đoạnhiện nay

Trang 35

Như vậy, Đảng và Nhà nước đã quyết tâm xây dựng nền hành chínhnhà nước hiệu lực, hiệu quả Triển khai thống nhất và nâng cao chất lượngthực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thôngtại cơ quan hành chính nhà nước.

Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011 - 2020 bao gồm 6 nộidung chủ yếu, đó là cải cách thể chế; cải cách TTHC; cải cách tổ chức bộmáy; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công

và hiện đại hóa nền HCNN, trong đó cải cách TTHC là nhiệm vụ then chốt

Để tiến hành cải cách TTHC, tạo thuận lợi trong giải quyết công việc giữa các

cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước vànâng cao trách nhiệm của đội ngũ CBCC nhà nước thì cơ chế một cửa", "mộtcửa liên thông" được coi là một giải pháp quan trọng

Để làm rõ những căn cứ pháp lý cho việc đánh giá các hoạt động của

cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông” UBND cấp xã, luận văn đưa ra

những quy định về mặt pháp lý sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã:

1 Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại các khoản1, 2 và 4 Điều 33 của Luật này và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã

2 Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương

3 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp,

ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã [13, Điều 35]

Như vậy, theo khoản 3 của Điều 35 trên với nhiệm vụ, quyền hạn củaUBND xã khi thực hiện trách nhiệm của cơ quan nhà nước cấp trên Đồng thời

để lý giải cho việc lấy tên đề tài luận văn là cấp phường, luận văn đã căn cứ vào Nghị Quyết 132 của Chính phủ, ngày 27/12/2013 về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liên thành lập 02 quận và 23 phường thuộc thành

Trang 36

phố Hà Nội Ở đây đó là trách nhiệm khi thực hiện cơ chế“Một cửa”, “Một cửa

liên thông”, cho thấy:

Trách nhiệm của cơ quan chuyên môn Ủy ban nhân dân cấp xã:

1 Bố trí và phân công công chức có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp làm

việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

2 Căn cứ vào tình hình cụ thể, ban hành Quy chế hoạt động của Bộ phận

tiếp nhận và trả kết quả thuộc trách nhiệm quản lý

3 Công khai các quy định, thủ tục hành chính đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng,

dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng theo quy định; công khai các chuẩn mực,các quy định hành chính để tạo thuận lợi cho việc giám sát

4 Tập huấn về nghiệp vụ và cách giao tiếp với cá nhân, tổ chức trong quá trìnhgiải quyết công việc đối với đội ngũ công chức làm việc ở Bộ phận tiếp

nhận và trả kết quả

5 Thông tin, tuyên truyền để cá nhân, tổ chức biết về hoạt động của cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.[ 24, Điều 13]

1.2.2 Phạm vi áp dụng cơ chế“Một cửa”, “Một cửa liên thông”

Cơ chế“Một cửa”, “Một cửa liên thông”các cơ quan:

Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện)

Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)

Các cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương (sau đây gọi chung là các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc) [24, tr 2].Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ

Công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấpchính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện theo

cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông

Trang 37

Ban hành Quyết định về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửaliên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấpxã; quy định việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cácđơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn có liên quanđến cá nhân, tổ chức.

Triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện cơchế một cửa, cơ chế một cửa liên thông; triển khai nhân rộng Bộ phận tiếpnhận và trả kết quả hiện đại tại Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định củapháp luật

Bảo đảm việc thực hiện thu phí, lệ phí theo đúng quy định của pháp luật.Trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chế độ hỗ trợ và côngtác phí đối với công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cáccấp; quyết định mức thu đối với khoản thu về phí, lệ phí có trong danh mụcthuộc thẩm quyền được phép ban hành của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Định kỳ 6 tháng, hàng năm kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, cơchế một cửa liên thông thuộc phạm vi quản lý

Như vậy, đối với UBND cấp xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở, gầndân nhất, là nơi trực tiếp hàng giờ, hàng ngày tiếp xúc và giải quyết các côngviệc liên quan đến công dân Vì vậy việc triển khai áp dụng cơ chế một cửa,một cửa liên thông cho thấy sự phù hợp và đúng hướng trong cải cách TTHC,đúng đối tượng và các thủ tục được giải quyết ngay từ địa bàn dân cư

1.2.3 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa

Điều 6 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa

1 Tiếp nhận hồ sơ

a) Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quảhoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy địnhnhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến;

b) Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra

Trang 38

tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ:

Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết;

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể theo mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này;

c) Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ theo mẫu số 02 tạiPhụ lục ban hành kèm theo Quyết định này và phần mềm điện tử (nếu có);lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo mẫu số 03 tại Phụ lục banhành kèm theo Quyết định này;

d) Trường hợp công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quảđược phân công giải quyết hồ sơ thì nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phầnmềm điện tử (nếu có):

Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập Giấytiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩmquyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức;

Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập Giấy tiếpnhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyếtđịnh và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức

2 Chuyển hồ sơ

a) Sau khi tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này, côngchức lập Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu số 04 tại Phụlục ban hành kèm theo Quyết định này;

b) Chuyển hồ sơ và Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ quan, tổchức liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ đượcchuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

3 Giải quyết hồ sơ

Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan, tổ chức phân công cán bộ, công chức giảiquyết như sau:

Trang 39

a) Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức thẩmđịnh, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơcho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;

b) Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức báo cáongười có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện.Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại cơ quangiải quyết;

Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chứcthẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết

hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;

Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Côngchức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng vănbản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức đãgiải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ;

c) Các hồ sơ quy định tại Điểm a, b Khoản này sau khi thẩm định không đủđiều kiện giải quyết, công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ vàthông báo bằng văn bản nêu rõ lý do không giải quyết hồ sơ Thông báođược nhập vào mục trả kết quả trong Sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báophải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định;

d) Các hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thôngbáo bằng văn bản cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và văn bản xin lỗi cánhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả

4 Trả kết quả giải quyết hồ sơ

Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ

và phần mềm điện tử (nếu có) và thực hiện như sau:

a) Các hồ sơ đã giải quyết xong: Trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổchức và thu phí, lệ phí (nếu có); trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng kýnhận kết quả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu

Trang 40

có) và cước phí được thực hiện qua dịch vụ bưu chính; nếu thực hiện dịch

vụ công trực tuyến mức độ 4 thì việc trả kết quả và thu phí, lệ phí (nếu có)theo quy định;

b) Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức đểyêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ

và văn bản xin lỗi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của côngchức khi tiếp nhận hồ sơ);

c) Đối với hồ sơ không giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để trả lại hồ sơkèm theo thông báo không giải quyết hồ sơ;

d) Đối với hồ sơ quá hạn giải quyết: Thông báo thời hạn trả kết quả lần sau vàchuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn giải quyết cho cánhân, tổ chức;

đ) Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để cánhân, tổ chức nhận kết quả;

e) Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận hồ sơ

và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận tiếpnhận và trả kết quả

Điều 7 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa liên thông giải quyết thủ tục hành chính

1 Các loại hình liên thông

a) Liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp: Giữa các cơquan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giữa các cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan được tổ chứctheo ngành dọc đặt tại huyện; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy bannhân dân cấp tỉnh; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dâncấp tỉnh và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh;

b) Liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp: Giữa Ủy bannhân dân cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp

Ngày đăng: 02/07/2022, 18:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2010), Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 về kiểm soát thủ tục hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 về kiểmsoát thủ tục hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
2. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 -2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 về Chươngtrình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 -2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
3. Chính phủ (2007), Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 26/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 26/6/2007 củaThủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”,cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
4. Học viện Báo chí và tuyên truyền (2006), Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý hành chínhnhà nước
Tác giả: Học viện Báo chí và tuyên truyền
Năm: 2006
5. Học viện Hành chính Quốc gia (2003), Giáo trình Thủ tục hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thủ tục hành chính
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2003
6. Học viện Hành chính Quốc gia (2002), Thuật ngữ Hành chính, Hà Nội 7. Học viện hành chính (2005), Giáo trình luật hành chính (giáo trình đạihọc), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Hành chính", Hà Nội7. Học viện hành chính (2005), "Giáo trình luật hành chính (giáo trình đại "học)
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia (2002), Thuật ngữ Hành chính, Hà Nội 7. Học viện hành chính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2005
8. Học viện hành chính (2008), Giáo trình hành chính công (dành cho đào tạo sau đại học), NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hành chính công (dành cho đào tạo sau đại học)
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2008
9. Học viện hành chính (2008), Giáo trình hành chính đại cương (dành cho đào tạo sau đại học), NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hành chính đại cương (dành cho đào tạo sau đại học)
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2008
10. Học viện hành chính (2010), Giáo trình lý luận hành chính Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận hành chính Nhà nước
Tác giả: Học viện hành chính
Năm: 2010
11. Nguyễn Ngọc Hiến (2000), Giải pháp cải cách hành chính ở Việt Nam, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cải cách hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiến
Năm: 2000
12. Nguyễn Ngọc Hiến (2001), Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiến
Năm: 2001
14. Nguyễn Xuân Phúc (2013), “ Tiếp tục cải cách hành chính ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Nguyễn Xuân Phúc
Năm: 2013
15. Thang Văn Phúc (2001), Cải cách hành chính nhà nước, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính nhà nước, thực trạng,nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Thang Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đỗ Thị Hồng Tâm (2013), Cải cách thủ tục hành chính đối với dịch vụ đăng ký tờ khai nhận khẩu tại cục hải quan thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính đối với dịch vụđăng ký tờ khai nhận khẩu tại cục hải quan thành phố Hà Nộ
Tác giả: Đỗ Thị Hồng Tâm
Năm: 2013
17. Trần Thị Thanh (2011), “ Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” tại một số UBND huyện tại tỉnh Quảng Ninh” Luận văn thạc sỹ, Học viện hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “mộtcửa” tại một số UBND huyện tại tỉnh Quảng Ninh”
Tác giả: Trần Thị Thanh
Năm: 2011
18. Nguyễn Văn Thâm (2004), Tiếp cận và giải quyết công việc cho dân trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận và giải quyết công việc cho dântrong tiến trình đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn (2001), Thủ tục hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục hành chính - Lý luận vàthực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Vũ Thư, Lê Hồng Sơn (2000), Cải cách thủ tục hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân hiện nay ở nước ta, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính thực hiệnquyền và nghĩa vụ công dân hiện nay ở nước ta
Tác giả: Vũ Thư, Lê Hồng Sơn
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2000
22. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 về việc Ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày22/6/2007 về việc Ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửaliên thông tại cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
23. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 Về việc phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007Về việc phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vựcquản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. - luan van cai cach thu tuc hanh chinh theo co che mot cua, mot cua lien thong
Bảng 2.1. (Trang 69)
Bảng 2.2 - luan van cai cach thu tuc hanh chinh theo co che mot cua, mot cua lien thong
Bảng 2.2 (Trang 72)
Bảng 2.3 Ý kiến của côngchức về việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại Một cửa và Một cửa liên thông - luan van cai cach thu tuc hanh chinh theo co che mot cua, mot cua lien thong
Bảng 2.3 Ý kiến của côngchức về việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại Một cửa và Một cửa liên thông (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w