ĐỀ TÀI : “ĐA DẠNG HỆ SINH THÁI BIỂN VIỆT NAM”NỘI DUNGI.Giới thiệu chung1.Khái niệm hệ sinh thái2.Phân loại hệ sinh thái3.Khái niệm hệ sinh thái biển4.Phân bố, đặc trưng hệ sinh thái biểnII.Thành phần hệ sinh thái biển1.Môi trường hệ sinh thái (sinh cảnh)2.Thành phần các loài sinh vật trong hệ sinh thái biển (quần xã)III.Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái biển1.Chuyển hóa vật chất2.Chuyển hóa năng lượngIV.Sự đa dạng loài trong HST biển Việt NamV.Hiện trạng hệ sinh thái biển Việt Nam1.Tầm quan trọng của biển Việt Nam2.Hiện trạng hệ sinh thái biển Việt NamVI.Biện pháp khắc phục
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BÁO CÁO TIỂU LUẬN KHOA HỌC
ĐỀ TÀI : “ĐA DẠNG HỆ SINH THÁI BIỂN VIỆT NAM”
Giảng viên hướng dẫn:PGS.TS Phan Hữu Tôn
Trang 2 NỘI DUNG
I Giới thiệu chung
1 Khái niệm hệ sinh thái
2 Phân loại hệ sinh thái
3 Khái niệm hệ sinh thái biển
4 Phân bố, đặc trưng hệ sinh thái biển
II Thành phần hệ sinh thái biển
1 Môi trường hệ sinh thái (sinh cảnh)
2 Thành phần các loài sinh vật trong hệ sinh thái biển (quầnxã)
III Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái
biển
1 Chuyển hóa vật chất
2 Chuyển hóa năng lượng
IV Sự đa dạng loài trong HST biển Việt Nam
V Hiện trạng hệ sinh thái biển Việt Nam
1 Tầm quan trọng của biển Việt Nam
2 Hiện trạng hệ sinh thái biển Việt Nam
VI Biện pháp khắc phục
Trang 3Đặt vấn đề:
Việt Nam có trên 3000 đảo lớn, nhỏ ở trong và ngoài khơi nằm rảirác khắp lãnh thổ Việt Nam Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biểnrộng khoảng 226.000 km2 Do vậy hệ sinh thái biển cũng rất phong phú,
có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng sinh học và năng suấtsinh học cao.Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000loài sinh vật cư trú trong các vùng đa dạng sinh học biển khác nhau.Thành phần quần xã trong hệ sinh thái giàu, cấu trúc phức tạp, thànhphần loài phong phú Đây là môi trường sản xuất thuận lợi và rộng lớngắn chặt với đời sống của hàng triệu cư dân sống ven biển của ViệtNam
I)Giới thiệu chung
1) Khái niệm hệ sinh thái
Hệ sinh thái là một cộng đồng gồm các loài sinh vật sống trong mộtđiều kiện môi trường nhất định và mối tương hỗ giữa các sinh vật đóvới các nhân tố môi trường khác.Các nhân tố môi trường bao gồm cácloài sinh vật nương tựa vào nhau để tồn tại, sinh trưởng và phát triển,tạo ra một thế cân bằng nhất định
Trang 42) Phân loại hệ sinh thái
Hệ sinh thái là đơn vị cơ bản của sinh thái học và được chia thành hệ sinh thái nhân tạo và hệ sinh thái tự nhiên
Hệ sinh thái nhân tạo :
Ví dụ : Ao nuôi cá, đồng ruộng, thành phố,…
Hệ sinh thái tự nhiên bao gồm :
Hệ sinh thái trên cạn
Hệ sinh thái dưới nước
Hệ sinh thái nước mặn
Hệ sinh thái ven biển
Hệ sinh thái đại dương
Hệ sinh thái nước ngọt
- Hệ sinh thái nước dòng-Hệ sinh thái nước đứng
3) Khái niệm hệ sinh thái biển
Hệ sinh thái biển là tổ hợp các quần xã sinh vật biển, môi trường biển, các sinh vật biển chúng tương tác với môi trường biển để tạonên chu trình vật chất (chu trình sinh, địa,hóa và sự chuyển hóa của năng lượng ở biển)
Trang 5a) Phân bố hệ sinh thái biển Việt Nam
Vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km²,
có đường bờ biển dài, với hơn 3250km Vùng lãnh hải của Việt Nam trải rộng trên 226.000 km2, với 4.000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên nhiều eo, vùng vịnh, đầm phá và nhiều ngư trường với trữ lượng hải sản gần 3 triệu ấn Đây là một bộ phận của biển Đông, nằm ở vùng nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, giữ vai trò quan trọng
về môi trường,sinh thái trong Biển Đông
Các chuyên gia đánh giá biển Việt Nam nằm ở một vị trí rất thuận lợi về mặt đa dạng sinh học vì đây là một trong các trung tâm phát tán của sinh vật biển
b) Đặc trưng của hệ sinh thái biển Việt Nam
Những đặc điểm chính của biển đảo Việt Nam là: có khí hậu nhiệt đới phân hóa rõ rệt theo chiều Bắc- Nam, tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển và tồn tại tốt, biển có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú đa dạng và quý hiếm
Biển Việt Nam hội tụ hàng loạt các hệ sinh thái từ vùng nước nông như rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển, đầm phá, cửa sông, đến biển xa như vùng nước trồi, hệ biển sâu (có nơi tới 4000 m)
Tính phong phú và đa dạng của hệ sinh thái biển: diệntích biển chiếm phần lớn diện tích lãnh nên hệ sinh thía rất đa dạng, phong phú, Ở từng vùng địa lý cũng tồn tại sự đa dạng khác nhau
Thành phần các quần xã trong hệ sinh thái rất giàu Cấu trúc quần xã trong các hệ sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh Điểm đặc trưng này làm cho đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thế giới
Tính phong phú của các mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể trong cùng
Trang 6một loài sinh vật Mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với nhiều khâu nối tiếp nhau làm tăng tính bền vững của các hệ sinh thái Các mối quan hệ năng lượng được thực hiện song song với các mối quan hệ vật chất rất phong phú, nhiều tầng, bậc thông qua các nhóm sinh vật: tự dưỡng (sinh vật sản xuất), dị dưỡng (sinh vật tiêu thụ), hoại sinh (sinh vật phân hủy) trong các hệ sinh thái ở Việt Nam là những chuỗi quan hệ
mà ở nhiều nước khác trên thế giới không có được
II) Thành phần hệ sinh thái biển
1) Môi trường hệ sinh thái biển (sinh cảnh)
Nước là môi trường chủ yếu, nước bị hòa tan các chất nên có vị mặn Trungbình nồng độ muối trong nước biển (phần lớn là NaCl) khoảng 35 o/oo
Ngoài ra môi trường của hệ sinh thái biển còn gồm các yếu tố:
Các yếu tố vật lý (để tạo nguồn năng lượng): ánh sáng, nhiệt độ,
độ ẩm, áp suất, dòng chảy …
Các yếu tố vô cơ: gồm những nguyên tố và hợp chất hóa học cầnthiết cho tổng hợp chất sống Các chất vô cơ có thể ở dạng khí (O2,CO2, N2), thể lỏng (nước), dạng chất khoáng (Ca, PO43-, Fe …) tham
Trang 8b) Sinh vật tiêu thụ
Trang 9c) Sinh vật phân giải
III Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái biển
1) Chuyển hóa vật chất
Quá trình tạo thành: Quang hợp
CO2 + H2O + Q C6H12O6 + O2
Trang 10 Quá trình tích tụ ở sinh vật tiêu thụ
Quá trình phân giải
Nhờ quá trình phân giải mà các đại phân tử được phân hủy thành các đơn phân nhỏ hơn, giúp sinh vật dễ dàng hấp thụ lại :
Protein -> axit amin -> nucleotid
Lipit -> glixerol + axit béo
Trang 1111Chu trình Cacbon
Chu trình phospho
Trang 12Chu trình Nito
2) Chuyển hóa năng lượng
Năng lượng trong hệ sinh thái cũng có 3 quá trình và gắn liền với
Biển là nơi có năng suất sơ cấp lớn hơn trên cạn.
IV.Đa dạng loài trong hệ sinh thái biển
Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam: Trong bờ
biển và đới bờ nước ta đã phát hiện được 10.837 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình Chúng thuộc về 6 vùng đa
Trang 13Trong tổng loài được phát hiện:
Thực vật nổi có 537 loài thuộc 4 ngành
- Ngành tảo khuê (Bacillariophyta) có 348 loài
- Ngành tảo giáp (Pyrrophyta) có 184 loài
- Ngành tảo lam (Cyanophyta) có 3 loài
- Ngành tảo kim (Silicoflagellata) có 2 loài
Rong biển có 662 loài, 24 dưới loài và 20 dạng
- Rong đỏ (Rhodophyta) có 309 loài
- Rong lam (Cyanophyta) có 77 loài
- Rong nâu (Phaeophyta) có 124 loài
- Rong lục (Chlorophyta) có 152 loài
Ngoài ra còn có sự có mặt của 15 loài cỏ biển thuộc 9 chi
Thực vật ngập mặn có 92 loài ngập mặn thuộc 72 chi
Trong đó, nhóm loài thuộc rừng cây ngập mặn có 40 loài, nhómloài chủ yếu có 35 loài
Các dạng sống khác : cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, dây leo và ký sinh
Động vật nổi có 468 loài
- Giáp xác (Crustacea) có 287 loài
- Ruột túi (Porifera) có 95 loài
- Thân mềm (Mollusca) có 35 loài
- Có bao (Tunicata) có 29 loài
Tôm biển có 225 loài
- Tôm he (Penaeidae) có 77 loài
- Tôm rồng (Palinuridae) có 9 loài
- Tôm vỗ (Scyllaridae) có 9 loài
Trang 14- Tôm hùm (Nephropidae) có 4 loài
Cá có 2038 loài
Thành phần khu hệ có đặc trưng là số họ nhiều nhưng số giống
cả mỗi họ không nhiều và số loài của mỗi giống ít
Cá biệt có những họ chỉ có 1 giống, 1 loài như Chimaeridae,
Ophidiidae, Batrachidae.
Đa số các loài phân bố rộng trong các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới; có sự sai khác về thành phần loài ở các vùng biển Đặc biệt vùng biển miển Trung có những điểm khác biển
rõ rệt so với các vùng biển khác, một số loài chỉ gặp ở đây như
cá Tráp vàng (Tains tumifrons), cá Chimaera fantasma.
Rùa biển có 5 loài
Rắn biển có 15 loài
Thú biển có 25 loài
Chim biển có 43 loài
Việt Nam có khoảng 1.122 km2 rạn san hô, được phân bố rộng rãi
từ Bắc tới Nam biển Đông; càng xuống phía Nam thì cấu trúc và
số loài càng phong phú
Có 4 vùng rạn san hô: Vịnh Bắc Bộ, ven biển miền Trung và ĐôngNam Bộ, ven biển Tây Nam Bộ và quần đảo Trường Sa- HoàngSa
Tại vùng biển miền Bắc, san hô chỉ tạo thành những cụm nhỏ, độsâu giới hạn khoảng 10m Vùng biển từ Đà Nẵng đến Bình Thuận
có nhiều rạn san hô xung quanh các đảo và bãi ngầm, chúng cũng
có ở xung quanh các đảo thuộc vịnh Thái Lan Các đảo và bãingầm thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có những bãi san
hô rộng lớn và đa dạng nhất trong vùng biển Việt Nam Tại đâycác rạn san hô có thể đạt độ sâu 40m và có đỉnh cao 5-15m ỞViệt Nam đã phát hiện được hơn 300 loài san hô cứng
Scleractinia của 76 giống, 16 họ Trong đó họ Acroporidae có 83
loài, Faviidae có 59 loài; Poritidae có 39 loài.
Trang 15
1) Tầm quan trọng của hệ sinh thái biển
Mỗi năm khoản lợi nhuận thu được từ các hệ sinh thái biển và ven biển của Việt Nam từ 60-80 triệu USD
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành thủy sản chiếm tỷ lệ hơn 4% GDP
Năm 2004, riêng hàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD
Riêng năm 2008 ngành thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu gần 4 tỷ USD, trong đó chủ yếu được đánh bắt
và nuôi trồng tại vùng biển ven bờ
Tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn:
Công dụng của các loài thực vật rừng ngập mặn rất đa dạng Rất nhiều loài cây được sử dụng cho các mục đíchkhác nhau Đã từ lâu các loài thực vật này đã cung cấp cho những nhu cầu cấp thiết hàng ngày như gỗ xây dựng, lá lợp nhà, thực phẩm, chất đốt, thức ăn gia súc,
Ngoài ra còn có một số loài cây sử dụng cho công
nghiệp như làm nút chai, cho sợi Cũng còn một số công dụng chưa được chú ý như làm giấy, ván ép, Lợi ích của rừng ngập mặn mang lại khôngchỉ là những sản phẩm trực tiếp có thể khai thác được mà còn bao gồm nhiều tác dụng gián tiếp Một khi rừng ngập mặn hình thành, mùn bã do lá và các bộ phận khác của cây rụng xuống được vi sinh vật phân hủy lànguồn thức ăn quan trọng cho nhiều động vật thủy sinh Mặt khác, rừng với
hệ thống rễ chằng chịt đã giữ phù sa, tạo ra môi trường sống thích hợp cho nhiều loài động vật đáy Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng,
là nguồn cung cấp chất hữu cơ để tăng năng suất vùng ven biển, là nơi sinh đẻ,nuôi dưỡng hoặc nơi sống lâu dài cho nhiều loài hải sản có giá trị như tôm, cá, cua, sò,
Rừng ngập mặn có tác động đến điều hòa khí hậu trong vùng Các quần xã rừng ngập mặn là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt Trên thế giới có rất nhiều ví dụ điển hình về việc
Trang 16mất rừng ngập mặn kéo theo sự thay đổi khí hậu của khuvực Sau khi thảm thực vật không còn thì cường độ bốc hơi nước tăng làm cho độ mặn của nước và đất tăng theo Có nơi, sau khi rừng ngập mặn bị phá hủy, tốc độ gió của khu vực tăng lên đột ngột, gây ra hiện tượng sa mạc hóa do hiện tượng cát di chuyển vùi lấp kênh rạch
và đồng ruộng Tốc độ gió tăng lên gây ra sóng lớn làm
vỡ đê đập, xói lở bờ biển Mất rừng ngập mặn sẽ ảnh hưởng đến lượng mưa của tiểu khu vực
Tầm quan trọng của hệ sinh thái rạn san hô:
Các rạn san hô đa dạng và tuyệt mỹ đã tham gia hình thành và bảo vệ hàng ngàn hòn đảo Chúng cũng có tầm quan trọng ở nhiều đảo lớn và vùng bờ biển trong việc bảo tồn đất đai và sự tồn tại của con người Đối với các cộng đồng kinh tế phát triển, rạn san hô được coi là tài nguyên về xã hội và văn hóa Giá trị kinh tế được hiểu ở phương diện giải trí và du lịch Các loài đặc sản trong rạn san hô cũng rất hấp dẫn nhưng không phải là thiết yếu
Tầm quan trọng của hệ sinh thái cỏ biển:
Nhờ sự cố định năng lượng mặt trời có hiệu quả và sản
lượng sinh khối cao, cỏ biển có khả năng tăng cường và duy trì độ phì nhiêu của thủy vực Điều này còn được bổ sung bởiquá trình trao đổi vật chất hữu cơ có hiệu quả diễn ra trên lá
và nền đáy Một chức năng quan trọng khác của thảm cỏ biển là cầu nối trong con đường di cư của sinh vật và là quần
cư ươm giống cho biển Các thảm cỏ biển thường phát triển
ở vùng trung gian của rừng ngập mặn và rạn san hô hoặc là vùng đệm của hai hệ sinh thái khácnhau.Vì vậy, chúng trở thành điểm dừng chân của nhiều loài cá, độngvật không xương sống, thú và bò sát Bằng việc cung cấp nơi ẩn náu cũng như nguồn dinh dưỡng giàu có, thảm cỏ biển trở thành bãi ươm giống chất lượng cao của nhiều sinh vật Nguồn giống sau khi được nuôi dưỡng ở đây sẽ phát tán đến các hệxung quanh ra biển khơi
Thảm cỏ biển dày với hệ thống rễ neo chặt vào nền đáy có tác dụng làm giảm năng lượng của sóng, dòng chảy và nhờ
Trang 17vùng đệm chống sóng gió Mặt khác, thảm cỏ biển là bộ máy
có hiệu quả cao đối với việc hấp thụ chất dinh dưỡng, chất thải từ đất liền và có vai trò như những bẫy trầm tích làm giảm độ đục của nước Hiện nay, các thảm cỏ biển đang cung cấp cho loài người những sản phẩm trực tiếp như vật liệu di truyền,thực phẩm; vật liệu thô cho công nghiệp và năng lượng
Một số nguồn tài nguyên chính từ biển đang được Việt Nam
đầu tư khai thác.
Nguồn thủy hải sản
Trang 18Nguồn lợi từ vận tải biển
Tài nguyên du lịch
biển
2) Hiện trạng hệ sinh thái biển Việt Nam
Theo đánh giá của Tổng cụ Biển và Hải đảo Việt Nam, hiện nay hệ sinhthái biển Việt Nam, đặc biệt là hệ sinh thái ven bờ biển đang đứng trướcnhững nguy cơ suy thoái nghiêm trọng bởi hàng loạt các hoạt động khaithác tự nhiên quá mức của con người, như việc phá hủy rừng ngập mặn
Trang 19đê nhân tạo ven biển thay thế cho lá chắn phòng hộ tự nhiên đang suykiệt.
Hệ sinh thái biển Việt Nam đang suy thoái nghiêm
trọng Nguồn: vietnam.vnanet.vn
Cùng chung số phận với rừng ngập mặn, diện tích rạn san hô ViệtNam cũng đang suy giảm nghiêm trọng Theo số liệu của Tổngcục Biển và Hải đảo Việt Nam 2009có khoảng 20% rạn có độ phủsan hô sống nghèo (độ phủ 0-25%), 60% thuộc loại thấp (26-50%), 17% còn tốt (51-75%) và chỉ có 3% rất tốt (dưới 75%) Nếunăm 2001, diện tích phân bố rạn san hô biển Việt Nam khoảng110.000ha nhưng hiện nay chỉ còn 14.130 ha (theo số liệu nghiêncứu của Viện Tài nguyên và Môi trường biển) Nếu năm 1985, hầunhư chỗ nào ven đảo Hạ Long cũng đều có san hô nhưng đếnnăm 1998 đã mất 1/3 rạn san hô so với năm 1985, và đến tháng
Trang 206/2006 thì hầu như không còn san hô tại khu vực vịnh Hạ Long vàBái Tử Long nữa (theo Viện Tài nguyên Môi trường biển).Các kếtquả điều tra tại 7 vùng san hô trọng điểm cho thấy chỉ có 2,9%diện tích được đánh giá là trong điều kiện sinh trưởng tốt; 11,6% ởtrong tình trạng tốt, còn 44,9% rơi vào tình trạng xấu và rất xấu.
Đối với thảm cỏ biển, hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, lànguồn cung cấp thức ăn cho các loài hải sản Số lượng cư trútrong vùng thảm cỏ biển thường cao hơn vùng biển bên ngoài từ 2đến 8 lần.Cách đây 5 năm, thảm cỏ biển ven bờ Việt Nam còn tới12.380 ha, chủ yếu thuộc về vùng bờ biển đảo Phú Quốc-KiênGiang Theo thống kê từ các tài liệu thì nếu như năm 1995 diệntích các bãi cỏ biển là 10.770 ha thì đến năm 2003 chỉ còn hơn4.000ha, mất đi tới 60% diện tích.Đến nay, một số thảm cỏ biểnZostera japonica ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng đã biến mấthoàn toàn Sự suy giảm diện tích cỏ biển kéo theo sự ảnh hưởngtới môi trường sống, chuỗi thức ăn của nhiều loài hải sản
Mới đây, kết quả quan trắc mới nhất của BQL Vịnh Hạ Long, disản thiên nhiên thế giới cho thấy, vùng nước mặt và trầm tích ven
bờ vịnh đang trong mức độ ô nhiễm dầu – mỡ khoáng rấtcao Vùng nước Cảng Cái Lân có hàm lượng dầu trong nước biểngấp 18 lần TCVN Điều này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ gâyphá hủy hệ sinh thái ven bờ vịnh
Cùng với sự suy thoái của các rạn san hô, rừng ngập mặn và
“rừng mưa nhiệt đới tới biển” cảnh bảo sự nhiễu loạn chức năngsinh thái vùng bờ mà không lợi ích kinh tế nào đong đếm được
NHỮNG MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN
Khai thác quá mức
- Khai thác quá mức tức là thái tốc đọ sử dụng số lượng nguồn lợi nhanh hơn khả năng phục hồi tự nhiên hoặc nhân tạo Quá trình khai thác môyj nguồn lợi nào đó diễn ra theo một trình tự Đầu tiên, một số người phát hiên nguồn lợi và khai thác theo nhu cầu của thị trường tại chỗ Kỹ thuật khai thác còn đơn giản chưa gây hại cho quần cư và nguồn lợi Nhu cầu thị trường tăng lên, các nhà kinh tế bắt đầu quan tâm, hoạt động khai thác tăng
cường Sau đó, đánh bắt trở lên rầm rộ với đầu tư lớn về tài chính
và kỹ thuật khai thác mới Cuối cùng, sản lượng khai thác giảm vì vượt quá khả năng phục hồi trữ lượng, nghề khai thác sụp đổ và