1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim

33 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 3,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rừng tràm có thể chia thành nhiều loại tùy theo thành phần cơ giới và điều kiện hình thành đất, gồm các loại sau: + Rừng tràm giữa các triền cát: Sau lưng các rừng sác, trên các trũng bị

Trang 1

The Japan International Cooperation Agency

World Wide Fund For NatureQuyết định Thủ Tưởng

Kế hoạch Ban chỉ huyPhòng cháy chửa cháy rừngLưỡng cư bò sát

Trang 2

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1 Vị trí tại Việt Nam

Hình 2 Địa hình VQG Tràm Chim

Hình 3 Đồng cỏ ngập nước theo mùa và chim nước tại

vườn quốc gia Tràm Chim

Hình 4 Cây Tràm trên đất phèn ở VQG Tràm Chim

Hình 10 Đồng lúa trời ở vườn quốc gia Tràm Chim

Hình 11 Thu hoạch "lúa ma" ở Đồng Tháp

Hình 12 Diệc lửa kiếm ăn ở Tràm Chim

Hình 13 Sếu đầu đỏ ở Vườn quốc gia Tràm Chim

Hình 14 Các loài Bò sát và Lưỡng cư ở Vườn quốc gia Tràm Chim

Hình 15 Người dân được cho phép đánh cá trong Vườn Quốc Gia

Tràm Chim mùa nước lên

Hình 16 Vườn quốc gia Tràm Chim mùa ngập nước

Hình 17 Hệ sinh thái thực vật ở Vườn quốc gia Tràm Chim

Hình 18 Quần xã Chim nước phong phú ở Vườn quốc gia Tràm Chim

Trang 3

Chương 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Vườn quốc gia Tràm Chim là một trong những vùng đất ngập nước nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long Với hệ đa dạng sinh học rất cao, nhiều loài động thực vật và cả những loài có tên trong sách đỏ nguy cơ tuyệt chủng Vườn quốc gia Tràm Chim hiện nay đang là địa điểm thu hút nhiều khách du lịch cả

trong và ngoài nước với cảnh quan đẹp, không khí trong lành Đề tài “Đa dạng

hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim” được thực hiện để tìm hiểu kĩ hơn về đa

dạng sinh học và các hệ sinh thái ở đây

1.2 Mục tiêu

- Đánh giá đa dạng sinh học và đa dạng hệ sinh thái ở Vườn quốc gia Tràm Chim

- Đánh giá hiện trạng quản lý và đề xuất giải pháp quản lý

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 Đặc điểm sinh thái của cây tràm

Tràm là cây gỗ nhỏ, tán lá nhỏ, ưa sáng hoàn toàn, có vai trò tiên phong, sinh trưởng nhanh, ra hoa tháng 12 và tháng giêng, quả chín tháng 5, hạt tràm rất nhỏ phát tán nhờ gió

Tràm sinh trưởng trên đất phèn chua, nhưng không chịu được ngập úng quanh năm và chỉ thích hợp ở những nơi nước ngập định kỳ như những vùng trũng do

lũ sông Cửu Long tràn về

Tràm là cây lập quần ở các quần xã thực vật bị nhiễm phèn và ngập định kỳ.Tầng phèn sâu hay nông đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của rừng tràm Bộ rễ của rừng tràm ở Tứ giác Long Xuyên tập trung ở lớp đất 58cm – 68cm chiếm 92%, càng xuống sâu thì mức độ phèn càng nặng Rễ tràm không

Trang 4

vượt quá 75cm, xuống sâu hơn thì do ảnh hưởng của độ phèn mà rễ không phát triển được, còn ở tầng 20cm – 40cm rễ tràm không có mặt có lẽ do mùa khô, đất quá khô hạn gây nên Trong rừng tự nhiên trên đất than bùn chiều sâu bộ rễ có phạm vi hoạt động rộng hơn từ 42 – 82cm.

Tràm có nhiều loài Tràm lá dài (Melaleuca leucadendra), Tràm cừ hay Tràm gió (Melaleuca leucadendron); Vũ Văn Dũng 1996 giám định và láy tên lại là

M cajuputi và một số loài khác như M.argentia, M.dealbata, M.fluviatilis, M.quinquenervia, M.viridiflora…

2 Sự phân bố của rừng tràm

Rừng tràm phân bố trong những vùng trũng thấp của đất phèn ngập nước định

kỳ trong năm và sau rừng sác thì rừng tràm có lẽ là kiểu rừng tự nhiên chiếm ưu thế trong vùng ngập lũ ĐBSCL Rừng tràm tự nhiên còn sót lại ở Nam Bộ, tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng (Kiêng Giang), Tràm Chim (Đồng Tháp), Khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi (Cà Mau),Vườn chim Bạc Liêu (Bạc Liêu) và một

số nơi khác ở khu vực bán đảo Cà Mau

Các khu ngập nước, ngoài các khu rừng sác, còn lại chủ yếu là các khu rừng tràm phần lớn nằm ở đồng bằng sông Cửu Long phân bố tiếp sau rừng sác, có nơi phát triển sâu trong lục địa

Rừng tràm có thể chia thành nhiều loại tùy theo thành phần cơ giới và điều kiện hình thành đất, gồm các loại sau:

+ Rừng tràm giữa các triền cát: Sau lưng các rừng sác, trên các trũng bị ngập trong mùa mưa, trong điều kiện nước ngọt hay chua ít

+ Rừng tràm vùng trũng nội địa: Thoái hóa từ rừng nguyên thủy, phân bố ở các khu đất trũng nằm sâu nội địa

+ Bụi rậm tràm gió: trên các đất phèn nặng, ít ngập và rất khô vào mùa nắng+ Dồ cây: Tiêu biểu cho vết tích nguyên thủy của rừng hổn hợp ngập nước của vùng U Minh

+ Rừng tràm trên đất than bùn: phát triển trên đất có lớp than bùn khá dày, đây là kiểu rừng một tầng thoái hóa của cây Dồ do tác động của lửa rừng và con người chặt phá hàng năm Rừng này chủ yếu là tràm mọc gần thuần thay thế những loài cây khác trong các vồ mớp, vồ bùi, nhưng tầng cây bụi mua và tầng thảm choai, Dớn đang còn giữ nguyên trên đất than bùn, do đó giữ đất ẩm ướt vào mùa khô Nếu bảo vệ được lửa rừng và khai thác có chừa cây giống, bảo

Trang 5

đảm tái sinh thì có thể tái sinh rừng tràm hay phục hồi những vồ mớp, trâm, bùi

Do rừng tràm mọc dày nên cây cao đến 20 – 25m và đường kính đến 0,30 – 0,40m, nếu tỉa thưa dần để lấy các loại cừ 5, cừ 7 thì tổng sản lượng rất cao Tuy nhiên sản lượng rừng tràm trên đất than bùn vẫn thấp hơn rừng tràm trên đất sét.+ Rừng tràm trên đất sét: vì lửa rừng tàn phá hàng năm, lớp than bùn cháy ngún và sau cùng hoàn toàn bị hủy diệt để lộ ra đất sét ở bên dưới Là rừng chỉ

có một tầng do tràm mọc thuần loại vì lớp than bùn đã bị lửa cháy thêu chỉ còn một lớp mỏng hoặc trơ đến đất sét, tầng phèn tiềm tàng đã được lớp than bùn ém được Rừng ít dây leo, cây bụi mà chỉ còn Mua, Dớn, và đặc biệt là sậy đã xâm chiếm những chỗ trảng trống, do đó mùa mưa đất không giữ được ẩm như trên đất than bùn và đến mùa khô, lớp thảm tươi cũng khô héo và chỉ cần một mồi lửa nhỏ do thợ rừng vô ý, hay đốt cỏ đẻ lùa rắn, trăn, rùa là có thể gây những nạn cháy khủng khiếp

Trong tất cả các kiểu rừng tràm trên (trừ Dồ cây) đều là kiểu rừng thoái hóa từ rừng nguyên thủy mà vết tích còn lại hiện nay là các Dồ cây Các kiểu rừng này thường thuần là tràm với một số ít loài cây khác mọc lẻ tẻ như : chà là nước (Phoenix paludosa), dứa gai (Pandanus cayda), cà na (Elaeocarpus madopetalus), gừa (Ficus microcarpa) , cà dăm và các loại cây thân thảo như năng (Eleocharis dulcis), đưng (Seleria poaeformis), mồm mốc (Ishaemum indicum), cỏ ống (Panicum repens)

Rừng tràm trồng phổ biến ở nhiều nơi trong cả vùng đồng bằng sông Cửu Long Diện tích rừng tràm hiện chưa có số liệu thống kê chính xác, nhất là rừng trồng thường thay đổi do sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các hộ gia đình và các nông lâm trường trong vùng xảy ra thường xuyên

Rừng tràm (Melaleuca cajeputi) là kiếu sinh cảnh có đặc tính gần gũi với rừng nguyên thủy Sau thời gian chịu tác động của con người hiện nay rừng được trồng lại trong phạm vi các khu bảo vệ như rừng tràm tái sinh (Vườn Quốc gia Tràm Chim, Láng Sen, Nồi Gọ), hoặc dưới dạng rừng tràm trồng rải rác trong các tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang

Bụi rậm tràm (Melaleuca cajeputi) - Mua (Melastoma affine) là trạng thái thoái hóa của rừng tràm trên đất phèn nặng nhưng còn tầng đất hữu cơ dày, phân

bố ở vùng rìa của đồng ngập lũ chỉ ngập trung bình hoặc thấp dưới 1m hiện diện

ở Thủ thừa, Tân Thạnh (Long An), Cai Lậy, Châu Thành (Tiền Giang), Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang) và Hà Tiên (Kiên Giang).Trong hệ thực vật này tràm hiện diện thưa xen lẫn với các cây bụi như mua, và rải rác là các loài thân thảo: năng , bàng (Lepiromia articulata), hoàng đầu (Xyris indica), đũa bếp (Phylidrum lanuginosum)…

Trang 6

Bụi rậm tràm gió gặp ở Nồi Gọ, Thủy Đông (Long An), Tân Lập (Tiền Giang), Bắc Hà Tiên (Kiên Giang),dạng thảm thực vật này phân bố trên vùng ngập thấp, đất phèn nặng, tầng jarosite rất cạn và đặc biệt nằm trên lớp trầm tích đầm lầy biển ven thềm phù sa cổ, cấu trúc thảm thực vật này không còn tầng cây

gổ, tràm tăng trưởng chậm, phân nhánh sớm, đồng thời do tác động khai thác cành lá của con người, các quần thể này trở nên có dạng của trảng cây bụi thấp (có chiều cao trung bình từ 1,5 – 2,0m) tầng cỏ phát triển mạnh với các loài như : bàng, năng nỉ, đưng, mồm móc

3 Phác đồ diễn thế các quần xã thực vật có liên quan đến rừng tràm Tràm là loại rừng phát sinh đầu tiên trên vùng đất sét và tích lũy xác thực vật,

vỏ, thân, lá, cành của chính bản thân cây tràm và các loại thực vật khác, đặc biệt

là loài dương xỉ, và trong điều kiện thiếu oxy nên hình thành lớp than bùn Quá trình đó diễn biến lâu dài và nâng cao dần dần mặt đất rừng, sau đó những loài cây lá rộng khác như mốp, bùi, trâm mới xuất hiện và hình thành các vồ mốp, vồ trâm Từ đó mới xuất hiện hai giai đoạn kế tiếp của quá trình phát triển tự nhiên, sau rừng tràm trên đất sét là rừng tràm trên đất than bùn và rừng hổn giao mốp

và có cả tràm gió Còn chỗ nào không có hạt tràm trôi đến thì không có rừng chỉ

có những đồng cỏ như: bãi sậy, trảng bàng, đồng năng trên diện tích nhỏ và các lung bàu sen, súng, lá mạ Đó là cảnh quan nguyên sinh khi chưa có tác động của con người

Tràm có thể là loài cây đầu tiên trong hệ sinh thái rừng úng phèn, sau rừng ngập mặn và những rừng tràm nguyên sinh cây cao lớn đến 25-30m và có đường kính trên 60cm đã bị vùi lấp dưới lớp than bùn được gọi là tràm lụt, từ rừng tràm lụt nguyên thủy này, nếu lớp mùn tích lũy dày và đã hình thành lớp than bùn, thì

sẽ tiến lên thành rừng tràm trên đất than bùn và vồ mốp, vồ dơi trên đất than bùn

là đỉnh cực, đã ép được phèn và nước không còn chua phèn mà thành nước ngọt, hoặc trong mùa nước lớn nếu nước biển tràn lên đều có thể trở thành nước lợ.Hướng diễn thế thứ sinh thứ hai là rừng tràm tái sinh thành rừng tràm chồi, cây cũng cao lớn như tràm hạt, nhưng nếu bị chặt trắng, để đất xì phèn, nước bị phèn nặng thì thành rú bụi, tràm gió, cỏ mua và năng ngọt Cũng có trường hợp dưới rừng tràm có sẵn sậy thì sau khi rừng bị tiêu hủy sậy sẽ nhanh chóng xâm chiếm toàn bộ diện tích, tràm con bị trùm lên và chết và trở thành bãi sậy thuần loại Nếu bãi sậy bị chặt đi chặt lại nhiều lần đất phơi ra bị phèn nặng thì chỉ có

cỏ năng, cỏ bàng mọc được và ở đó hình thành đồng cỏ năng, cỏ sậy Nếu ở vùng đất trũng và có nước mặn tràn vào thành nước lợ hoặc phèn mặn thì thành đồng cỏ lác cùng mọc với cỏ năng, cỏ bàng, cỏ mồm và sẽ ổn định lâu dài thành đất hoang hóa với một diện tích lớn mà chưa có hướng cải tạo thành rừng hay

Trang 7

thành đất nông nghiệp trồng cây lương thực và cây công nghiệp

4 Thực trạng khai thác và sử dụng

Rừng tràm là rừng cây gổ lớn tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng úng phèn chiếm diện tích lớn trên các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau)

Trong kháng chiến chống pháp, phần lớn rừng tràm bị tàn phá để lấy cừ, lấy củi, làm ruộng lúa và hàng năm bị lửa rừng đốt cháy hàng ngan ha nhưng vẫn còn diện tích lớn Đến thời kỳ chống Mỹ rừng tràm mới bị pha hủy nghiêm trọng do chất độc hóa học Sau giải phóng nhằm thực hiện chủ trương mở rộng diện tích trồng lúa thì rừng tràm bị tàn phá nghiêm trọng nhất, hàng vạn ha đã bị chặt trắng để lấy cừ, lấy củi đốt than và bị cháy Nhiều lâm trường đã giao đất, giao rừng cho dân để họ tự do phá rừng làm lúa, nhưng khi bị xì phèn quá nặng thì bị bỏ hoang thành bãi sậy, đồng cỏ năng Mãi đến năm 1982 một số tỉnh Cà Mau, Hậu Giang, Long An, Kiên Giang đã có kế hoạch phục hồi lại rừng tràm,

áp dụng một số mô hình như: Kết hợp xạ hạt tràm trồng cây tràm con và xạ lúa nước (Cà Mau), rừng tràm-cá-ong-lúa (Long An), Kiên Giang sau khi trồng lúa thất bại thì phục hồi rừng tràm và một số nơi khác thì lên líp trồng bạch đàn trắng, dừa, điều, dưới mương trồng trâm và bàng cũng đã thành công

Hàng trăm ha đất ở Vườn quốc gia Tràm Chim đang dần biến thành tài sản riêng của nhiều cá nhân, cán bộ ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp) Những nỗ lực bảo tồn vùng đất ngập nước độc đáo của khu vực Đông Nam Á bị đe dọa nếu như đất rừng tiếp tục bị bao chiếm, môi trường bị xâm hại…!Theo Quyết định

số 253 ngày 29-12-1998 của Thủ tướng chính phủ, VQG Tràm Chim có diện tích 7.588 ha Nhưng trên thực tế, căn cứ theo kết quả đo đạc hồi cuối năm 2004 thì diện tích chỉ còn 7.313 ha mất 275 ha Phần đất “ bị mất” thuộc tuyến thị trấn Tràm Chim - xã Phú Hiệp, tuyến Nam khu A1 và khu A3 Gần đây, huyện Tam Nông còn đề nghị tỉnh cho lấy luôn khu đất 46 ha (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm khu hành chánh dịch vụ của VQG), nhưng UBND tỉnh không chấp thuận đề nghị VQG Tràm Chim đang được tài trợ 7 triệu USD để thực hiện chương trình bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững đất ngập nước

Mê Công Trong khi đó, các khu dân cư đang tiến gần sát VQG, một số cán bộ

“bao chiếm” xây tường kiên cố khiến “vùng đệm an toàn” cho sếu đầu đỏ và các loại chim quý hiếm ở VQG Tràm Chim đang biến mất! Nhiều người lo ngại nếu như tình trạng lấn chiếm đất rừng, can thiệp thô bạo vào môi trường tự nhiên sẽ tác động mạnh, làm biến đổi hệ sinh cảnh, môi trường của VQG Tràm Chim

5 Trồng và bảo vệ rừng tràm

Trang 8

Hiện nay thì rừng tràm vẫn được trồng ở những vùng úng phèn mà không có cây gì mọc được, vì hạt giống, cây mạ, cây con tràm đã thích nghi được với môi trường úng ngập phèn trong 4-5 tháng, nguồn hạt giống rất dồi dào và kĩ thuật

xạ hạt ương cây, trồng cây, chăm sóc cây khá đơn giản và nhân dân nắm rất vững, đặc biệt không cần đào kênh đắp líp, kết hợp với xạ lúa trong 2 năm đầu, cũng thu hoạch được 2-3 tấn lúa, do đó nhiều tỉnh vẫn tiếp tục trồng tràm

Rừng tràm bị hủy hoại đến mức báo động, cần bảo vệ tích cực và trồng thêm nhiều Diện tích đất phèn quá trũng, quá phèn khó sản xuất lúa có thể sử dụng trồng tràm kết hợp với nuôi ong mật như ở U Minh thượng, An Biên Một diện tích tràm thu lãi gấp 3 – 5 lần lúa, nên không chần chừ khi đưa diện tích khó trồng lúa vào trồng tràm Tràm có thể trồng dọc theo biên giới Campuchia, hoặc theo đường ranh của các vùng phèn để chắn gió hoặc chạy dọc theo kênh Rạch Giá, Hà Tiên cũng như trồng ở các vùng trũng của đất phèn nhiều, tích động phèn của Tri Tôn, đông nam huyện Bảy Núi

Điều lo sợ nhất là nạn cháy rừng tràm trong mùa khô, tiêu hủy hàng vạn ha rừng và năm nào cũng xảy ra, và do nhân dân gây ra do sơ suất hay có ý đốt rừng để bắt rùa, rắn, lấy mật ong Phòng chống lửa cho rừng tràm rất quan trọng Bên cạnh việc giáo dục ý thức phòng cháy cho người dân cần thiết áp dụng một số biện pháp cần thiết khác như đào kênh rạch vừa là đường hổ trợ cho vận chuyển sản phẩm khi khai thác vừa là đai phòng lửa Đồng thời cần đắp đập giữ nước vào cuối mùa mưa, trong mùa khô cần tổ chức tuần tra và nhắc nhở người dân tránh dùng lửa khi lấy mật ong

Rừng tràm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và môi trường ở Đồng bằng sông Cửu Long Các giống tràm nội địa (M.cajuputi) hiện có thường năng suất thấp, muốn có năng suất cao phải áp dụng các biện pháp thâm canh cần thiết, trong đó giống là khâu quan trọng nhất Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao (Lê Đình Khả, 1998)

Vùng ngập phèn An Giang nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, thường bị ngập trong mùa mưa, trong lúc các giống tràm nội địa lại sinh trưởng chậm, không chịu được ngập lâu ngày trong nước đục, nhiều phù sa (phù sa bám vào lá ngăn cản quá trình quang hợp của cây khi cây sống dưới mặt nước), nên hàng ngàn ha

ở Long An và An Giang đã bị thiệt hại Vì thế phải tìm được giống tràm sinh trưởng nhanh, có năng suất cao (nhằm giảm thời gian cây con bị ngập hoàn toàn trong nước) mới tăng được hiệu quả trồng rừng Khảo nghiệm các giống tràm trên đất ngập phèn ở An Giang là một trong những biện pháp thâm canh để tăng năng suất rừng tràm

Tràm có nhiều loài Tràm lá dài (M leucadendra ), Tràm gió (M cajuputi) và

Trang 9

các loài M argentia , M dealbata, M fluviatilis , M.quinquenervia, M.viridiflora … Ngoài xuất xứ An Giang của Tràm gió và M dealbata lấy từ Quảng Đông (Trung Quốc) thì các loài và xuất xứ khác đều lấy từ Australia Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn thị Bích Thủy(1993) ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (An Giang) thì ở giai đoạn 8 tuổi loài có tỷ lệ sống cao nhất ở

cả hai nơi khảo nghiệm là Tràm lá dài (M leucadendra) (94%), tiếp đó là M fluviatilis (84%) và Tràm gió (M cajuputy) (16-78%) Các loài còn lại đều có tỷ

lệ sống thấp (8-66%) không đạt yêu cầu trồng rừng Hơn nữa trong lúc Tràm lá dài có tỷ lệ sống cao ở cả hai nơi thì các loài tràm khác ở Tri Tôn đều có tỷ lệ sống cao hơn ở Tịnh Biên, ngay xuất xứ địa phương của Tràm gió ở Tri Tôn có

tỷ lệ sống 71% thì ở Tịnh Biên chỉ đạt 3% Chứng tỏ mức độ ngập sâu với thời gian ngập 4-5 tháng ở Tịnh Biên đã ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống của tràm và Tràm lá dài có thể tích thân cây gấp ba lần Tràm gió của ta Tràm lá dài cũng là loài có chiều cao dưới cành lớn nhất , rất thích hợp cho việc làm cọc cừ Các loài tràm còn lại đều có sinh trưởng rất kém, đặc biệt là M dealbata, sau 8 năm chỉ đạt chiều cao 4,0 - 4,3 m với đường kính 5,5 - 5,7cm, ở Tri Tôn (nơi có độ ngập phèn nông hơn và thời gian ngập ngắn hơn) tất cả các loài tràm được khảo nghiêm đều có sinh trưởng nhanh hơn ở Tịnh Biên (nơi có độ ngập phèn sâu hơn

và thời gian ngập lâu hơn)

Hai chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất được đánh giá là chiều cao dưới cành

và độ thẳng thân cây Các loài cây được khảo nghiệm ở Tri Tôn đều có hai chỉ tiêu này cao hơn ở Tịnh Biên Mặt khác Tràm lá dài là loài có chiều cao dưới cành khá nhất (7,9 - 8,1 m ở Tri Tôn và 4,3 - 4,4 m ở Tịnh Biên) Loài có chất lượng thân cây khá tiếp theo là Tràm gió (ở Tịnh Biên loài này thậm chí có độ thẳng thân cây khá hơn Tràm lá dài) Các loài tràm còn lại không những có sinh trưởng kém mà chỉ số chất lượng cũng thấp hơn Tràm lá dài và Tràm gió Tràm

lá dài cũng là loài có sức sống cao nhất (chỉ số sức sống ở Tri Tôn là 4,6-4,8, ở Tịnh Biên là 3,9-4,0) Loài sinh trưởng kém nhất là M dealbata thì chỉ số sức sống cũng thấp nhất (ở Tri Tôn là 2,2-2,6, ở Tịnh Biên là 2,8-3,1)

Như vậy 7 loài tràm được khảo nghiệm tại An Giang thì Tràm lá dài (xuất xứ Weipa và Rifle Creek của Australia) là loài cây có sinh trưởng nhanh nhất Đây cũng là loài có tỷ lệ sống 93-96%, có đoạn thân dưới cành lớn nhất và độ thẳng thân cây tốt nhất Tràm gió (xuất xứ địa phương và xuất xứ Mossman của Australia) là loài có sinh trưởng và các chỉ tiêu khác chỉ đứng sau Tràm lá dài Tại Tri Tôn xuất xứ Mossman có tỷ lệ sống 85%, xuất xứ An Giang có tỷ lệ sống 71%; tại Tịnh Biên hai xuất xứ này có tỷ lệ sống tương ứng là 29% và 3% Trong các loài tràm còn lại thì M fluviatilis tuy có tỷ lệ sống 84%, song sinh trưởng chậm, các loài khác vừa có tỷ lệ sống thấp vừa sinh trửng chậm, nên không thể dùng để trồng rừng ở An Giang Ở Tri Tôn đất bị ngập nông hơn và

Trang 10

thời gian ngập ngắn hơn nên nhiều loài tràm có tỷ lệ sống cao hơn và sinh trưởng nhanh hơn ở Tịnh Biên.

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian – địa điểm

− Thời gian thực hiện: từ 25/09/2016 – đến 5/10/2016

o 27/09/2016 viết và hoàn chỉnh đề cương

o 29/09/2016 xử lý số liệu và viết báo cáo

3.2 Phương tiện nghiên cứu

− Văn phòng phẩm

3.3 Phương pháp nghiên cứu

− Thu thập tài liệu thứ cấp: Qua sách, báo, internet, …

− Xử lý - thống kê số liệu

− Viết báo cáo

3.4 Đối tượng nghiên cứu

Đa dạng sinh học và hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim

Trang 11

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Giới thiệu chung về Vườn quốc gia Tràm Chim

4.1.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Tràm Chim nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tọa độ địa lý 10°40′ – 10°47′ vĩ bắc, 105°26′ - 105°36′ Đông với tổng diện tích 7.313 ha nằm trong địa giới của 5 xã (Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành B, Phú Thọ, Tân Công Sính) và Thị trấn Tràm Chim, với số dân trong vùng là 30.000 người Là khu đất ngập nước, được xếp vào hệ thống rừng ngập mặn ở Việt Nam

Hình 1 Vị trí tại Việt

Nam

4.1.2 Lịch sử hình thành

Năm 1985, Tràm Chim được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọi là Công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích là trồng tràm và khai thác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của Đồng Tháp Mười

Trang 12

Chim cấp tỉnh, nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii).

Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia, theo Quyết định số 47/TTg ngày 2 tháng 2 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ kèm theo thông tư số 4991/KGVX, với diện tích 7.500 ha Tháng 9 năm 1998, dự án đầu tư của khu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim được Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II Thành phố Hồ Chí Minh chỉnh sửa theo

đó diện tích khu bảo tồn là 7.313 ha

Năm 1998, nơi đây trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim theo Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ

+ Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành một mẫu chuẩn quốc gia về hệ sinh thái đất ngập nước vùng lụt kín Đồng Tháp Mười

+ Bảo tồn những giá trị độc đáo về văn hóa, lịch sử và nghiên cứu, khai thác hợp lý hệ sinh thái của vùng vì lợi ích quốc gia và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường sinh thái chung của vùng Đông Nam Á

Ngày 22/5/2012, Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) được Ban Thư ký Công ước Ramsar công nhận là khu Ramsar của thế giới Đây là khu Ramsar 4 của Việt Nam và là khu Ramsar 2.000 của thế giới

4.1.3 Địa hình

Trang 13

4.1.4 Khí hậu và thủy văn

- Nhiệt độ: Nhiệt độ ở đây cao quanh năm và tương đối ít biến động, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 °C, nhiệt độ thấp hơn khoảng 1-2 °C vào cuối mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 2) và tăng lên khoảng 1-2 °C vào các tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 6) Nhiệt độ cao nhất là 37 °C vào tháng tư và thấp nhất là khoảng 16 °C

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 - 83% Độ ẩm cao nhất có thể lên đến 100% và thấp nhất là 35-40%

- Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là hướng Tây–Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước và gây mưa Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông–Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s Bão hầu như không ảnh hưởng đến Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn mưa chưa từng xảy ra

- Lượng mưa: Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.650mm/năm Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, hơn 90% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất, thời tiết hầu như không có mưa Số ngày mưa trung bình đo được tại Vườn quốc gia Tràm Chim khoảng 110-160 ngày/năm

- Chế độ nước: Vườn quốc gia Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng châu thổ sông MeKong, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông MeKong thông qua

hệ thống kinh thủy lợi (kênh Hồng Ngự–Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp) tràn vào nội đồng và bị ngập lũ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 12 Vườn quốc gia Tràm Chim được chia thành 5 vùng quản lý khác nhau (A1-A5), mỗi khu vực được bao bọc xung quanh bởi hệ thống kênh và đê với tổng chiều dài

Trang 14

lên đến 59 km Mực nước bên trong vườn quốc gia được điều tiết thông qua hệ thống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh Hiện nay, để giảm rủi ro do lửa vào mùa khô, mực nước bên trong vườn quốc gia luôn được giữ ở mức cao hơn những điều kiện trong quá khứ Thành phần thực vật, phân bố và tốc độ sinh trưởng đã bị ảnh hưởng bởi những tác động này.

INCLUDEPICTURE

Trang 15

- Đất xám điển hình (Typic Tropaquults), khoảng 476 ha.

- Đất xám đọng mùn (humic Tropaquults),khoảng 274 ha

- Các nhóm đất dốc tụ trên nền trầm tích Proluvi chiếm diện tích 1.559 ha

- Các nhóm đất phù sa có phèn: Trầm tích sông - biển (amQ22-3) chồng lên lớp trầm tích đầm lầy - biển (bmQ22-3) hình thành những vạt đất phù sa có tầng sinh phèn (sulfidic) (sulfic Tropaquents, sulfic Tropaquepts, sulfic Hydraquents)

và đất phù sa có tầng phèn (sulfuric) chứa các khoáng jarosit

- Đất phèn hoạt động (Sulfaquepts), hình thành từ nền trầm tích đầm lầy biển (bmQ22-3) với diện tích khoảng 355 ha, phân bố nhiều nhất tại khu A5 Độ chua của đất: pH chỉ khoảng từ 2,0 – 3,2

4.2 Cấu trúc và đa dạng hệ sinh thái vườn quốc gia Tràm Chim

4.2.1 Đa dạng hệ sinh thái thực vật

Với các yếu tố tự nhiên: trầm tích, địa mạo, và đặc tính đất khá đa dạng, từ đất xám, phát triển trên nền trầm tích cổ Pleistocen, đến những nhóm đất phù sa mới và đất phèn phát triển trên trầm tích trẻ Holocen đã góp phần làm

đa dạng các quần xã thực vật tự nhiên Kết quả khảo sát từ 2005–2006 ghi nhận được 130 loài thực vật, với 6 kiểu quần xã đặc trưng như: Quần xã sen, lúa ma, năn, cỏ ống, mồm mốc và rừng xã rừng tràm các quần xã này phân bố xen kẻ với nhau tạo thành hệ sinh thái đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười

4.2.1.1.Quần xã Tràm

Thảm rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích đáng kể, nhất là tại khu vực VQG Tràm Chim (diện tích khoảng 2.968 ha) Do tác động con người, hầu hết những cánh rừng Tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng Tràm trồng, thuộc loài

Trang 16

Melaleuca cajuputi, nhưng do được bảo tồn nhiều năm, nên có những cụm Tràm phân bố theo kiểu tự nhiên Hai kiểu phân bố rừng Tràm được ghi nhận là rừng Tràm tập trung và rừng Tràm phân tán.

Hình 4 Cây Tràm trên đất phèn

ở VQG Tràm Chim

4.2.1.2.Quần xã Mồm mốc

Đồng cỏ mồm (Ischaemum sp); chiếm diện tích khá nhỏ so với các cộng đồng thực vật khác Bao gồm mồm đơn thuần và quần xã mồm – cỏ ống (Ischaemum sp –Panicum repens) Phân bố hiện diện chủ yếu trên những dải liếp, bờ đất có địa hình cao cục bộ trong một vùng địa hình thấp

Hình 5 Cỏ mồm mốc

4.2.1.3 Quần

xã Sen

Đầm sen (Nelumbo

nucifera) xuất hiện tại các khu vực đất thấp ngập nước quanh năm Loài ưu thế là Sen (Nelumbo nucifera),

có sự tham gia của Súng (Nymphaea pubessens, Nymphoides tetragona) Đôi chỗ xuất hiện các loài Năng (Eleocharis atropurpurea, Eleocharis dulcis), Dừa nước (Ludwigia adscendens) và các loài thuộc họ Poaceae

Hình 6 Đồng sen ở

Ngày đăng: 03/11/2016, 13:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Vị trí tại Việt - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 1. Vị trí tại Việt (Trang 11)
Hình 5. Cỏ mồm  mốc - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 5. Cỏ mồm mốc (Trang 16)
Hình 4. Cây  Tràm trên đất phèn - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 4. Cây Tràm trên đất phèn (Trang 16)
Hình 6. Đồng sen ở - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 6. Đồng sen ở (Trang 16)
Hình 7. Cỏ ống (cỏ chỉ) - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 7. Cỏ ống (cỏ chỉ) (Trang 17)
Hình 8. Hoàng  đầu Ấn và cỏ  năng kim ở VQG  Tràm Chim - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 8. Hoàng đầu Ấn và cỏ năng kim ở VQG Tràm Chim (Trang 18)
Hình 10. Đồng lúa trời ở vườn quốc gia Tràm Chim - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 10. Đồng lúa trời ở vườn quốc gia Tràm Chim (Trang 20)
Hình 11. Thu hoạch "lúa ma" ở Đồng Tháp - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 11. Thu hoạch "lúa ma" ở Đồng Tháp (Trang 21)
Hình 12. Diệc lửa kiếm ăn ở Tràm Chim - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 12. Diệc lửa kiếm ăn ở Tràm Chim (Trang 22)
Hình 13. Sếu đầu đỏ ở Vườn quốc gia Tràm Chim - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 13. Sếu đầu đỏ ở Vườn quốc gia Tràm Chim (Trang 23)
Hình 15. Người dân được cho phép đánh cá trong Vườn Quốc Gia Tràm - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 15. Người dân được cho phép đánh cá trong Vườn Quốc Gia Tràm (Trang 24)
Hình 16. Vườn quốc  gia Tràm Chim mùa  ngập nước - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 16. Vườn quốc gia Tràm Chim mùa ngập nước (Trang 25)
Hình 17. Hệ sinh thái thực vật ở Vườn quốc gia Tràm Chim - Tiểu luận Đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
Hình 17. Hệ sinh thái thực vật ở Vườn quốc gia Tràm Chim (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w