MỞ ĐẦU Hệ thực vật vùng ngập mặn và ven biển Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế tác hại của thiên tai, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, giữ phù sa, duy trì đa dạng sinh học và là vùng đệm an toàn giữa biển và đất liền. Sự đa dạng của thảm thực vật vùng ngập mặn ven biển không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn có giá trị to lớn trong việc khai thác nguồn dược phẩm quý báu này. Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và rất đặc hữu ở vùng ven biển, các loài thực vật ở đây tạo ra các hợp chất thứ cấp rất phong phú, đóng vai trò quan trọng tạo nên các hoạt tính sinh học thú vị. Rất nhiều loài cây vùng ngập mặn và ven biển đã được sử dụng trong dân gian để phòng và chữa nhiều loại bệnh. Tuy nhiên, chúng đang dần biến mất hoặc bị xóa sổ hoàn toàn do một số yếu tố tác động như nước biển dâng, hoạt động khai thác du lịch, phá rừng ngập mặn để phát triển đô thị, bến cảng, làm đầm nuôi tôm, đổ chất phế thải, sử dụng hóa chất, vv… Vịnh Hạ Long là nơi chứa đựng đầy đủ các giá trị về địa chất, địa mạo và đa dạng sinh học. Ở đó, một số quần xã các loài thực vật khác nhau được tìm thấy như loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi, vách đá vôi, đỉnh núi hoặc ở cửa hang. Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện 19 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long. Trong đó có một số loài như Hedyotis lecomtei, Allophylus leviscens, Chirita gemella,... Đại đa số các loài thực vật này chưa được nghiên cứu về hóa học và dược lý học. Rừng ngập mặn ven biển Cần Giờ và Sóc Trăng là quần thể các loài động, thực vật trên cạn và thủy sinh được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo và điển hình của vùng ngập mặn với trên 150 loài thực vật. Đây là địa điểm lí tưởng cho công tác nghiên cứu khoa học. Để đóng góp vào việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống các hợp chất có hoạt tính sinh học từ các loài thực vật vùng ven biển và ngập mặn, đồng thời đề xuất hướng khai thác và bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài thực vật này ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài thực vật vùng ven biển Cần Giờ, Sóc Trăng và Vịnh Hạ Long”. Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu thành phần hoá học của hai loài Chirita drakei ở vịnh Hạ Long và Dolichandrone spathacea ở Sóc Trăng nhằm tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo. Nội dung luận án bao gồm: 1. Phân lập các hợp chất từ lá và thân cành hai loài Chirita drakei thu hái tại vịnh Hạ Long và Dolichandrone spathacea thu hái tại vùng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng bằng phương pháp sắc ký cột. 2. Xác định cấu trúc hoá học các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ IR, MS, 1D-NMR, 2D-NMR. 3. Đánh giá hoạt tính độc tế bào, hoạt tính kháng viêm, hoạt tính hạ đường huyết, hoạt tính chống oxi hóa và hoạt tính kháng vi sinh vật của các dịch chiết và các hợp chất phân lập được.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT VÙNG VEN BIỂN CẦN GIỜ, SÓC TRĂNG VÀ VỊNH HẠ LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1H-NMR Proton Nuclear Magnetic
Resonance Spectrocopy
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton
13C-NMR Carbon-13 Nuclear Magnetic
HR-ESI-MS High Resolution Electron Spray
Ionization- Mass Spectrocopy
Phổ khối phân giải cao ion hóa bằng phun mù điện tử
NOESY Nuclear Overhauser Effect
Spectrocopy
Hiệu ứng NOE
IR Infrared Spectrocopy Phổ hồng ngoại
IC50 Inhibitory concentration 50% Nồng độ ức chế 50% tế bào thử
nghiệm
KB Human epidermic carcinoma Ung thư biểu mô ở người HepG2 Human hepatocellular carcinoma Ung thư gan ở người
Lu Human lung carcinoma Ung thư phổi ở người
MCF-7 Human breast carcinoma Ung thư vú ở người
MKN7 Human gastric cancer Ung thư dạ dày ở người
chuột LNCaP Human prostate edenocarcinoma Ung thư tuyến tiền liệt ở người HL-60 Human promyeloccytic leukemia Ung thư máu cấp tính ở người SK-Mel2 Human malignant melanoma Ung thư da ở người
SW626 Human ovarian adenocarcinoma Ung thư buồng trứng ở người
Trang 6SW480 Human colon adenocarcinoma Ung thư đại tràng ở người
RD Human rhabdomyosarcoma Ung thư cơ vân ở người
TNF-α Tumor necrosis factor alpha Yếu tố hoại tử khối u
HEPES Acid
4-(2-hydroxyethyl)-1-piperazineethanesulfonic MTT 3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-
diphenyltetrazolium bromide DPPH 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl
LPS Lipopolysaccharides
L-NMMA NG-methyl-L-arginine acetate
ATCC American Type Culture
(ppm) DCM Dichloromethane
EtOAc Ethyl acetate
DMSO Dimethyl Sulfoxide
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 11MỞ ĐẦU
Hệ thực vật vùng ngập mặn và ven biển Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế tác hại của thiên tai, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, giữ phù sa, duy trì đa dạng sinh học và là vùng đệm an toàn giữa biển và đất liền Sự đa dạng của thảm thực vật vùng ngập mặn ven biển không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn có giá trị to lớn trong việc khai thác nguồn dược phẩm quý báu này Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và rất đặc hữu ở vùng ven biển, các loài thực vật ở đây tạo
ra các hợp chất thứ cấp rất phong phú, đóng vai trò quan trọng tạo nên các hoạt tính sinh học thú vị Rất nhiều loài cây vùng ngập mặn và ven biển đã được sử dụng trong dân gian để phòng và chữa nhiều loại bệnh Tuy nhiên, chúng đang dần biến mất hoặc bị xóa sổ hoàn toàn do một số yếu tố tác động như nước biển dâng, hoạt động khai thác du lịch, phá rừng ngập mặn để phát triển đô thị, bến cảng, làm đầm nuôi tôm, đổ chất phế thải, sử dụng hóa chất, vv…
Vịnh Hạ Long là nơi chứa đựng đầy đủ các giá trị về địa chất, địa mạo và đa dạng sinh học Ở đó, một số quần xã các loài thực vật khác nhau được tìm thấy như loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi, vách
đá vôi, đỉnh núi hoặc ở cửa hang Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện 19 loài
thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long Trong đó có một số loài như Hedyotis
lecomtei, Allophylus leviscens, Chirita gemella, Đại đa số các loài thực vật này
chưa được nghiên cứu về hóa học và dược lý học
Rừng ngập mặn ven biển Cần Giờ và Sóc Trăng là quần thể các loài động, thực vật trên cạn và thủy sinh được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo và điển hình của vùng ngập mặn với trên 150 loài thực vật Đây là địa điểm lí tưởng cho công tác nghiên cứu khoa học
Để đóng góp vào việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống các hợp chất có hoạt tính sinh học từ các loài thực vật vùng ven biển và ngập mặn, đồng thời đề xuất hướng khai thác và bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài thực
vật này ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học
và hoạt tính sinh học của một số loài thực vật vùng ven biển Cần Giờ, Sóc Trăng
và Vịnh Hạ Long”
Trang 12Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu thành phần hoá học của hai loài Chirita
drakei ở vịnh Hạ Long và Dolichandrone spathacea ở Sóc Trăng nhằm tìm kiếm
các hợp chất có hoạt tính sinh học, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo Nội dung luận án bao gồm:
1 Phân lập các hợp chất từ lá và thân cành hai loài Chirita drakei thu hái tại vịnh Hạ Long và Dolichandrone spathacea thu hái tại vùng ngập mặn tỉnh Sóc
Trang 13có ít nhất 508 loài, 347 chi thuộc 113 họ thực vật bậc cao có mạch Trong đó lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có 86 họ, 295 chi, 431 loài; lớp Hành (Liliopsida) có 15
họ, 44 chi, 55 loài [1]
Hệ thực vật Hạ Long được ghi nhận có 19 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; trong đó có 15 loài được ghi nhận là các loài đặc hữu hẹp, mới chỉ được tìm thấy trên các đảo Cát Bà, Hạ Long; 4 loài là các loài đặc hữu của vùng Đông Bắc Việt Nam Tại Hạ Long, ghi nhận có 25 loài thực vật quý hiếm Ở mức độ quốc gia,
có 21 loài thực vật phân bố ở Hạ Long có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), trong đó có 1 loài ở cấp độ rất nguy cấp (CR), 7 loài ở cấp độ nguy cấp (EN), 13 loài ở cấp độ sẽ nguy cấp (VU); 6 loài có tên trong Phụ lục của Nghị định số 32 2006-NĐCP, trong đó 1 loài thuộc nhóm I (nghiêm cấm mọi hình thức khai thác buôn bán với mục đích thương mại), 5 loài thuộc nhóm II (hạn chế khai thác buôn bán với mục đích thương mại) Ở cấp độ quốc tế, có 1 loài xếp ở mức nguy cấp (EN) và 1 loài ở mức gần bị đe dọa (NT) [1] Các nhà khoa học trong nước đã và đang tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá, góp phần bảo vệ, duy trì, khai thác nguồn gen quí hiếm của các loài thực vật đặc hữu ở vùng Vịnh Hạ long Tuy nhiên, đại đa số các loài thực vật này chưa được nghiên cứu về hóa học và dược lý học
Trang 14Bảng 1.1 Các loài thực vật đặc hữu được phân bố trên các đảo ở vịnh Hạ long [1]
STT Tên khoa học Tên Việt Nam Họ thực vật Ghi chú
Kiew & T H Nguyen
Bà, Hạ Long
3 Impatiens halongensis
Kiew & T H Nguyen Bóng nước hạ long Balsaminaceae Đặc hữu của Cát Bà, Hạ Long
4 Cycas tropophylla K
D Hill & P K Lôc
Kiew & T H Nguyen Cầy ri hạ long Gesneriaceae Đặc hữu của Cát Bà, Hạ Long
8 Chirita hiepii Kiew &
T H Nguyen Cầy ri hiệp Gesneriaceae Đặc hữu của Cát Bà, Hạ Long
9 Chirita modesta Kiew
& T H Nguyen Cầy ri ôn hoà Gesneriaceae Đặc hữu của Cát Bà, Hạ Long
Trang 15Cho đến nay mới chỉ có một số tài liệu của nhóm tác giả Phạm Đức Thắng và
Khiếu Thị Tâm công bố về thành phần hóa học của loài cọ Hạ Long Livistona
halongensis [2] và loài Ngoại Mộc Tái Allophylus leviscens [3] Kết quả cho thấy có
rất nhiều hợp chất có cấu trúc lý thú thuộc các lớp chất như sterol, flavan và các hợp chất khác
Các hợp chất triterpenoid khung sterol: Các steroid cyclomusalenon (1),
cycloleucadenon (2), 3β-cyclomusalenol (3) có nhóm thế methyl ở vị trí C-4, C-13,
C-14, một vòng cyclopropan ở vị trí C-9 và C-10 và nhóm thế
2,3-dimethylhept-1-en-7-yl đã được phân lập Cùng với các phytosterol, stigmast-4-en-3-on (4),
stigmasterol (5), β-sitosterol (6), daucosterol (7) cũng được tìm thấy ở loài Livistona
halongensis [2]
Các hợp chất flavonoid khung flavan: methoxyflavan (8), 2R,3R-3,7,3’-trihydroxy-5’-methoxyflavan 5-O--
2S,3S-3,5,7,3’-tetrahydroxy-5’-glucopyranoside (9) [2] và catechin (10) [3]
Trang 16 Các hợp chất khác: 6-O-acetyl-2R,8-dimethyl-2-(4R,8R,11-trimethyl
tridecence-12)chroman (11) [3], 3,5,3’,5’-tetrahydroxy-4-methoxystilben (12), sacharose octaacetate (13), 1,6,10,14-phytatetraen-3-ol (14) [2]
1.1.2.2 Hoạt tính sinh học
Kết quả nghiên cứu về hoạt tính sinh học một số loài thực vật đặc hữu vùng vịnh Hạ Long cho thấy dịch chiết dichloromethane từ rễ cây Cọ Hạ Long có hoạt tính ức chế sự phát triển của 3 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là KB (ung thư biểu mô), LU (ung thư phổi) và HepG2 (ung thư gan) với các giá trị IC50 trong khoảng từ 24,15-96,48 μg/ml Đồng thời dịch chiết này cũng thể hiện khả năng kháng các
chủng vi khuẩn Gram (+) là Lactobacillus fermentum, Bacillus subtilis và
Staphylococcus aureus với giá trị IC50 lần lượt là 12,57; 155,83 và 56,68 μg/ml
Trong số các chất phân lập được thử hoạt tính, chất 8 thể hiện hoạt tính gây độc với
bốn dòng tế bào ung thư thử nghiệm ở người gồm: ung thư biểu mô (KB), ung thư phổi (LU), ung thư vú (MCF7), ung thư gan (HepG2) ở mức độ trung bình với các giá trị IC50 tương ứng 53,0; 68,37; 85; 72,29 g/ml [2] Chất 9 thể hiện khả năng kháng
chủng vi khuẩn Gram (+) Staphylococcus aureus với giá trị IC50 27,76 μg/ml [2] Theo tra cứu tài liệu, hoạt tính sinh học của các loài thực vật đặc hữu khác ở vịnh Hạ Long cho đến nay chưa được nghiên cứu
1.1.3 Tổng quan về chi Chirita, họ Rau tai voi (Gesneriaceae)
Họ Gesneriaceae gồm có 150 chi và 3000 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới trên thế giới Các loài thuộc họ này chủ yếu là các loài thảo mộc, dây leo hoặc cây bụi, một số loài được sử dụng làm cây cảnh và một số loài được sử dụng trong y học cổ truyền chủ yếu chống lại sốt, ho, cảm lạnh, rắn cắn, đau nhức, các bệnh truyền nhiễm và viêm Mặc dù, Gesneriaceae là một họ lớn nhưng vài thập kỉ qua
Trang 17chỉ có vài loài được nghiên cứu về thành phần hóa học Tổng cộng có 300 hợp chất
đã được báo cáo ở các loài thuộc họ Gesneriaceae bao gồm các nhóm chất flavonoid, terpenoid, steroid, phenol glucoside, phenol đơn giản, quinone, lignan, xanthone và hợp chất với bộ khung khác [4]
1.1.3.1 Chi Chirita trên thế giới
Chi Chirita thuộc họ Rau tai voi (Gesneriaceae) có nguồn gốc từ Indonesia,
Malaysia và miền nam Trung Quốc Theo các tài liệu đã công bố, đến nay các nhà khoa học đã phát hiện được trên 180 loài và khoảng 100 loài trong số đó là cây đặc
hữu của Trung Quốc (bảng 1.2) [5] Các loài thảo mộc thuộc chi Chirita được tìm
thấy ở Ấn Độ, các nước Đông Nam Á và được trồng để làm cảnh Cây cao từ 40–50
cm, thân mềm, dễ gãy, có lông mịn, lá hình trái tim, hoa năm cánh không đều, đa số
có màu xanh tím sẫm, ngoài ra còn có những màu khác [6]
Bảng 1.2 Danh sách các loài thực vật thuộc chi Chirita [5]
1 C adenonema Hilliard 94 C longii Z.Y Li
2 C anachoreta Hance 95 C longipedicellata B.L Burtt
3 C angusta (C.B Clarke) Theob & Grupe 96 C lunglinensis W.T Wang
4 C annamensis Pellegr 97 C lungzhouensis W.T Wang
5 C aratriformis D Wood 98 C lutea Y Liu & Y.G Wei
6 C asperifolia (Blume) B.L Burtt 99 C luzhaiensis Yan Liu, Y.S Huang &
W.B Xu
7 C atroglandulosa W.T Wang 100 C macrodonta D Fang & D.H Qin
8 C atropurpurea W.T Wang 101 C macrophylla Wall
9 C auriculata J.M Li & S.X Zhu 102 C macrorhiza D Fang & D.H Qin
10 C baishouensis Y.G Wei, H.Q Wen &
S.H Zhong
103 C maguanensis Z.Y Li, H Jiang & H
Xu
12 C bicolor W.T Wang 105 C medica D Fang ex W.T Wang
13 C bifolia D Don 106 C micromusa B.L Burtt
14 C bimaculata D Wood 107 C minutihamata D Wood
15 C bogneriana B.L Burtt 108 C minutimaculata D Fang & W.T Wan
16 C brachystigma W.T Wang 109 C mishmiensis Debbarman ex Biswas
17 C brachytricha W.T Wang & D.Y Chen 110 C modesta R Kiew & T.H Nguyen
18 C brassicoides W.T Wang 111 C mollifolia D Fang, Y.G Wei & J Murata
19 C briggsioides W.T Wang 112 C mollis Miq
Trang 1820 C brunnea W.T Wang 113 C mollissima Ridley
21 C caerulea R Brown 114 C monantha W.T Wang
22 C caliginosa C.B Clarke 115 C monophylla C.B Clarke
23 C calva C.B Clarke 116 C moonii Gardner
24 C carnosifolia C.Y Wu ex H.W Li 117 C nandanensis S.X Huang, Y.G Wei
& W.H Luo
25 C colaniae Pellegr 118 C napoensis Z.Y Li
26 C cordifolia W.T Wang 119 C neoforbesii Hilliard
27 C corniculata Pellegr 120 C oblongifolia (Roxb.) Sinclair
28 C crassituba W.T Wang 121 C obtusidentata W.T Wang
29 C cruciformis (Chun) W.T Wang 122 C oculata Craib
30 C cyanea (Ridley) B.L Burtt 123 C ophiopogoides D Fang & W.T Wang
31 C cycnostyla B.L Burtt 124 C orthandra W.T Wang
32 C cyrtocarpa D Fang & L Zeng 125 C parvifolia W.T Wang
33 C depressa Hook f 126 C peduncularis B.L Burtt
34 C dibangensis B.L Burtt, S.K Srivast
& Mehrotra
127 C pinnata W.T Wang
35 C dielsii (Borza) B.L Burtt 128 C pinnatifida (Hand.-Mazz.) B.L Burtt
36 C dimidiata Wall ex C.B Clarke 129 C poilanei Pellegr
37 C dissimilis Hilliard 130 C polycephala (Chun) W.T Wang
38 C drakei B.L Burtt 131 C polyneura Miq
39 C eberhardtii Pellegr 132 C praeterita Hilliard
40 C eburnea Hance 133 C primulacea C.B Clarke
41 C elata Ridley 134 C pseudoeburnea D Fang & W.T Wan
42 C elphinstonia Craib 135 C pseudoheterotricha T.J Zhou, B Pan
& W.B Xu
43 C fangii W.T Wang 136 C pteropoda W.T Wang
44 C fasciculiflora W.T Wang 137 C puerensis Y.Y Qian
45 C fimbrisepala Hand.-Mazz 138 C pumila D Don
46 C flavimaculata W.T Wang 139 C pungentisepala W.T Wang
47 C floribunda W.T Wang 140 C purpureolineata (Kerr ex Craib) D Wood
48 C fordii (Hemsley) D Wood 141 C pycnantha W.T Wang
49 C forrestii Anthony 142 C reptans B.L Burtt & Panigrahi
50 C fruticola H.W Li 143 C ronganensis D Fang & Y.G Wei
52 C gemella D Wood 145 C rotundata Barnett
53 C glabra Miq 146 C rotundifolia (Hemsley) D Wood
54 C glabrescens W.T Wang & D.Y Chen 147 C rupestris Ridley
55 C glasgovii Ridley 148 C sclerophylla W.T Wang
Trang 1956 C grandibracteata J.M Li & Mich Möller 149 C secundiflora (Chun) W.T Wang
57 C gueilinensis W.T Wang 150 C semicontorta Pellegr
58 C guihaiensis Y.G Wei, B Pan & W.X Tang 151 C sericea Ridley
59 C halongensis R Kiew & T.H Nguyen 152 C shouchengensis Z.Y Li
60 C hamosa R Brown 153 C shuii Z.Y Li
61 C hedyotidea (Chun) W.T Wang 154 C sichuanensis W.T Wang
62 C heterostigma B.L Burtt 155 C sinensis Lindl
63 C heterotricha Merr 156 C skogiana Z.Y Li
64 C hiepii R Kiew 157 C smitinandii B.L Burtt
65 C hochiensis C.C Huang & X.X Chen 158 C spadiciformis W.T Wang
66 C hookeri C.B Clarke 159 C speciosa Kurz
67 C horsfieldii R Brown 160 C speluncae (Hand.-Mazz.) D Wood
68 C infundibuliformis W.T Wang 161 C spinulosa D Fang & W.T Wang
69 C insignis C.B Clarke 162 C subrhomboidea W.T Wang
70 C integra Barnett 163 C subulatisepala W.T Wang
71 C involucrata Craib 164 C swinglei (Merr.) W.T Wang
72 C jiuwanshanica W.T Wang 165 C tamiana B.L Burtt
74 C lacei (W.W Sm.) B.L Burtt 167 C tenuipes Hilliard
75 C lachenensis C.B Clarke 168 C tenuituba (W.T Wang) W.T Wang
76 C lacunosa (Hook f.) B.L Burtt 169 C tibetica (Franch.) B.L Burtt
77 C laifengensis W.T Wang 170 C tobaensis Hilliard
78 C langshanica W.T Wang 171 C tribracteata W.T Wang
79 C latinervis W.T Wang 172 C trisepala Barnett
80 C lavandulacea Stapf 173 C tubulosa Craib
81 C laxiflora W.T Wang 174 C umbrophila C.Y Wu ex H.W Li
82 C leei F Wen, Yue Wang & Q.X Zhang 175 C urticifolia Buch.-Ham ex D Don
83 C leiophylla W.T Wang 176 C varicolor D Fang & D.H Qin
84 C leuserensis Hilliard 177 C verecunda (Chun) W.T Wan
85 C liboensis W.T Wang & D.Y Chen 178 C vestita D Wood
86 C lienxienensis W.T Wang 179 C villosissima W.T Wang
87 C liguliformis W.T Wang 180 C viola Ridley
88 C limans (Miq.) B.L Burtt 181 C walkerae Gardner
89 C linearifolia W.T Wang 182 C wangiana Z.Y Li
90 C linglingensis W.T Wang 183 C wentsaii D Fang & L Zeng
91 C liujiangensis D Fang & D.H Qin 184 C xinningensis W.T Wang
92 C longgangensis W.T Wang 185 C yungfuensis W.T Wang
93 C longicalyx J.M Li & Y.Z Wang 186 C zeylanica Hook
Trang 201.1.3.2 Chi Chirita ở Việt Nam
Theo GS Phạm Hoàng Hộ, ở Việt Nam có khoảng 20 loài thuộc chi Chirita (bảng 1.3) [7] Theo tra cứu tài liệu cho thấy tất cả các loài Chirita ở Việt Nam đều
chưa được nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
Bảng 1.3 Danh sách các loài thuộc chi Chirita ở Việt Nam [7]
1 C anachoreta Hance Cày rita ẩn dật
2 C annamensis Pellegr Cày rita trung bộ
3 C aratriformis D Wood Cày rita ngái
4 C balansae Drake Cày rita balansa
5 C colaniae Pellegr Cày rita colani
6 C corniculata Pellegr Cày rita sừng
8 C drakei B.L Burtt Cày rita drake
9 C eberhardtii Pellegr Cày rita eberhardt
10 C gemella D Wood Cày rita một cặp
11 C hamosa R Brown Cày rita móc
12 C involucrata Craib Cày rita tổng bao
13 C lavandulacea Stapf Cày rita tím
14 C macrophylla Wall Cày rita lá to
15 C minutihamata D Wood Cày rita móc nhỏ
16 C poilanei Pellegr Cày rita poilanei
17 C pumila D Don Cày rita nhỏ
18 C semicontorta Pellegr Cày rita hơi quấn
19 C speciosa Kurz Cày rita to
20 C pellegriniana B.L.Burtt
synonym C swinglei (Merr.) W.T Wang
Song quả balansa
1.1.3.3 Ứng dụng chi Chirita trong y học cổ truyền
Trong số 186 loài thuộc chi Chirita đã biết có một số loài được sử dụng
trong y học dân gian làm thuốc chữa lao, cao huyết áp, khuẩn đường ruột, cầm máu
hoặc đắp ngoài vết thương [6, 8] Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Chirita
eburnea Hance được dùng làm thuốc trị ho ra máu và các bệnh suy giảm miễn dịch
[9-11] Chirita fimbrisepala, một loài phân bố chủ yếu ở miền Nam Trung Quốc và
được nhân dân ở đó dùng làm thuốc kháng viêm, như viêm gan, viêm ruột [12]
Thân cây Chirita longgangensis đã được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Quốc để điều trị bệnh viêm khớp, thiếu máu và gãy xương [13] Chirita hamosa
Trang 21chữa vết thương nhiễm trùng [4] Cho đến nay, trên thế giới chỉ có rất ít công trình
công bố về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài trong chi Chirita Mặc dù vậy, các nghiên cứu đó đã chỉ ra các kết quả đáng quan tâm
1.1.3.4 Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chi Chirita
Trong tổng số 186 loài của chi Chirita cho đến nay mới chỉ có năm loài công
bố kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học Đó là các loài Chirita calignosa,
Chirita eburnea, Chirita fimbrisepala, Chirita longgangensis, Chirita sinensis Các
nghiên cứu về thành phần hóa học cho thấy lớp chất trong chi này bao gồm phenylethanoid, quinone, flavonoid, triterpenoid và một số nhóm chất khác
Các hợp chất phenylethanoid
Các phenylethanoid được phân lập chủ yếu ở dạng phenylethanoid monoglucoside và diglycoside với các gốc caffeoyl, feruloyl thường gắn ở các vị trí C-2, C-3, C-4 và C-6 của đơn vị đường glucose trong phân tử Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học chỉ ra rằng các hợp chất phenylethanoid có phổ hoạt tính khá đa dạng như hoạt tính chống oxi hóa, hoạt tính kháng viêm, hoạt tính bảo vệ gan, hoạt
tính chống ung thư v.v [18, 19]
Trang 22Bảng 1.4 Các hợp chất phenylethanoid được phân lập từ chi Chirita
Các hợp chất khung anthraquinone cùng với các dẫn xuất của chúng được
tìm thấy khá phổ biến trong các loài thuộc chi Chirita Các dẫn xuất này thường có
nhóm hydroxyl hoặc hydroxymethylene gắn vào các vị trí trên khung anthraquinone Các hợp chất này thường có màu vàng sẫm hoặc màu cam, chúng
được phân lập từ các loài Chirita eburnea và Chirita longgangensis
Trang 23Bảng 1.5 Các hợp chất quinone được phân lập từ chi Chirita
Có bốn hợp chất flavonoid được phân lập từ các loài Chirita fimbrisepala và
Chirita calignosa thuộc ba loại khung chất tiêu biểu là flavone, flavonol và
antocyanidin Các nghiên cứu cho thấy hợp chất 45 thể hiện nhiều hoạt tính sinh
học đáng quan tâm như hoạt tính chống oxi hóa [20], ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư ở người như ung thư vú (MCF-7), ung thư dạ dày (SGC-7901), ung thư biểu mô cổ tử cung (Hela) và ung thư phổi (A549) [20] và kháng viêm [21]
O HO OGlc OAra
OMe OH O
HO MeO
OH O
OH O
O
OH O
OH O
O
HO HO O
HO
OH OH
Trang 24Bảng 1.6 Các hợp chất flavonoid được phân lập từ chi Chirita
Các nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài trong chi Chirita cho
thấy chúng đều chứa thành phần triterpenoid Các hợp chất triterpenoid phân lập
được từ các loài Chirita eburnea, Chirita fimbrisepala và Chirita longgangensis
thuộc các khung olean-12-en (49), urs-12-en (50) và sterol (51-58) Hợp chất 50 thể
hiện độc tính đối với các dòng tế bào ung thư phổi dòng A-549, tế bào bạch cầu lympho P-388 và L-1210 và tế bào ung thư mũi KB khi tiến hành thử nghiệm trên các tế bào da chuột [22, 23]
Trang 25Bảng 1.7 Các hợp chất triterpenoid được phân lập từ chi Chirita
nhiên các nghiên cứu cho thấy có nhiều hoạt tính thể hiện rất đáng chú ý Phân đoạn
ethyl acetate của dịch chiết ethanol cùng với hai hợp chất mới (37) và (38) của cây
Chirita eburnea Hance đều thể hiện hoạt tính tiêu diệt gốc tự do với giá trị IC50 tương ứng là 101,7 ± 5,2 µg/mL, 124,82 ± 8,4 µM, và 45,72 ± 3,6 µM, trong khi của ascorbat
là 86,91 ± 6,8 µM [9] Kết quả sàng lọc hoạt tính ức chế virus PRRSV cho thấy hợp
chất (27) và (49) được phân lập từ thân cây Chirita longgangensis thể hiện hoạt tính
yếu với giá trị IC50 tương ứng là 80,5 ± 16,9 μM và 43,2 ± 7,4 μM [16]
Trang 261.1.4 Tình hình nghiên cứu cây Cày rita drake
Tên khoa học: Chirita drakei Burtt
Tên đồng nghĩa: Primulina drakei (B.L Burtt) Mich.Möller & A.Weber
Tên Việt Nam: Cày rita drake
Chi: Chirita hoặc Primulina
Họ: Rau tai voi (Gesneriaceae)
Đặc điểm mô tả: Cây Chirita drakei là cây cỏ có thân cao khoảng 3-4 cm, to
6-7 mm Lá có phiến thon hẹp, to 4-6 x 1cm, nhọn hai đầu Hoa trên cọng dài 4-5
cm, cọng hoa dài 1,5 cm Phân bố chủ yếu ở Quảng Yên, Hạ Long [7]
Theo tra cứu tài liệu của chúng tôi, cho đến nay chưa có công bố về nghiên cứu hóa
học và hoạt tính sinh học của loài Chirita drakei
Hình 1.1 Cây Chirita drakei Burtt [7]
Kết luận: Qua nghiên cứu tài liệu cho thấy thực vật đặc hữu vùng Vịnh Hạ
long rất đa dạng, tuy nhiên các công trình công bố về thành phần hóa học và hoạt
tính sinh học của chúng còn rất ít Một số loài thuộc chi Chirita được sử dụng trong
y học cổ truyền có tác dụng chữa bệnh như viêm gan, trị ho, viêm khớp, thiếu máu, gãy xương Các công trình công bố về thành phần hóa học các loài thuộc chi
Chirita cho thấy chúng chứa nhiều lớp chất với cấu trúc đa dạng như các hợp chất
phenylethanoid glycoside, quinone, flavonoid, triterpenoid và các hợp chất khác
Tuy nhiên, các nghiên cứu về hoạt tính sinh học các loài thuộc chi Chirita còn rất
hạn chế Ở Việt Nam và trên thế giới chưa có công trình nào công bố về thành phần
hóa học cũng như hoạt tính sinh học loài Chirita drakei Burtt Việc nghiên cứu loài
này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm thành phần hóa học và định hướng nghiên cứu ứng dụng tiếp theo
Trang 271.2 Giới thiệu chung về thực vật vùng Cần Giờ, Sóc Trăng
1.2.1 Sơ lược về thực vật
Rừng ngập mặn (RNM) Cần Giờ là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam TP Hồ Chí Minh, có diện tích 75740 ha, trong đó vùng lõi 4721 ha, vùng đệm 41139 ha và vùng chuyển tiếp 29880 ha Với hệ động thực vật đa dạng, độc đáo, đặc trưng, RNM Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, là lá phổi xanh điều hòa thời tiết và cũng là nơi cung cấp nhiều loài thủy hải sản quý giá của khu vực Tây Nam Bộ, đồng thời được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới RNM Cần Giờ có vị trí địa lý rất đặc biệt, với hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, RNM vừa bị tác động của sông và biển Hàng năm, RNM nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều làm cho hệ động, thực vật nơi đây rất phong phú và đa dạng Các loại cây trong rừng trở thành nguồn cung cấp thức ăn và
là nơi trú ngụ của các loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác RNM Cần Giờ có 157 loài thực vật thuộc 76 họ, trong đó có 35 loài cây rừng ngập mặn thuộc 36 chi, 24 họ chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi - bần trắng cùng xu ổi Cây nước lợ có bần chua, ô rô, dừa lá, ráng Cây nông nghiệp có lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, cây ăn quả RNM Cần Giờ còn là phòng thí nghiệm phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái đặc biệt này [24]
Rừng ngập mặn ở Sóc Trăng chủ yếu là rừng phòng hộ bảo vệ môi trường có diện tích rừng là 280,9 ha, rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển có tổng diện tích RNM phòng hộ là 5300 ha trong đó Cù Lao Dung: 1000 ha; Long Phú: 800 ha; Vĩnh Châu: 3500 ha Tuy nhiên, qua đo đạc bằng công cụ viễn thám, diện tích rừng ven biển của Sóc Trăng đạt 9338 ha, trong đó, diện tích rừng trong phạm vi đường
bờ (ranh giới triều trung bình) là 3209 ha, ngoài ranh giới đường bờ là 6129 ha Trong đất RNM, rừng phòng hộ chủ yếu là rừng tràm (4300 ha) tập trung nhiều ở
Cù Lao Dung và Trần Đề, rừng Đước, rừng Mắm ở thị xã Vĩnh Châu Với sự phân
bố thực vật rừng như vậy, có thể thấy hệ sinh thái RNM trong vùng ven biển rất phong phú về chủng loại thực vật và động vật Đây là nơi có sản lượng sinh khối động thực vật lớn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng và cung cấp thức ăn quan trọng cho các
Trang 28loài cua, cá, tôm biển và nhiều loại khác có giá trị kinh tế lớn; bồi đắp đất đai, bảo
vệ vùng ven biển; tạo ra nơi cư trú cho nhiều loại động vật hoang dã RNM ven biển Sóc Trăng có 2 loài thuộc sách đỏ Việt Nam là: Đước và Mắm là hai loài chiếm ưu thế trong RNM Sóc Trăng Trong RNM, Mắm và Bần trắng là hai loài cây tiên phong lấn biển, tiếp đến là Đước chúng tạo thành quần thể hỗn giao với Mắm và thay thế dần Mắm để tạo nên quần thể Đước đơn loài Đước cũng là loài có giá trị kinh tế cao của rừng ngập mặn, nên thường được chọn là cây để trồng rừng Theo số liệu thống kê năm 2003 của phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam bộ, toàn tỉnh Sóc Trăng chỉ còn 2990,79 ha đất có RNM, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 884,07 ha, gồm rừng Bần 721,91 ha và rừng Mắm 162,16 ha Diện tích rừng trồng
là 2106,72 ha, gồm 1354,87 ha rừng Bần, 199,6 ha rừng Đước và 440,14 ha rừng Đước trồng xen trong rừng Mắm [25]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu một số loài thực vật vùng Cần Giờ, Sóc Trăng
Các nghiên cứu về thành phần hóa học thực vật vùng Cần Giờ, Sóc Trăng cho thấy các hợp chất phân lập được có cấu trúc rất đa dạng Các nghiên cứu về hóa học của các loài Bần mọc ở rừng ngập mặn Cần Giờ cho thấy các chất được phân lập chủ yếu thuộc các lớp chất steroid, triterpenoid, flavonoid, ligan, megastigmanes, phenolic
và các hợp chất khác [26] Dưới đây là cấu trúc các hợp chất được phân lập từ hai loài
Bần trắng (Sonneratia alba) và Bần ổi (Sonneratia ovata) thu hái tại Cần Giờ
COOH R
Trang 30Bảng 1.9 Các hợp chất được phân lập từ hai loài S ovata và S alba
6 β-sitosterol Sonneratia ovata [26]
51 β-sitosteryl-D-glucoside-6’-palmitate Sonneratia alba [26]
55 3-O-palmitoyl-β-sitosterol Sonneratia ovata [26]
59 Acid 3β-O-(E)-coumaroylalphitolic Sonneratia alba [26]
Trang 3163 Acid 3β-O-acetylursolic Sonneratia ovata [26]
65 Luteolin 7-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia ovata [26]
66 4’-O-methylluteolin 3’-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia alba [26]
67 3’-O-methylluteolin 7-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia ovata [26]
72 (-)-episyringaresinol Sonneratia ovata [26]
74 (+)-pinoresinol 4-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia alba [26]
75 (7S,8R)-dehydroconiferyl alcohol Sonneratia ovata [26]
77 (7S,8R)-5-methoxy dehydroconiferyl alcohol Sonneratia ovata [26]
79 (+)-isolariciresinol 9’-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia alba [26]
81 (-)-isolariciresinol 9’-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia ovata [26]
86 (S)-dehydrovomifoliol Sonneratia ovata [26]
88
101 Acid 3,3’-di-O-metylellagic Sonneratia alba [26]
102 Acid 3,3’,4-tri-O-metylellagic 4’-O-β-D- Sonneratia alba [26]
Trang 32glucopyranoside
103 6-O-galloyl-β-D-glucopyranose Sonneratia ovata [26]
104 Acid gallic 3-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia ovata [26]
105 Benzyl alcohol 6-O-galloyl-β-D-glucopyranose Sonneratia ovata [26]
108 Benzyl alcohol β-D-glucopyranoside Sonneratia alba [26]
109 Butan-2-ol 2-O-β-D-glucopyranoside Sonneratia ovata [26]
110 1-O-palmitoyl glyxerol Sonneratia alba [26]
Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào trên ba dòng tế bào ung thư cổ
tử cung (Hela), ung thư phổi tế bào lớn (NCI-H460), ung thư vú (MCF-7) và hoạt tính ức chế acetylcholinesterase trên một số cao chiết và các hợp chất sạch được
phân lập từ hai loài Bần trắng (Sonneratia alba) và Bần ổi (Sonneratia ovata) cho
thấy các cao chiết của hai loài này thể hiện hoạt tính yếu hoặc không có hoạt tính
Trong số các hợp chất thử nghiệm có ba hợp chất 75, 77, 106 thể hiện hoạt tính ức
chế tế bào ung thư vú MCF-7 với giá trị IC50 tương ứng là 146,9 ± 9,0; 114,5 ± 7,2;
112,8 ± 9,4 µM Hợp chất 107 thể hiện khả năng ức chế acetylcholinesterase
(AChE) với giá trị IC50 là 96,1 ± 14,5 µM [27]
Đậu dao biển (Canavalia maritima) thuộc loại dây leo mọc hoang ở vùng
ven biển Cần Giờ, Sóc Trăng với số lượng lớn Nhiều hợp chất flavonoid đã được phân lập từ loài này [28]
Trang 331.2.3 Tổng quan về chi Dolichandrone, họ Quao (Bignoniaceae)
Họ Quao (Bignoniaceae) là một trong những họ thực vật thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta), với khoảng hơn 107 chi và 900 loài [29] Trên thế giới, họ Quao phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, họ Quao có khoảng 8 chi với 22 loài và 3 taxon dưới loài [30] phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam, từ vùng ven biển đến núi cao, trong đó nhiều loài có giá trị làm thuốc, làm cảnh, cho gỗ, làm rau Riêng vùng Nam bộ Việt Nam có 7 chi với 8 loài và 1 taxon
dưới loài [31] Dolichandrone là một chi thuộc họ Bignoniaceae Trên thế giới có khoảng 10 loài thuộc chi này Các loài thuộc chi Dolichandrone (bảng 1.10) [32]
Bảng 1.10 Danh sách các loài thuộc chi Dolichandrone [32]
1 Dolichandrone alba (Sim) Sprague
2 Dolichandrone alternifolia (R.Br.) Seem
3 Dolichandrone arcuata (Wight) C.B.Clarke
4 Dolichandrone atrovirens (Roth) K.Schum
5 Dolichandrone columnaris Santisuk
6 Dolichandrone falcata (Wall ex DC.) Seem
7 Dolichandrone filiformis (DC.) Fenzl ex F.Muell
8 Dolichandrone heterophylla (R.Br.) F.Muell
9 Dolichandrone serrulata (Wall ex DC.) Seem
10 Dolichandrone spathacea (L.f.) Seem
Ở Việt Nam có ba loài là Quao cột (Dolichandrone columnaris), Quao răng (Dolichandrone serrulata), Quao nước (Dolichandrone spathace) Cả ba loài Quao
này thường được tìm thấy nhiều ở các tỉnh Bình Thuận, Bình Phước, Đồng Nai Riêng loài Quao nước còn được phân bố rải rác ở một số tỉnh từ miền Bắc tới miền Trung như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Quảng Nam [33]
1.2.3.1 Ứng dụng chi Dolichandrone trong y học cổ truyền
Dolichandrone falcata có nhiều đặc tính chữa bệnh và đã được dân gian
dùng làm thuốc [34, 35] Ở Philippin, lá cây dùng làm thuốc đắp vết thương và vỏ cây được dùng trị sự đầy hơi của phụ nữ sau khi sinh [36] Ngoài ra lá còn có tác
dụng trị tiểu đường [37] Hoa của loài Quao răng (Dolichandrone serrulata) được sử
dụng như rau ăn được [38]
Trang 341.2.3.2 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Dolichandrone
Năm 1955, từ vỏ của D falcata, Kincl đã tìm thấy chrysin (119) và
sapogenin (120) [39] Đến năm 1956, từ hạt của cây này, Kincl và Gedeo tiếp tục tìm thấy saponin (121) và một số sapogenin [40] Năm 1972, Subramanian và cộng
sự đã phân lập được một flavonoid là chrysin (119) cùng với hai dẫn xuất glycoside
của chrysin từ lá cây D falcata [41]
Năm 2009, từ cao ethyl acetate của gỗ cây D falcata, Aparna và cộng sự
phân lập được một phenylpropanoid glycoside mới là dolichandroside A (122) cùng
với 7 hợp chất đã được biết là verbascoside (123), aloesaponarin II (124), lapachon (125), lapachol (126), β-sitosterol (6), 8-hydroxydehydroiso-α–lapachon (127) và 3,8-dihydroxydehydroiso-α-lapachon (128) Nhóm tác giả trên cũng đã
α-nghiên cứu về hoạt tính hạ đường huyết và hoạt tính chống oxi hóa của dịch chiết
ethyl acetate của loài D falcata và một số hợp chất phân lập được Kết quả cho thấy
dịch chiết ethyl acetate thể hiện cả 2 hoạt tính trên ở mức độ trung bình với giá trị
IC50 lần lượt là 29,69 và 79,6 μg/ml Hợp chất (122) thể hiện cả 2 hoạt tính với giá
trị IC50 lần lượt là 18,73 và 31,25 μg/ml Trong khi đó chất (124) chỉ thể hiện hoạt
tính hạ đường huyết tương đối tốt với giá trị IC50 là 8,77 μg/ml [42]
Trang 35Năm 2006, Sinaphet và cộng sự phân lập được từ nhánh cây D serrulata một
phenol triglycoside mới là dolichandroside (129) cùng với 6 phenol triglycoside đã
biết là 2”-O-apiosylverbascoside (130), luteoside B (131), markhamioside A (132),
verbascoside (123), decaffeoyl-verbascoside (133), isoverbascoside (134) và một hợp chất iridoid glucoside là ixoside (135) [43] Theo nghiên cứu của một số nhà khoa
học Thái Lan dịch chiết nước và dịch chiết ethanol từ cây Dolichandrone serrulata
thể hiện hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính chống oxi hóa ở mức độ trung bình [44]
O O
O OH
O
OH OH
RO
HO
OH HO HO
O
O
OH OH HO
129 R = Me
O O HO OR
O
OH OH OH
HO HO
O
OH OH HO
O O OH O
HO OR
O
OH OH OH
COOH H
H OGlc
135
Năm 2015, từ hoa của loài D serrulata các nhà nghiên cứu của Thái Lan đã
phân lập được sáu hợp chất hallerone (136), acid protocatechuic (137), rengyolone (138), cleroindicin B (139), ixoside (135) và isomaltose (140) [45] Kết quả nghiên
cứu hoạt tính sinh học cho thấy các dịch chiết n-hexane, dichloromethane, ethyl
acetate, methanol của loài này thể hiện khả năng chống oxi hóa DPPH ở mức độ
yếu Hợp chất 137 thể hiện khả năng ngăn chặn gốc tự do DPPH và hydroxyl ở mức
độ trung bình với giá trị IC50 lần lượt là 25,6 ± 0,6 và 29,6 ± 0,4 µM [45]
O OH
O OH
O
O
OH HO
O
O
O
H 2 C OH OH
CH 2 OH OH
OH OH OH
OH
Trang 361.2.4 Tình hình nghiên cứu cây Quao nước
1.2.4.1 Đặc điểm thực vật
Tên khoa học: Dolichandrone spathacea (L f.) K Schum
Tên đồng nghĩa: Bignonia spathucea L.f., Spathodea rheedii Spreng.,
Dolichandrone rheedii (Spreng.) Seem
Tên Việt Nam: Quao nước
Chi: Dolichandrone
Họ: Quao hay Núc Nác (Bignoniaceae)
Đặc điểm mô tả: Cây đại mộc, cao 15–20 m, thân không thẳng, với nhiều
cành nhánh Lá kép lông chim một lần, lẻ, lá phụ không lông, mỏng, phiến không đối xứng, thường có 7–9 lá chét Lá chét hình trứng mác, dài 7–16 cm, rộng 3–7
cm, nhẵn cả hai mặt, màu đen khi khô Cụm hoa chùm rất ngắn ở đầu cành, mang 2–8 hoa Hoa màu trắng, mùi thơm nhẹ; sớm rụng; tràng màu trắng, dài 10–18 cm,
có 5 thùy cong, khía tai bèo; nhị 4, thụt vào trong ống tràn Mùa ra hoa từ tháng 4–
6 Hoa nở vào lúc bình minh và rụng trước khi mặt trời mọc Cần có loài bướm có vòi dài ăn đêm mới thụ phấn được Thường trong một cụm hoa chỉ có một hoa nở vào một thời điểm nhất định Trái là manh nang, thòng dài, tròn, nhọn Quả khô tự
mở, gân hình trụ, dài 40–60 cm, mang nhiều hạt dẹt, có cánh sube, rộng 1,5–2,3 cm Cây tái sinh bằng hạt [46]
Hình 1.2 Lá, hoa và quả cây quao nước (Dolichandrone spathacea) [38]
Phân bố: Cây mọc ở Ấn Độ, Campuchia, Malaisia, Indonesia, quần đảo Nuven
Caledoni Ở nước ta, cây thường mọc ở Quảng Ninh, Quảng Nam – Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp, An
Trang 37Giang Ở Nam bộ, loài Quao nước gặp rất phổ biến, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Cây mọc trên bùn, dựa rạch có triều và rừng sác, sau rừng sú vẹt và dọc các cửa sông, thường có dạng cây bụi và có khi cũng gặp ở những nơi gần bãi biển Ở vùng sau sú vẹt thường là cây gỗ, có khi chỉ mang lá trong một thời gian ngắn (vào mùa khô), cũng có lúc cây có cả lá và hoa quanh năm [38, 46]
1.2.4.2 Ứng dụng trong dân gian
Dân gian thường dùng lá Quao nước (Dolichandrone spathace) phối hợp với
ích mẫu, ngải cứu, cỏ gấu, muồng hoe để làm thuốc điều kinh, bổ huyết Cây còn dùng cho phụ nữ sau khi sinh uống vào cho khỏe người, ăn ngon cơm Vỏ và lá dùng làm thuốc nhuận gan Lá dùng trị hen suyễn Vỏ, rễ dùng làm thuốc tiêu độc Người
ta đã dùng rễ và lá quao nước phối hợp với rễ hoặc cây Ô rô chế thành biệt dược Ô rô – Quao làm thuốc giải độc nhuận gan Dân gian thường dùng vỏ cây, rễ và lá sao qua sắc nước để uống, hoặc dùng các bộ phận của cây nấu thành cao lỏng để dùng Hoa, trái non ăn được Gỗ và vỏ cây chữa dị ứng Hạt có tác dụng khử trùng Ở Ấn Độ, hạt còn được dùng phối hợp với gừng trị đau co thắt Ngoài ra cây còn cho gỗ, tham gia
cố định các bãi cát bùn sau thảm cây sú vẹt ở ven biển, cửa sông [47]
1.2.4.3 Thành phần hóa học
Theo tra cứu tài liệu cho đến nay ở cả Việt Nam và trên thế giới hiện chỉ có một công trình công bố về thành phần hóa học của vỏ quao nước Năm 2011, Thạc
sĩ Lê Minh Trí – Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh đã công bố kết quả
phân lập được 6 chất từ vỏ cây Quao nước là stigmasta-4-en-3-on (4),
stigmasta-1,4-dien-3-on (141), methyl 3,4-dimethoxycinnamate (142), acid ferulic (143), acid hydroxycinnamic (144), acid (E)-9-oxooctadec-10-enoic (145) [48]
Trang 38p-1.2.4.4 Hoạt tính sinh học
Năm 2007, một nhóm nhà khoa học Thái Lan khi sàng lọc hoạt tính ức chế enzym sucrase và maltase trên chuột của một số cây thuốc dân tộc ở Thái Lan đã
công bố kết quả về hoạt tính hạ đường huyết của cây Quao nước Dolichandrone
spathacea Hoạt tính hạ đường huyết từ các bộ phận của cây Quao nước được chỉ ra
ở bảng 1.11
Bảng 1.11 Hoạt tính ức chế enzyme sucrase và maltase trên chuột của các bộ phận
hoa, lá và vỏ cây Quao nước
Bộ phận Enzym sucrase (% ức chế) Enzym maltase (% ức chế)
EC50 = 10 μg/ml) Các hoạt tính khác được thử nghiệm đều cho kết quả âm tính [50] Kết quả sàng lọc về hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loài cây ngập mặn ở Sudan cũng cho thấy cây Quao nước không có hoạt tính đối với các chủng vi khuẩn và nấm được thử [51]
Năm 2015, nhóm nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Ngọt đã nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây ngập mặn ở khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ trong đó có cây Quao nước Kết quả cho thấy dịch chiết nước của cây Quao nước
thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trên các chủng vi khuẩn thử nghiệm Bacillus
subtilis, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus ở mức độ trung bình
[52] Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy cây Quao nước còn nhiều tiềm
Trang 39năng để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của loài này
Kết luận: Qua nghiên cứu tài liệu cho thấy các loài thực vật ở vùng Cần Giờ,
Sóc Trăng rất đa dạng, tiềm năng cho nghiên cứu khoa học là rất lớn Các nghiên
cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài thuộc chi Dolichandrone
cho đến nay còn rất ít Các công trình công bố về thành phần hóa học các loài thuộc
chi Dolichandrone cho thấy có nhiều lớp chất với cấu trúc đa dạng như các hợp chất
phenylethanoid glycoside, flavonoid, anthraquinone, triterpenoid, iridoid và dẫn xuất acid cinnamic Ở Việt Nam và trên thế giới cho đến nay chỉ có một công trình
công bố về thành phần hóa học về vỏ của cây Quao nước (Dolichandrone
spathacea) Việc nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học loài cây này
sẽ góp phần giải thích về bản chất hóa học của các vị thuốc cũng như kinh nghiệm
sử dụng cây thuốc này trong dân gian và định hướng nghiên cứu ứng dụng tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM
2.1 Mẫu thực vật, hóa chất và thiết bị
2.1.1 Mẫu thực vật
- Lá và vỏ thân cây Quao nước được thu hái tại Sóc Trăng vào tháng 04/2013
do Nhà thực vật học Ngô Văn Trại, Viện Dược liệu, xác định tên khoa học là
Dolichandrone spathacea (L.f.) K Schum., thuộc họ Núc nác (Bignoniaceae) Mẫu
tiêu bản vỏ thân và lá (QN1) được lưu giữ tại phòng Tổng hợp Hữu cơ, Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Mẫu Cày rita drake (Chirita drakei) phần trên mặt đất được thu hái tại các
hòn đảo của Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam vào tháng 10 năm 2013 Tên khoa học do TS.Trần Thị Phương Anh, Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, VAST xác định Tiêu bản (số VHH.HL 10.2013.1) được lưu giữ tại Viện Hóa học, VAST
Mẫu Cày rita drake