I. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN 1. Mở đầu Việt Nam là quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu hóa thực vật, nhằm phát triển nguồn dược liệu của nước ta. Qua nghiên cứu sàng lọc hoạt tính sinh học của một số loài cây thuốc dân tộc đã cho thấy, dịch chiết EtOAc của vỏ cây Côm (Elaeocarpus griffithii (Wight) A. Gray, Elaeocarpaceae), dịch chiết EtOAc của lá cây Mắc niễng bạc (Eberhardtia aurata (Pierre ex Dubard) Lecomte, Sapotaceae) và dịch chiết EtOH của lá cây Sói đứng (Chloranthus erectus (Buch.-Ham.) Verdcourt, Chloranthaceae) có một số hoạt tính sinh học đáng chú ý. Ngoài ra, cây Sói đứng được sử dụng trong y học dân gian chữa các bệnh chống viêm, phong thấp tê liệt, viêm khớp xương, lá cây Mắc niễng bạc được sử dụng trong y học dân gian dùng làm thuốc trị ho, ho gà, tuy nhiên cho đến nay còn chưa được nghiên cứu sâu. Cây Côm thì cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn 3 loài thực vật trên làm đối tượng nghiên cứu của Luận án: 2. Nhiệm vụ của luận án - Nghiên cứu và xác định cấu trúc hóa học của các chất phân lập được từ 3 loài thực vật là: lá cây Sói đứng, lá cây Mắc niễng bạc và vỏ cây Côm, nhằm tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo, đồng thời góp phần giải thích tác dụng của các loài cây này trong y học cổ truyền. - Thử một số hoạt tính sinh học của dịch chiết và các chất phân lập được từ 3 loài thực vật trên. 3. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận án 3.1. Ý nghĩa khoa học Luận án đã đóng góp những hiểu biết mới về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của 3 loài thực vật: lá cây Sói đứng, lá cây Mắc niễng bạc và vỏ cây Côm ở Việt Nam. Ứng dụng những phương pháp vật lý hiện đại trong nghiên cứu cấu trúc hóa học của các hợp chất hữu cơ. 3.2. Những đóng góp mới của luận án
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN THÔNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC & HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA 3 LOÀI THỰC VẬT: CÂY SÓI ĐỨNG
(CHLORANTHUS ERECTUS, CHLORANTHACEAE), CÂY MẮC NIỄNG BẠC (EBERHARDTIA AURATA, SAPOTACEAE) VÀ CÂY CÔM (ELAEOCARPUS GRIFFITHII, ELAEOCARPACEAE)
Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ
Mã số: 62440114
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Trần Thu Hương
2 PGS TSKH Phạm Văn Cường
Phản biện 1: GS.TS Phạm Quốc Long
Phản biện 2: GS.TS Phạm Thanh Kỳ
Phản biện 3: PGS.TS Phan Minh Giang
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường họp tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Vào hồi …… giờ, ngày … tháng … năm ………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội
2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3I GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Mở đầu
Việt Nam là quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú Đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu hóa thực vật, nhằm phát triển nguồn dược liệu của nước ta Qua nghiên cứu sàng lọc hoạt tính sinh học của một số loài cây thuốc dân tộc đã cho
thấy, dịch chiết EtOAc của vỏ cây Côm (Elaeocarpus griffithii
(Wight) A Gray, Elaeocarpaceae), dịch chiết EtOAc của lá cây Mắc
niễng bạc (Eberhardtia aurata (Pierre ex Dubard) Lecomte, Sapotaceae) và dịch chiết EtOH của lá cây Sói đứng (Chloranthus
erectus (Buch.-Ham.) Verdcourt, Chloranthaceae) có một số hoạt
tính sinh học đáng chú ý
Ngoài ra, cây Sói đứng được sử dụng trong y học dân gian chữa các bệnh chống viêm, phong thấp tê liệt, viêm khớp xương, lá cây Mắc niễng bạc được sử dụng trong y học dân gian dùng làm thuốc trị
ho, ho gà, tuy nhiên cho đến nay còn chưa được nghiên cứu sâu Cây Côm thì cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn
3 loài thực vật trên làm đối tượng nghiên cứu của Luận án:
2 Nhiệm vụ của luận án
- Nghiên cứu và xác định cấu trúc hóa học của các chất phân
lập được từ 3 loài thực vật là: lá cây Sói đứng, lá cây Mắc niễng bạc
và vỏ cây Côm, nhằm tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo, đồng thời góp phần giải thích tác dụng của các loài cây này trong y học cổ truyền
- Thử một số hoạt tính sinh học của dịch chiết và các chất
phân lập được từ 3 loài thực vật trên
3 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận án
3.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án đã đóng góp những hiểu biết mới về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của 3 loài thực vật: lá cây Sói đứng, lá cây Mắc niễng bạc và vỏ cây Côm ở Việt Nam
Ứng dụng những phương pháp vật lý hiện đại trong nghiên cứu cấu trúc hóa học của các hợp chất hữu cơ
3.2 Những đóng góp mới của luận án
Hai loài Cây sói đứng (Chloranthus erectus) và cây Côm (Elaeocarpus griffithii) ở Việt Nam lần đầu được nghiên cứu một
cách có hệ thống về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
Trang 43.2.1 Về thành phần hóa học
● Từ lá của cây Sói đứng lần đầu tiên đã phân lập và xác định
được cấu trúc hóa học của 7 hợp chất là chloranerectuslacton V
(CE1), chloranthalacton B (CE2), -sitosterol (CE3),
9-hydroxyheterogorgiolid (CE4), isofraxidin (CE5), eleutherosid B1
(CE6) và acid 3,4 dihydroxybenzoic (CE7) Trong đó, hợp chất
chloranerectuslacton V (CE1) là hợp chất mới
● Từ vỏ của cây Côm, đã phân lập và xác định cấu trúc hóa học
của 8 hợp chất đó là: acid ellagic (EG1), 3,3’,4’-tri-O-methylellagic
acid 4-O-β-D-2”-O-acetylglucopyranoside (EG2), 3,3’-di-O-metyl acid
ellagic (EG3), 3-O-metyl acid
4-O-α-rhamnosid-ellagic (EG4), octacosyl ferulat (EG5), acid gallic (EG6),
β-sitosterol (EG7) và 6-hydroxy-1,12-oleanadien-3-on (EG8) Trong
đó, hợp chất 6-hydroxy-1,12-oleanadien-3-on (EG8) được xác
định là hợp chất mới
3.1.2 Về hoạt tính sinh học:
Các cặn chiết và các chất phân lập được khảo sát hoạt tính sinh
học Theo đó, các hợp chất phân lập được từ cây Mắc niễng bạc và
cây Côm đã được khảo sát hoạt tính gây độc tế bào trên 4 dòng tế
bào ung thư, KB, LU-1, Hep-G2 và MCF-7
Cặn chiết EtOH (SD-2012) lá cây Sói đứng thể hiện hoạt tính gây
độc tế bào, khả năng chống viêm trên một số dòng tế bào ung thư thử
nghiệm
Kết quả thu được cho thấy trong số các hợp chất phân lập từ vỏ
cây Côm (Elaeocarpus griffithii), hợp chất EG2 có hoạt tính ức chế
trên 2 dòng tế bào là KB và MCF-7 với giá trị IC50 lần lượt là 7,04
μg/ml và 24,8 μg/ml Hợp chất EG8 có hoạt tính ức chế trên 4 dòng
tế bào là KB, MCF-7, LU1 và Hep-G2 với giá trị IC50 lần lượt là
57,27; 49,88; 45,99 và 62,33 μg/ml Ngoài ra, hợp chất EG3 thể hiện
hoạt tính ức chế chọn lọc sự phát triển của tế bào ung thư KB với giá
trị IC50 là 28,3 μg/ml
4 Bố cục của luận án
Luận án dày 125 trang với 15 bảng số liệu, 94 hình và 91 tài liệu
tham khảo được kết cấu như sau:
Mục lục, Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt, Danh mục các hình,
Danh mục các bảng và Danh mục các phụ lục Mở đầu (2 trang)
Chương 1: Tổng quan (33 trang) Chương 2: Đối tượng và phương pháp
Trang 5Kết quả và thảo luận (50 trang) Kết luận và kiến nghị (2 trang) Danh mục các công trình liên quan đến luận án (1 trang) và phần tài liệu tham khảo (9 trang), ngoài ra luận án còn có phần phụ lục gồm các phổ của các hợp chất phân lập được; minh chứng thử hoạt tính sinh học
II NỘI DUNG LUẬN ÁN
MỞ ĐẦU
Phần mở đầu đề cập đến ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn, đối tượng
và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Giới thiệu sơ lược về thực vật họ Hoa sói (Chloranthaceae) Giới
thiệu về chi Chloranthus Các nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học chi Chloranthus Một số nghiên cứu về cây Sói đứng (Chloranthus
erectus)
Giới thiệu sơ lược về thực vật họ Hồng xiêm (Sapotaceae) Giới
thiệu về chi Eberhardtia Các nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học chi Eberhardtia
Giới thiệu sơ lược về thực vật họ Côm (Elaeocarparceae) Giới
thiệu về chi Elaeocarpus Các nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học chi Elaeocarpus Một số nghiên cứu về cây Côm
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 2.1 Thu mẫu cây và xác định tên khoa học
Mẫu lá cây Sói đứng (Chloranthus erectus), thu hái tại vùng núi Tam
Đảo, Vĩnh Phúc được PGS.TS Trần Huy Thái-xác định tên khoa học
Mẫu lá cây Mắc niễng bạc (Eberhardtia aurata), thu hái ở
Thuận Châu-Sơn La)
Vỏ cây Côm (Elaeocarpus griffithii) được thu hái tại Quỳ Châu,
Nghệ An Hai mẫu cây trên được TS Nguyễn Quốc Bình định tên 2.2 Phương pháp xử lý và chiết mẫu
Các mẫu thực vật sau khi thu hái được thái nhỏ, phơi trong bóng mát, sấy khô ở nhiệt độ 40-45oC, sau đó đem nghiền nhỏ rồi được ngâm chiết với các dung môi ethyl acetat, MeOH ở nhiệt độ phòng Gộp các dịch chiết đã lọc, cất loại dung môi dưới áp suất thấp thu được các cặn chiết EtOAc, MeOH tương ứng
2.3 Phương pháp phân tích, phân tách các hỗn hợp và phân lập các hợp chất từ mẫu thực vật
Việc phân tích và phân tách các phần dịch chiết của cây được thực hiện bằng phương pháp kết tinh và các phương pháp sắc kí như: sắc kí lớp mỏng (TLC, dùng để khảo sát), sắc kí cột thường (CC), sắc
Trang 6kí cột nhanh với pha tĩnh là silicagel (Merck), sắc kí cột pha đảo với chất hấp phụ là RP-18 và sắc kí rây phân tử Sephadex LH-20 Dung môi rửa giải chủ yếu bằng các hệ dung môi n-hexan/CH2Cl2,
n-hexan/EtOAc, n-hexan/aceton, CH2Cl2/MeOH, CH2Cl2/EtOAc với các
2.5 Phương pháp thử hoạt tính sinh học của các dịch chiết và các chất phân lập được
2.5.1 Thử hoạt tính gây độc tế bào
Hoạt tính gây độc tế bào được thử nghiệm tại Viện Công nghệ Sinh học-VAST
Phương pháp thử độ độc tế bào in vitro được Viện Ung thư
Quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute-NCI) xác nhận là phép thử độ độc tế bào chuẩn nhằm sàng lọc, phát hiện các chất có khả
năng kìm hãm sự phát triển hoặc diệt TBUT ở điều kiện in vitro
Phép thử này được thực hiện theo phương pháp của Monks (1991)
2.5.2 Thử hoạt tính kháng viêm
2.5.2.1 Phương pháp gây viêm cục bộ bằng hoạt chất EPP
Phương pháp gây viêm được tiến hành theo phương pháp của Mrudula Kale (2007), Jaijoy K (2010) cụ thể là bôi vào mỗi tai chuột một lượng EPP là 1mg/1 tai chuột pha trong 20 l aceton
2.5.2.2 Phương pháp gây viêm cục bộ bằng formalin 1%
Phương pháp gây viêm được tiến hành theo phương pháp của Miklos Gabor (2009) cụ thể là tiêm dưới da gan bàn chân chuột 20 l formalin 1% pha trong PBS
2.5.2.3 Phương pháp xác định khả năng kháng viêm
Xác định khả năng kháng viêm của một hoạt chất được tiến hành theo phương pháp của Miklos Gabor (2009)
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM
3.1 Tách chiết, phân lập các chất từ lá cây Sói đứng (Chloranthus erectus)
Trang 7Hình 3.1.1 Sơ đồ ngâm chiết lá cây Sói đứng
Hình 3.1.2 Sơ đồ phân lập các chất từ cặn chiết n-hexan của lá cây Sói đứng
Trang 8Hình 3.1.3 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ dịch chiết ethyl acetat
của lá cây Sói đứng
Hình 3.1.4 Sơ đồ ngâm chiết tạo dịch chiết EtOH (SD-2012) từ lá
Dịch chiết EtOH
Cất loại Dung môi
Trang 9Dữ kiện phổ và hằng số vật lý của các hợp chất được phân lập từ lá
cây Sói đứng Chloranerectuslacton V (CE1): Chất kết tinh dưới dạng tinh thể
hình kim, màu trắng; đ.n.c: 202oC; [α]D
25
=-33,5o (c 0,4, CHCl3);
Rf = 0,57 (TLC silica gel, n-hexan/ethyl acetat, 5/1, v/v); ESI-MS:
m/z 293,13797 [M+H]+ (theo tính toán: m/z= 293,13825 với CTPT
C16H21O5);
1
H-NMR (CDCl3, 500 MHz) và 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz): Bảng 4.1
Chloranthalacton B (CE2): Chất kết tinh dưới dạng tinh thể hình
kim, màu trắng; đ.n.c: 145-146oC; Rf = 0,53 (TLC silica gel,
n-hexan/ethyl acetat, 7/1, v/v); ESI-MS: m/z 245 [M+H]+ (C15H16O3) 1
H-NMR (CDCl3, 500 MHz) và 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz): Bảng 4.2
-Sitosterol (CE3): Chất kết tinh hình kim, màu trắng; đ.n.c:
136-138oC; Rf = 0,46 (TLC silica gel, n-hexan/ethyl acetat, 5/1, v/v);
9-Hydroxyheterogorgiolid (CE4): Chất kết tinh dưới dạng tinh thể
hình kim, không màu; đ.n.c: 238-239oC; [α]D
25 = -187,0o (c 0,15, CHCl3); Rf = 0,51 (TLC silica gel, n-hexan/EtOAc, 7/3, v/v);
ESI-MS: m/z 277 [M+H]+ (C16H21O4);
1
H-NMR (CDCl3, 500 MHz) và 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz): Bảng 4.3
Isofraxidin hay 6,8-dimethoxy-7-hydroxycoumarin (CE5): Chất kết
tinh dưới dạng tinh thể hình kim, màu vàng nhạt; đ.n.c: 148-149oC;
Rf = 0,44 (TLC silica gel, CH2Cl2/MeOH, 5/1, v/v);
1
H-NMR (CDCl3, 500 MHz) δ (ppm): 3,94 (3H, s, 6-OCH3); 4,09 (3H, s, 8-OCH3); 6,28 (1H, d, J = 9,5 Hz, H-3); 6,16 (1H, s, OH); 6,66 (1H, s, H-5); 7,60 (1H, d, J = 9,5 Hz, H-4);
13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) δ (ppm): 56,54 (6-OCH3); 61,01 OCH3); 103,28 (C-5); 111,25 (C-4a); 113,54 (C-3); 143,1 (C-6); 142,51 (C-7); 134,6 (C-8); 143,79 (C-4); 144,64 (C-8a); 160,59 (C-2)
(8-Eleutherosid B1 hay Isofraxidin-7-O--D-glucopyranosid (CE6):
Chất kết tinh dưới dạng chùm rẻ quạt, màu trắng;
đ.n.c: 207-208oC; Rf = 0,32 (TLC silica gel, CH2Cl2/MeOH, 8/2, v/v);
1
H-NMR (CD3OD, 500 MHz) δ (ppm): 3,24-3,81 (6H, m), 3,93 (3H, s, OCH3), 4,05 (3H, s, 8-OCH3), 5,22 (1H, d, J = 7,5 Hz, H-1’), 6,37 (1H, d,
Trang 106-J = 9,5 Hz, H-3), 7,03 (1H, s, H-5), 7,92 (1H, d, 6-J = 9,5 Hz, H-4);
13
C-NMR (CD3OD, 125 MHz) δ (ppm): 57,18 (6-OCH3); 62,50 OCH3); 62,54 (C-6’); 71,43 (C-4’); 75,73 (C-2’); 77,91 (C-3’); 78,56 (C-5’); 104,26 (C-1’); 106,23 (C-5); 115,81 (C-3); 116,73 (C-4a); 142,38 (C-8); 143,53 (C-7); 144,09 (C-8a); 145,84 (C-4); 151,52 (C-6); 162,63 (C-2)
(8-Acid 3,4-dihydroxybenzoic (CE7): Chất rắn, màu vàng nhạt; đ.n.c:
198-200oC; Rf = 0,43 (TLC silica gel, CH2Cl2/MeOH, 20/1, v/v);
1
H-NMR (CD3OD, 500 MHz) δ (ppm): 6,81-6,82 (d, J = 8,0 Hz , 5); 7,43 (1H, d, J = 2,5 Hz, H-2); 7,46 (1H, dd, J = 2,5, 8,0 Hz, H-6)
H-13
C-NMR (CD3OD, 125 MHz) δ (ppm): 115,8 (C-6); 117,7 (C-2); 123,1 (C-1); 123,9 (C-3), 146,1 (C-4); 151,5 (C-5); 170,2 (C-7)
3.2 Tách chiết, phân lập các chất từ lá cây Mắc niễng bạc
Hình 3.2.1a Sơ đồ ngâm chiết lá cây Mắc niễng bạc
Dịch chiết EtOAc
Cất loại dung môi
Bã
Ngâm chiết
với MeOH
Dịch chiết MeOH
Cất loại dung môi
Cặn MeOH
ME (60,0 g)
Trang 11Hình 3.2.1b Sơ đồ phân lập dịch chiết EtOAc lá cây Mắc niễng bạc
Dữ kiện phổ và hằng số vật lý của các hợp chất được phân lập từ
lá cây Mắc niễng bạc (Eberhardtia aurata)
β-Taraxerol (EA1): Chất rắn, màu trắng, đ.n.c: 283-2840C;
s, CH3); 0,95 (3H, s, CH3); 0,98 (3H, s, CH3); 1,09 (3H, s, CH3); 1,92
(1H, dd, J = 14,5, 2,0 Hz, 16a); 2,04 (1H, dt, J = 13,0, 3,0 Hz, 7); 3,19 (1H, dd, J = 11,0, 4,0 Hz, H-3); 5,53 (1H, dd, J = 8,0, 3,0
H-Hz, H-15)
13
C-NMR (CDCl3 + CD3OD, 125 MHz) (ppm): 15,1 (C-25); 15,2 (C-24); 17,3 (C-11); 18,6 (C-6); 21,0 (C-30); 25,6 (C-27); 26,6 (C-2); 27,7 (C-23); 28,6 (C-20); 29,5 (C-28); 29,6 (C-26); 32,9 (C-22); 33,1 (C-29); 33,5 (C-21); 34,9 (C-7); 35,6 (C-13); 36,5 (C-12); 37,4 (C-10); 37,5 (C-16); 37,6 (C-1); 37,8 (C-17); 38,5 (C-8); 38,8 (C-4);
Trang 1241,1 19); 48,6 9); 49,0 18); 55,4 5); 78,7 3); 116,6 15); 157,9 (C-14)
(C-Taraxeron (EA2): Chất rắn, màu trắng đ.n.c: 241-2410C; [α]D
25 = +
10 (c 0,1, CHCl3); Rf = 0,67 (TLC, silica gel, n-hexan/aceton: 4/1, v/v); ESI-MS: m/z 425 [M+H]+;
1
H-NMR (CDCl3 500 MHz) (ppm): 0,83 (3H, s, CH3); 0,89 (3H, s,
CH3); 0,91 (3H, s, CH3); 0,95 (3H, s, CH3); 1,06 (3H, s, CH3); 1,08 (3H, s, CH3); 1,09 (3H, s, CH3), 1,14 (3H, s, CH3); 2,34 (1H, m, H-
1); 2,56 (1H, m, H-2); 5,55 (1H; dd, J=8,0, 3,0 Hz, H-15)
13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) (ppm): 14,8 (C-25); 17,4 (C-11); 19,9 (C-6); 21,3 (C-30); 21,4 (C-24); 25,5 (C-27); 26,1 (C-23); 28,8 (C-20); 29,8 (C-26); 29,9 (C-28); 33,1 (C-22); 33,3 (C-29); 33,6 (C-21); 34,1 (C-2); 35,1 (C-7); 35,7 (C-12); 36,7 (C-16); 37,5 (C-10); 37,7 (C-17); 37,7 (C-13); 38,3 (C-1); 38,9 (C-8); 40,6 (C-19); 47,5 (C-4); 48,7 (C-9); 48,8 (C-18); 55,8 (C-5); 117,2 (C-15); 157,6 (C-14); 217,5 (C-3)
Taraxeryl acetat (EA3): Chất rắn, màu trắng đ.n.c: 240-2410C;
(1H, dd, J=10,0; 6,0 Hz, H-3); 5,53 (1H, dd, J=8,0; 3,0 Hz, H-15)
3β-Octacosanoyloxy-12-oleanen-28-ol (EA4):Chất rắn, màu trắng
đ.n.c: 285–2860C; [α]D
25 = +85 (c 0,1, CHCl3); Rf = 0,60 (TLC, silica
gel, n-hexan/ethyl acetat: 9/1, v/v); ESI-MS: m/z 849 [M+H]+; 1
H-NMR (CDCl3 500 MHz) (ppm): 0,83-0,89 (15H, m, 5 x CH3); 0,94 (3H, s, CH3); 0,95 (3H, s, CH3); 1,16 (3H, s, CH3); 2,89 (2H, t,
J=7,0 Hz, CH2COO); 3,21 (1H, d, J =10,5 Hz, H-28a); 3,55 (1H, d,
J=10,5 Hz, H-28b); 4,49 (1H, dd, J=10,5; 5,5 Hz, H-3); 5,19 (1H, t, J=3,5 Hz, H-12)
13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) (ppm): 14,1 (C-28’); 15,5 (C-24); 16,7 (C-25); 16,7 (C-26); 18,2 (C-6); 22,0 (C-16); 22,7 (C-27’); 23,5 (C-11); 23,6 (C-30); 25,1 (C-3’); 25,5 (C-15); 25,9 (C-27); 28,0 (C-23); 28,0-29,7 (CH2)n; 30,9 (C-22); 31,0 (C-26’); 31,9 (C-20); 32,5 (C-7); 33,1 (C-29); 34,1 (C-21); 34,8 (C-2’); 36,8 (C-17); 36,9 (C-10); 37,3 (C-4); 38,2 (C-1); 39,8 (C-8); 41,7 (C-14); 42,3 (C-18);
Trang 1346,4 (C-19); 47,5 (C-9); 55,2 (C-5); 69,7 (C-28); 80,5 (C-3); 122,3 (C-12); 144,2 (C-13); 173,6 (C-1’)
Spinasterol (EA5): chất rắn, màu trắng đ.n.c: 193-1950C;[α]D
25
=-2,2 (c 0,18, CHCl3); Rf = 0,636 (TLC, silica gel, n-hexan/ethyl acetat: 9/1, v/v); ESI-MS: m/z 412,69 [M+H]+
1
H-NMR (500 MHz, CDCl3) δ (ppm): 0,55 (3H, s, CH3-18); 0,79 (3H, s, CH3-19); 0,81 (3H, t, J = 7,0 Hz, CH3-29); 0,83 (3H, d, J= 6,0
Hz, CH3-27); 0,85 (3H, d, J= 6,0 Hz, CH3-26); 1,03 (3H, d, J= 6,0
Hz, CH3-21); 1,09 (1H, m, H-1a); 1,18 (1H, m, H-28a); 1,23 (1H, m, H-12a); 1,26 (3H, m, H-4a, H-16a, H-17); 1,39 (3H, m, H-2a, H-5, H-15a); 1,42 (1H, m, H-28b); 1,48 (1H, m, H-11a); 1,52 (1H, m, H-15b); 1,55 (2H, m, H-24, H-25); 1,58 (1H, m, H-11b); 1,65 (1H, m, H-9); 1,72 (1H, m, H-4); 1,75 (2H, m, H-6b, H-16b); 1,78 (1H, m, H-2b); 1,82 (2H, m, H-1b, H-14); 2,03 (2H, m, H-12b, H-20); 3,59
(1H, m, H-3); 5,03 (1H, dd, J= 9,0; 15,5 Hz; H-23); 5,16 (1H, br s, H-7); 5,16 (1H, dd, J= 9,0; 15,5 Hz; H-22)
13
C-NMR (125 MHz, CDCl3) δ (ppm): 12,0 (C-18); 12,2 (C-29); 13,0 (C-19); 19,0 (C-27); 21,1 (C-26); 21,4 (C-21); 21,6 (C-11); 23,0 (C-15); 25,4 (C-28); 28,5 (C-16); 29,6 (C-6); 31,5 (C-2); 31,9 (C-25); 34,2 (C-10); 37,2 (C-1); 38,0 (C-4); 39,5 (C-12); 40,3 (C-5); 40,8 (C-20); 43,3 (C-13); 49,5 (C-9); 51,2 (C-24); 55,1 (C-14); 55,9 (C-17); 70,1 (C-3); 117,5 (C-7); 129,5 (C-23); 138,1 (C-22); 139,6 (C-8)
3.3 Tách chiết, phân lập các chất từ vỏ cây Côm (Elaeocarpus griffithii)
Hình 3.3.1a Sơ đồ ngâm chiết vỏ cây Côm
Bã
Ngâm chiết
với MeOH
Dịch chiết MeOH
Cất loại dung môi
Cặn MeOH
ME (172,8 g) Cất loại
dung môi