1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tính đa dạng và đặc điểm cấu trúc thực vật có mạch trong một số trạng thái thảm thực vật tại xã tân trào huyện sơn dương tỉnh tuyên quang

139 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 4,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRỊNH THÚY VÂN NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THỰC VẬT CÓ MẠCH TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ TÂN TRÀO - HUYỆN S

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH THÚY VÂN

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THỰC VẬT

CÓ MẠCH TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ TÂN TRÀO - HUYỆN SƠN DƯƠNG -

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH THÚY VÂN

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THỰC VẬT

CÓ MẠCH TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ TÂN TRÀO - HUYỆN SƠN DƯƠNG-

TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC

Mã số: 60420120

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS MA THỊ NGỌC MAI

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các

số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Trịnh Thúy Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học, tại khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy (cô), các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Trước hết, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn: TS

Ma Thị Ngọc Mai - đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt hơn

Xin được chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh học; Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; các thầy (cô) khoa Sinh học, Phòng Đào tạo (Sau đại học) - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Tuyên Quang; Trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và công tác Đồng thời tôi xin cảm ơn

Uỷ ban nhân dân xã Tân Trào, cán bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Tân Trào - Huyện Sơn Dương, Tuyên Quang đã chỉ bảo và cung cấp những tài liệu quan trọng, giúp

đỡ thu thập số liệu, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, tháng 04 năm 2016

Tác giả

Trịnh Thúy Vân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3 Đóng góp của luận văn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 3

1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật 6

1.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc 9

1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 9

1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 11

1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 14

1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng 16

1.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Tuyên Quang và khu vực nghiên cứu 18

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20

2.2 Phạm vi nghiên cứu 20

2.3 Đối tượng nghiên cứu 20

Trang 6

2.4 Nội dung nghiên cứu 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu 21

2.5.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC) 21

2.5.2 Phương pháp thu thập, phân tích mẫu và số liệu 22

2.5.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật 22

2.5.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học của các loài thực vật: 23

2.5.5 Xây dựng bản danh lục thực vật 23

2.5.6 Phương pháp điều tra trong nhân dân 23

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 24

3.1 Điều kiện tự nhiên 24

3.1.1 Vị trí địa lý 24

3.1.2 Địa hình 24

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 25

3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 26

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27

3.2.1 Điều kiện kinh tế 27

3.2.2 Điều kiện xã hội 27

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Đa dạng về hệ thực vật khu vực nghiên cứu 30

4.1.1 Đa dạng ở mức độ ngành 30

4.1.2 Đa dạng về mức độ họ 31

4.1.3 Đa dạng về mức độ Chi 36

4.2 Đa dạng của hệ thực vật trong các trạng thái thảm thực vật 38

4.2.1 Đa dạng về mức độ ngành trong các trạng thái thảm thực vật 38

4.2.2 Đa dạng về mức độ họ trong các trạng thái thảm thực vật tại KVNC 39

4.2.3 Đa dạng về mức độ chi trong các trạng thái TTV 49

4.3 Đa dạng về giá trị sử dụng 53

Trang 7

4.3.1 Nhóm làm thuốc (T) 54

4.3.2 Nhóm cho Gỗ (G) 54

4.3.3 Nhóm làm cảnh (Ca) 55

4.3.4 Nhóm cho rau ăn (R) 55

4.3.5 Nhóm đan lát (Đ) 55

4.3.6 Nhóm cho quả (Q) 55

4.4 Đa dạng về thành phần các loài thực vật quý hiếm 56

4.5 Đa dạng về thành phần dạng sống 57

4.6 Đa dạng về các kiểu thảm thực vật khu vực nghiên cứu 61

4.6.1 Rừng trồng 61

4.6.2 Thảm thực vật tự nhiên 62

4.7 Đa dạng về cấu trúc và hình thái của các trạng thái thảm thực vật 65

4.7.1 Trạng thái thảm cỏ 67

4.7.2 Trạng thái thảm cây bụi 68

4.7.3 Trạng thái rừng non thứ sinh 68

4.7.4 Trạng thái rừng thứ sinh trưởng thành 69

4.7.5 Trạng thái rừng nguyên sinh 69

4.8 Đề xuất giải pháp bảo tồn, nâng cao đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu 71

4.8.1 Một số giải pháp cụ thể ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng xã Tân Trào 71

4.8.2 Một số giải pháp tổng hợp nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển Khu rừng xã Tân Trào 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

KVNC Khu vực nghiên cứu

UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc

IUCN The International Union for Conservation of Nature and

Natural Resources - Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế

Trạng thái

rừng IIIA

Là những lâm phần bị khai thác quá mức, tài nguyên rừng

bị kiệt quệ Cấu trúc vốn có của rừng nguyên sinh bị phá

vỡ hoàn toàn Tán rừng bị trống thành từng mảng lớn, cây lớn còn lại thường là những cây cong queo sâu bệnh Trữ lượng M/ha < 90 m3 Trong rừng xuất hiện nhiều dây leo bụi rậm

Trạng thái

rừng IIIB

Là những lâm phần đã qua khai thác tác động ở mức độ nhẹ, cấu trúc rừng vốn có hầu như chưa bị thay đổi Trữ lượng M/ha từ 231 m3 đến 300 m3, trữ lượng của những cây có đường kính > 40 cm đạt từ 30 - 50%

Trạng thái Ib Đặc trưng bởi lớp thực bì cây bụi, cũng có thể có một số

cây gỗ, tre mọc rải rác…

Trạng thái Ic Đặc trưng là đã có cây thân gỗ tái sinh với số lượng đáng

kể Chỉ xếp vào loại IC khi tái sinh có chiều cao bình quân đạt từ 1 m trở lên và mật độ N/ha ≥ 1000 cây

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 7

Bảng 2.1 Ký hiệu mức độ nhiều của thực bì theo Drude 22

Bảng 4.1 Phân bố các taxon (họ, chi, loài) trong các ngành tại KVNC 30

Bảng 4.2 Các họ đa dạng nhất trong KVNC 32

Bảng 4.3 Các chi đa dạng nhất tại KVNC 37

Bảng 4.4 Số lượng, tỷ lệ % các họ, chi, loài trong các trạng thái thảm thực vật 38

Bảng 4.5 Những họ có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh, và rừng nguyên sinh 40

Bảng 4.6 Các họ giàu loài nhất trong KVNC 48

Bảng 4.7 Các chi có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh 49

Bảng 4.8 Một số công dụng chính của các loài thực vật KVNC 53

Bảng 4.9 Các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở VNC 56

Bảng 4.10 Dạng sống chính trong các trạng thái thảm thực vật trong KVNC 57

Bảng 4.11.So sánh các phổ dạng sống Lâm Sơn, Yên Bình và khu vực nghiên cứu 60

Bảng 4.12 Cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật khu vực nghiên cứu 66

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ phân bố tỷ lệ % các Taxon (họ, chi, loài) trong các ngành

thực vật khu vực nghiên cứu 30

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố số lượng các bậc taxon (họ, chi, loài) trong các trạng thái thảm thực vật 39

Hình 4.3 Biểu đồ phân bố công dụng các loài thực vật khu vực nghiên cứu 53

Hình 4.4 Tỷ lệ % phân bố các dạng sống trong kiểu thảm cỏ 58

Hình 4.5 Tỷ lệ % phân bố các dạng sống trong kiểu thảm cây bụi 58

Hình 4.6 Tỷ lệ % phân bố các dạng sống trong kiểu thảm rừng thứ sinh 58

Hình 4.7 Tỷ lệ % phân bố các dạng sống trong kiểu thảm rừng nguyên sinh 59

Hình 4.8 Tỷ lệ % các dạng sống trong các kiểu thảm thực vật thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh 59

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với các quốc gia Trên thực tế, giá trị của rừng không chỉ là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ nhiều chức năng sinh thái quan trọng, tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, hạn chế tác hại của lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đất, là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của thiên nhiên, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật, là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung Đặc biệt thảm thực vật rừng còn có vai trò rất quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho các hoạt động của con người như lấy gỗ, giấy, xây dựng nhà cửa và các trang thiết bị nội thất, cho dầu béo, tinh dầu, làm thuốc, làm cảnh và nhiều giá trị sử dụng khác… Ngoài ra, rừng còn có giá trị tạo nên các cảnh quan du lịch, nghiên cứu khoa học Những giá trị của rừng đối với cuộc sống là rất to lớn Tuy nhiên, bất chấp tất cả những lợi ích vô giá của rừng về kinh tế, xã hội, sinh thái và sức khỏe, con người vẫn đang tàn phá rất nhiều các khu rừng cần cho cuộc sống và hơi thở của chúng ta Tình trạng phá rừng vẫn tiếp tục ở mức báo động trên quy mô toàn cầu, và rừng Việt Nam nói riêng đã và đang bị thu hẹp nhanh chóng do nạn tàn phá, đốt rừng, khai thác gỗ trái phép Ở nước ta hiện nay chỉ còn độ che phủ khoảng 40%, nhiều vùng như Tây Bắc sát Biên giới Lào, Trung Quốc độ che phủ chỉ còn khoảng 30%.Trước thực trạng trên, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích các cộng đồng dân cư nhận đất, nhận rừng

để trồng, bảo vệ, khoanh nuôi và ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng…

Tân Trào là một trong năm xã thuộc khu di tích lịch sử quốc gia Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương- TP Tuyên Quang- Tỉnh Tuyên Quang , có toạ độ: từ 210

43' 54" đến 210 50' 52" Vĩ độ Bắc; từ 1050 23' 56" đến 1050 31' 23'' Kinh độ Đông Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Phía Tây giáp xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương; Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương; Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Có tổng diện tích rừng tự nhiên 3.510,76 ha, Trong đó đất lâm nghiệp: 2.534,52 ha; Đất có rừng

Trang 13

2.345,78 ha; Đất chưa có rừng 188,74 ha; đất khác ngoài lâm nghiệp là 976,24

ha Tổng diện tích rừng đặc dụng: 2.289,57 ha trong đó đất có rừng: 2.183,76

ha, đất chưa có rừng: 105,81 ha

Dân số của xã có: 4.153 người, gồm các dân tộc: Tày, Kinh, Nùng; Dao, Mông, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa, Thái, Mường… cùng chung sống hoà thuận Hiện nay, đời sống của người dân xã Tân Trào tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn Người dân KVNC sinh kế của họ phụ thuộc vào rừng vẫn phải khai thác tài nguyên rừng để đảm bảo cuộc sống của họ, TTV tiếp tục

bị ảnh hưởng, diện tích rừng nhanh chóng bị thu hẹp, số lượng hệ thực vật có giá trị đã giảm mạnh Vì vậy, việc nghiên cứu, điều tra, thống kê số lượng các loài thực vật có giá trị nhằm đề ra các biện pháp bảo tồn và giữ gìn bền vững hệ động thực vật quý hiếm là rất cần thiết

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và đặc điểm cấu trúc của thực vật có mạch trong một số trạng thái thảm thực vật tại xã Tân Trào - Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3 Đóng góp của luận văn

- Bước đầu đã xác định được thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật ở Xã Tân Trào – Huyện Sơn Dương – Tính Tuyên Quang

- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (200 Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam

Trong đề tài chúng tôi có sử dụng một số khái niệm có liên quan đến nội

dung nghiên cứu:

1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật

1.1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật

Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Trần Đình Lý (1998) [30] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thái Văn Trừng (1978) [50] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào

Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…

1.1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới

J Beard (1938) (dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc, 2000) [33], đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần

hệ ngập quanh năm

H.G Champion (1936) (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy, 2009) [46], khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao

Trang 15

Maurand (1943) [60], nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng Đông Dương

1.1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam

Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) [57], là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu

Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:

Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng

Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa

Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo

Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa

bị phá hoại, cần khai thác hợp lý

Phan Nguyên Hồng (1970) [21], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miền bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống

Trần Ngũ Phương (1970) [36], đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao

Trang 16

Thái Văn Trừng (1978) [49][50], đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân

cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay

Phan Kế Lộc (1985) [29], dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông

Nguyễn Hải Tuất (1991) [53], nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: kiểu rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần

Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [25], cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau

Thái Văn Trừng (1998) [51], khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)

Nguyễn Thế Hưng (2003) [23], cũng dựa trên nguyên tắc phân loại UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau

Trang 17

đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)

Lê Ngọc Công (2004) [13], cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ

Ngô Tiến Dũng (2004) [16], dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau

Ma Thị Ngọc Mai (2007) [31], nghiên cứu quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh tỉnhVĩnh Phúc và vùng phụ cận đã kết luận từ độ cao 700m trở xuống, thảm thực vật bị suy thoái nghiêm trọng Rừng nguyên sinh đã bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên Theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973), thảm thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụ cận có 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cỏ Thảm thực vật tại đây trong quá trình diễn thế đi lên, quá trình diễn thế qua 4 giai đoạn: Thảm cỏ -> thảm cây bụi -> rừng thứ sinh -> rừng thành thục

1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật

1.1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới

Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chưa

cụ thể, tuỳ từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 - 600.000 loài

Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác

Trang 18

Năm 1962, G N Slucop, đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân bố ở các châu lục như sau:

Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài

Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài

Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài

Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài

Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000 loài

Lecointre và Guyader (2001) [18], đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:

Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới

Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài

Trang 19

1.1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam

Ở nước ta, trong thực vật chí Đại cương Đông Dương, và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, Nguyễn Tiến Bân (1997) [4], đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta Gần đây, Phan Kế Lộc [29], đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ- Trung và Nam Tiểu Á

* Nhận xét chung

Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình

Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động

và cao hơn nhiều

Trang 20

1.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc

1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài

Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978) (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc, 2000) [33] Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật

Ramakrishman (1981 - 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá

Longchun và cộng sự (1993) (Dẫn theo Lê Thị Xuân Thu, 2007) [44], nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17

họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài

Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1978) [28], đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ

Nguyễn Đăng Khôi (1971) (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy, 2009) [46], đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương”

Phan Kế Lộc (1978) [28], điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ

Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin

Hoàng Chung (1980) [9], khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ

Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [20], trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống

kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài

Trang 21

Lê Mộng Chân (1994) [6], điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia

Ba Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) [3], khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương

Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [23], khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng

đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài

Trần Đình Đại (2001) [17], căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch

Đỗ Tất Lợi (1995) [27], khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố

798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta

Lê Ngọc Công (1998) [12], khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ

Thái Văn Trừng (1998) [51], khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã

có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây

bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ

Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae)

Lê Đồng Tấn (2000) [40], khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật

độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi 10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài

Trang 22

Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [43], khi tổng kết các công trình nghiên cứu

về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và

1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ

Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) [14], nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định

Phạm Ngọc Thường (2003) [47], khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 - 25 loài, trên đất xấu 8 - 12 loài

Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) [45], nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 - 5m

Vũ Thị Liên (2005) [26], khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ

Nguyễn Thế Hưng (2003) [24], đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở Huyện Hoành Bồ, Thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch

1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống

Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm

Braun - Blanquet (1951) (Theo Giáp Thị Hồng Anh, 2007) [1], đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành

Trang 23

5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn

Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là

hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm

Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:

1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất

2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất

3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn

4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn

5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm

Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):

SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th

Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…

Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ

Trang 24

Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù

Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Hoàng Chung (1980) [9], thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ

sa van, thảo nguyên

Lê Trần Chấn (1990) [7], khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ

Thái Văn Trừng (1978) [50], cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam

Hoàng Chung (2008) [10], khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm

Phan Nguyên Hồng (1991) [22] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B)

Phạm Hồng Ban (1999) [2] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:

SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th Đặng Kim Vui (2002) [54] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống

Trang 25

thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)

Ngô Tiến Dũng (2004) [16] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:

SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th Nhận xét chung:

Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình, khí hậu Tuy vậy số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia Về thành phần dạng sống: Khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả Tuy nhiên có thể nhận thấy, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer trong những nghiên cứu của mình Hệ thống phân chia này của ông có ý nghĩa quan trọng ,đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng Ông chỉ chọn một dấu hiệu

là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống

1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi…

Trang 26

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta có một số tác giả như: Phạm Minh Nguyệt (1994) [34] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài

Vũ Đình Phương (1987) [37], trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu

về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng

Võ Đại Hải (1996) [19], đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng

hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng

Trần Văn Con (1992) [11], ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum) đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định

Nguyễn Văn Trương (1982) [52] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn Ông cho rằng nếu áp dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng

Trang 27

* Nhận xét chung

Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia

Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer trong những nghiên cứu của mình Hệ thống phân chia của ông có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng Ông chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống Vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình, tôi cũng chọn lựa cách phân chia dạng sống này của Raunkiaer

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều đưa

ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố

1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng

Hiện nay do nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng, tài nguyên động vật…, phục vụ cho đời sống của của con người ngày càng nhiều, nhiều diện tích rừng đã bị giảm sút xuống rất nhiều, nhiều loài động vật, thực vật đã bị diệt chủng hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng, nguồn tài nguyên sinh học cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng Để nâng cao nhận thức về tính cấp thiết cho việc bảo tồn và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên

Trang 28

sinh học trong cộng đồng vừa bảo vệ và phát triển nguồn gen quý hiếm kết hợp với việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống,

từ năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản các

Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN [58], đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…

Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể

tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong cuốn

“sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201

họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ

Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP [8], về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:

- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng

- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc

có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy

Trang 29

cơ tuyệt chủng Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II cũng được chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài

và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng

Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật

có nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài

có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công trình đáng chú ý là:

Nguyễn Thị Yến (2003) [56] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN

Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà

số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn

để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta

1.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Tuyên Quang

và khu vực nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật ở Tuyên Quang còn rất ít và tản mạn Sở Nông Lâm Tuyên Quang đã nghiên cứu một số mô hình rừng trồng nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc như mô hình Lim, Dẻ, Trám…ở xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Mô hình trồng rừng tái sinh như trồng keo ở xã Tân trào, huyện Sơn Dương, các

mô hình này có hiệu quả kinh tế tốt đối với người dân, rừng đã được phục hồi

Trang 30

Công tác trồng rừng: Từng bước chuyển đổi phương thức trồng cây lâm nghiệp thuần túy quảng canh sang trồng rừng thâm canh và nông lâm kết hợp với các giống mới năng suất cao hơn Kết quả: Từ năm 2000-2010 toàn tỉnh trồng được: 102.225 ha, đạt 100,8% kế hoạch; bình quân trồng được 8.518 ha/năm Trong đó: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 18.680,9 ha; đạt 82% kế

hoạch; trồng rừng sản xuất: 82.201 ha, đạt 100,7% kế hoạch (trong đó trồng rừng sản xuất được hỗ trợ từ ngân sách là 21.216 ha, từ nguồn vốn vay tín dụng 23.516 ha, vốn tự có 37.469 ha); Trồng cây phân tán (quy diện tích):

22.559 ha

Từ năm 2011 đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 59.200 ha rừng (bình quân mỗi năm trồng được 14.800 ha), trong đó: Trồng rừng sản xuất được 52.760 ha; trồng rừng phòng hộ - đặc dụng được: 3.925 ha và trồng cây phân tán (quy diện tích) được 2.515 ha

Công tác khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng: Tuyên Quang chủ yếu áp dụng biện pháp khoanh nuôi bảo vệ rừng Kết quả, giai đoạn 2000-2010 diện tích khoanh nuôi toàn tỉnh được 54.735 ha, trong đó khoanh nuôi tái sinh tự nhiên được 54.735 ha, thành rừng 41.956 ha (đạt 76,6%)[5]

Trang 31

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tính đa dạng về thành phần loài, đa dạng về thành phần dạng

sống và cấu trúc của một số kiểu thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu

- Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phục hồi thảm thực vật rừng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương

- Xác định một số loài thực vật quý hiếm dựa theo Sách đỏ Việt Nam (Phần II Phần Thực vật) (2007), danh lục đỏ IUCN (2006) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, nâng cao đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Là tính đa dạng và đặc điểm cấu trúc của thực vật có mạch trong 4 trạng thái thảm thực vật tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang bao gồm: Trạng thái thảm cỏ; Trạng thái thảm cây bụi; Trạng thái rừng thứ sinh; Trạng thái rừng nguyên sinh đã bị tác động

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tính đa dạng của TTV và những đặc trưng cơ bản của những quần hệ thực vật chính trong khu vực

Trang 32

- Thành lập danh lục các loài thực vật được xếp theo vần ABC

- Xác định nhóm các dạng sống và tỷ lệ % của chúng

- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách

đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ IUCN (2001)

- Đề xuất một số giải pháp liên quan đến quản lý, bảo tồn tính đa dạng sinh vật nói chung và thực vật nói riêng ở khu rừng xã Tân Trào

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC)

Để thu thập số liệu về đặc trưng của các quần thể thực vật và thành phần khu hệ thực vật chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến (tuyến điều tra) và ô tiêu chuẩn (OTC)

- Tuyến điều tra (TĐT): Căn cứ vào địa hình tại khu vực nghiên cứu lập các tuyến điều tra TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyển đầu Chiều rộng quan sát của TĐT là 2m Khoảng cách gữa các tuyến là 50-100m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần

xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí các OTC và các ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu

- Ô tiêu chuẩn (OTC): trên các TĐT chúng tôi lập các OTC, diện tích 400m2 (20m x 20m) cho các trạng thái rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh đã bị tác động và thảm cây bụi, trạng thái thảm cỏ lập OTC 25m2 (5m x 5m)

- Ô dạng bản (ODB), trong các OTC lập các ODB có diện tích 4m2(2mx2m) áp dụng đối với thảm cây bụi, 25m2 (5mx5m) áp dụng đối với rừng thứ sinh và rừng nguyên sinh đã bị tác động, 1m2 đối với trạng thái thảm cỏ ODB được bố trí hai bên đường chéo trong OTC Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích của OTC Ngoài ra, dọc hai bên tuyến điều tra căn cứ địa hình cụ thể chúng tôi đặt các ODB phụ để thu thập số liệu bổ sung Trong các OTC và ODB tiến hành xác định tên khoa học các loài cây (các loài chưa biết tên thì thu thập mẫu về và xác định trong phòng thí nghiệm

Trang 33

2.5.2 Phương pháp thu thập, phân tích mẫu và số liệu

- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu tất cả các thông tin về các loài

đã gặp như: tên latinh, tên Việt Nam (hoặc tên địa phương), Dạng sống (thân

gỗ, thân bụi, thân thảo, dây leo) Những loài chưa biết tên lấy mẫu về để định loại trong phòng thí nghiệm

- Trong OTC, tiến hành thu thập mẫu trong các ODB, cách thu mẫu cũng giống như tuyến điều tra

Đánh giá độ nhiều: Độ nhiều là mức độ tham gia của 1 loài thực vật nào

đó trong quần xã về số lượng cá thể Người ta đã đưa ra nhiều loại thang thống

kê độ nhiều khác nhau; trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thang 6 cấp hay còn gọi là thang Drude (theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004), [43]) được trình bày

Cop2 Số cá thể của loài nhiều, chiếm 50 - 70%

Cop1 Số cá thể của loài tương đối nhiều, chiếm 30 - 50%

Sp Số cá thể của loài mọc rải rác phân tán, chiếm 10 - 30%

Sol Số cá thể của loài gặp rất ít, chiếm dưới 10%

2.5.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật

- Xác định tên khoa học, tên địa phương của các loài cây theo các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (1997) [4], Phạm Hoàng Hộ (1991) [20], Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam [48]

- Xác định dạng sống theo Raunkiaer (1934), theo cách phận loại này, dạng sống gồm các kiểu chính sau:

1 Chồi trên mặt đất (Phanerophytes), chồi tạo thành ở những cây này phải nằm trên độ cao nào đó (từ 25cm trở lên), thuộc vào nhóm này gồm các cây gỗ, cây bụi

Trang 34

2 Chồi mặt đất (Chamaetophytes), chồi hình thành ở độ cao không lớn so với mặt đất (dưới 25cm) Thuộc nhóm này có cây bụi nhỏ, cây nửa bụi,những cây dạng gối, rêu sống trên mặt đất

3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), chồi được tạo thành nằm sát mặt đất, thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm

4 Cây chồi ẩn (Crytophytes), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm thực vật địa sinh (cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc từ đáy ao hồ

5 Cây một năm (Therophytes), trong mùa bất lợi nó tồn tại ở dạng hạt, thuộc nhóm cây một năm

- Xác định các loài cây quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở KVNC theo Sách đỏ Việt Nam của Bộ Khoa học và Công nghệ (2007) phần thực vật [39], Danh lục đỏ IUCN (2006) [59] và nghị định 32/2006/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 30 tháng 03 năm 2006 [8]

2.5.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học của các loài thực vật:

Chủ yếu dựa vào công trình danh lục các loài thực vật Việt Nam tập 1 (NXBNN, 2002) tập 2 (NXBNN2003), tập 3 (NXBNN,2005) và tham khảo công trình Cây cỏ Việt Nam quyển I (1991),II (1992), III (1993) của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ [21]

2.5.6 Phương pháp điều tra trong nhân dân

Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (chi cục kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở KVNC, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác

động của con người và động vật…

Trang 35

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Xã Tân Trào là một trong 5 xã thuộc khu ATK (an toàn khu) Tân Trào, huyện Sơn Dương Có toạ độ: từ 210 43' 54" đến 210 50' 52" Vĩ độ Bắc; từ 105023' 56" đến 1050 31' 23'' Kinh độ Đông

- Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;

- Phía Tây giáp xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương;

- Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương;

- Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Trong đó: Xã Tân Trào có 22 khoảnh, với 2.289,57 ha

3.1.2 Địa hình

Xã Tân Trào nằm trong kiểu địa hình núi trung bình thấp (dưới 700 m);

độ cao trung bình toàn khu vực là 400 mét Địa hình Khu rừng xã Tân Trào chia thành một số kiểu sau:

- Kiểu địa hình vùng núi trung bình và núi thấp: Địa hình chia cắt phức

tạp với các đỉnh cao từ 500 m đến xấp xỉ 700m, độ dốc lớn, trên 250

- Kiểu địa hình vùng núi đá và lẫn đá lộ đầu: Xã Tân Trào có độ dốc

trung bình trên 300, càng lên đỉnh độ dốc càng lớn; độ cao phổ biến khoảng 250m đến 300m, chạy dọc bờ sông Phó đáy; địa hình cực kỳ hiểm trở nhưng cũng rất hùng vĩ Hướng sử dụng là bảo vệ tốt hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi

- Kiểu địa hình vùng đồi cao: Phân bố ở độ cao trung bình từ 200m đến

300m, độ dốc trung bình 200 - 250; vùng này thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng cây gỗ lớn kết hợp trồng rừng nguyên liệu

- Kiểu địa hình vùng đồi thấp và thung lũng: kiểu địa hình là đồi bát úp,

độ cao dưới 200m, xen kẽ là các thung lũng Vùng này thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng nguyên liệu

Trang 36

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng

a) Địa chất: Có các loại đá mẹ chính là: Phiến thạch sét, Sa thạch, Granit

và Đá vôi

b) Thổ nhưỡng: Có các loại thổ nhưỡng sau:

- Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: phân bố dọc theo triền sông

Phó Đáy, tầng đất dày trên 1m Đây là diện tích trồng cây lương thực và cây hoa mầu hàng năm

- Đất phù sa ven sông suối: Là do tích tụ phù sa của các sông suối, như:

Sông Phó Đáy, suối Ngòi Thia và các suối nhỏ bắt nguồn từ các khe nước được tích tụ và lắng đọng lại qua thời gian dài Đất có tầng phù sa dày, có màu xám đen, hàm lượng đạm, lân và kali ở mức trung bình, loại đất này nằm ở vùng có độ dốc thấp (< 30) nên thích hợp cho các loại cây lương thực và loại cây hoa màu

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: phân bố rải rác dưới chân địa hình

đồi núi, độ dốc thấp (8-150); dốc tụ được hình thành ở các thung lũng thấp do

sự ngưng tụ và rửa trôi các sản phẩm từ trên đồi xuống, đất có màu nâu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ, lẫn nhiều mảnh đá dăm sắc, cấu tượng tầng đất tơi xốp, thành phần mùn, đạm khá, lân, kali trung bình; thường bị ngập về mùa mưa lũ nhưng lại bị hạn về mùa khô, phù hợp với trồng lúa và cây màu ngắn ngày

- Đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước: Được hình thành trong quá

trình cải tạo trồng lúa nước, loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng tiếp giáp với đồi núi, thung lũng sông suối, đất có thành phần cơ giới thịt nặng đến sét thích hợp với trồng lúa, mía Do vậy cần bố trí cây trồng thích hợp để có hiệu quả kinh tế cao

- Đất feralit đỏ vàng: phân bố ở hầu hết các xã trong khu vực, diện tích

lớn, tầng đất dày, cấu trúc tơi xốp, thoát nước tốt, một diện tích lớn đã được khai thác trồng chè, cọ và cây nông nghiệp, một số diện tích nhỏ đã trồng rừng nguyên liệu

- Đất feralit vàng nhạt: Phát triển trên phiến đá sa thạch tập trung ở các

khu vực đồi bát úp, thấp thoải Đất có tầng đất dày, có nhiều mùn, đây là loại đất có diện tích lớn phù hợp với nhiều loại cây chè và cây lâm nghiệp

Trang 37

- Đất feralit sẫm chân núi đá vôi: Phân bố ở chân núi đá, đất nghèo mùn,

đạm trung bình, thường bị khô do mất nước

3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn

a) Khí hậu:

Trong khu rừng xã Tân Trào có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa và chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa

hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô, lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22

- 240C Nhiệt độ trung bình các tháng mùa Đông là 160C, nhiệt độ trung bình các tháng mùa Hè là 280C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.800mm, phân bố không đều trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, lượng mưa chiếm khoảng 86% lượng mưa của cả năm; mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 14% lượng mưa của cả năm Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.500 giờ Các tháng mùa Đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40 - 60 giờ/tháng Các tháng mùa Hè có số giờ nắng cao, khoảng từ 140 - 160 giờ Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 85 đến 87% Có 2 hướng gió chính: Mùa Đông

là hướng gió Đông Bắc hoặc Bắc; mùa Hè là hướng Đông Nam hoặc Nam; tốc độ của các hướng gió đạt 1m/s

b) Thủy văn:

Trong khu vực có 3 sông, ngòi chính: Sông Phó Đáy chảy qua địa phận từ xã Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên; hướng chảy từ Đông Bắc xuống Tây Nam, chiều dài gần 7 km Ngòi Thia hợp lưu từ suối núi Khau Nhì và Tống Thinh, tại Nà Lừa rồi đổ ra sông Phó Đáy Suối Vực Vầm (suối Lê) chảy từ hướng tây bắc xuống đông nam qua địa phận xã Minh Thanh rồi đổ ra sông Phó Đáy Hệ thống sông suối đều có nước chảy quanh năm, cung cấp đủ nước cho sản xuất nông lâm nghiệp

Ngoài ra, trong khu vực còn có khoảng 80 ha các ao hồ, suối, đập, đây là nguồn dự trữ nước cần thiết cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô hạn

Trang 38

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Điều kiện kinh tế

Dân cư phân bố không đều, các thôn bản tập trung ở thung lũng, gần sông suối, nơi có địa hình bằng phẳng, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục đường giao thông

Cơ cấu kinh tế của xã là: Nông lâm nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp -

Thương mại dịch vụ, Mức sống dân cư ở xã trong vùng còn thấp

Mặc dù nguồn lao động trong khu vực nghiên cứu phong phú, song hầu hết là lao động phổ thông, chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, chưa qua đào tạo Tuy nhiên người dân có tính cần cù, chịu khó và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông, lâm nghiệp

Đa số người dân sống trong khu vực là đồng bào dân tộc thiểu số, dân trí thấp, do đó khả năng tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, dẫn đến tình trạng đất bị khai thác cạn kiệt, bạc màu

Xã có tỷ lệ hộ nghèo còn cao, cùng với tỷ lệ tăng dân số cao, đây là nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến tình trạng lấn chiếm rừng và đất rừng để sản xuất nông nghiệp.Trong những năm gần đây đã thống kê được bình quân lương thực đầu người cao hơn bình quân toàn tỉnh, thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, cải thiện đời sống, giảm phụ thuộc vào tài nguyên động vật, thực vật rừng

Địa bàn nghiên cứu có nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia cần được bảo tồn, bảo vệ, đặc biệt có xã Tân Trào là xã điểm nông thôn mới của cả nước, do

đó công tác bảo vệ và phát triển rừng, phát triển kinh tế - xã hội được các cấp, các ngành trong và ngoài tỉnh quan tâm, có nhiều cơ hội thu hút được nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phương nói chung, trong đó có bảo vệ và phát triển rừng

3.2.2 Điều kiện xã hội

Xã Tân Trào, có các dân tộc: Tày, Kinh, Nùng, Dao, Cao Lan, Mông, Sán Dìu, Hoa cùng chung sống hoà thuận, trong đó: Các dân tộc có tỷ lệ cao là: Tày Kinh, Dao và một số dân tộc khác; dân tộc Mông có tỷ lệ thấp nhất

Trang 39

Về giao thông có Quốc lộ 2C chạy qua, nối liền khu bảo vệ cảnh quan Tân Trào với các huyện của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh: Vĩnh Phúc, Phú Thọ,

Hà Nội, Bắc Kạn, Thái Nguyên Ngoài quốc lộ 2C còn có đường liên xã, đường trục thôn, đường ngõ xóm và đường nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp…với hệ thống điện thắp sáng, hệ thống thủy lợi được chú trọng hơn, nhiều kênh mương được xây dựng để dẫn nước đảm bảo cho việc tưới tiêu và dẫn nước cho đồng ruộng

Công tác giáo dục - đào tạo trong vùng có bước chuyển biến rõ rệt cả

về chất và lượng trên tất cả các bậc học Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân luôn được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm Tuy nhiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn, trình độ chuyên môn còn hạn chế nên chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân

Tóm lại: Xã Tân Trào là xã vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng,

có nhiều tiềm năng về bảo tồn, bảo vệ và phát triển rừng, các di tích lịch sử văn hoá và cảnh quan thiên nhiên; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luôn được đảm bảo; nhưng còn nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội: kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Ngày đăng: 21/12/2017, 17:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáp Thị Hồng Anh (2007), Nghiên cứu một số đặc điểm của thảm thực vật thứ sinh và tính chất hoá học đất tại xã Canh Nậu - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ sinh học, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm của thảm thực vật thứ sinh và tính chất hoá học đất tại xã Canh Nậu - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Giáp Thị Hồng Anh
Năm: 2007
2. Phạm Hồng Ban (1999), “Bước đầu nghiên cứu tính đa dạng sinh học trong nông nghiệp nương rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An”, Luận án Tiến sĩ sinh học, Trường Đại học Sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bước đầu nghiên cứu tính đa dạng sinh học trong nông nghiệp nương rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An”
Tác giả: Phạm Hồng Ban
Năm: 1999
3. Nguyễn Tiến Bân (1983), Danh lục thực vật Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục thực vật Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1983
4. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, NXb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 1997
6. Lê Mộng Chân (1994), "Điều tra tổ thành thực vật vùng núi cao Ba Vì", Thông tin khoa học lâm nghiệp, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tổ thành thực vật vùng núi cao Ba Vì
Tác giả: Lê Mộng Chân
Năm: 1994
7. Lê Trần Chấn (1990), Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình, Luận án PTS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Lê Trần Chấn
Năm: 1990
8. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
9. Hoàng Chung (1980), Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam, Công trình nghiên cứu khoa học trường Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 1980
10. Hoàng Chung (2008), Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật, tr.25-26, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
11. Trần Văn Con (1992), “Ứng dụng mô hình toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên”, Thông tin khoa học lâm nghiệp, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng mô hình toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên”, "Thông tin khoa học lâm nghiệp
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 1992
12. Lê Ngọc Công (1998), Nghiên cứu tác dụng bảo vệ môi trường của một số mô hình rừng trồng trên vùng đồi trung du một số tỉnh miền núi, Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng bảo vệ môi trường của một số mô hình rừng trồng trên vùng đồi trung du một số tỉnh miền núi
Tác giả: Lê Ngọc Công
Năm: 1998
13. Lê Ngọc Công (2004), Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ sinh học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên
Tác giả: Lê Ngọc Công
Năm: 2004
14. Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000), “Động thái thảm thực vật sau nương rẫy ở Con Cuông, Nghệ An”, Tạp chí Lâm nghiệp, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái thảm thực vật sau nương rẫy ở Con Cuông, Nghệ An”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban
Năm: 2000
15. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và Bảo tồn thiên nhiên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và Bảo tồn thiên nhiên
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
16. Ngô Tiến Dũng (2004), “Đa dạng thực vật VQG Yok Don”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thực vật VQG Yok Don”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Ngô Tiến Dũng
Năm: 2004
17. Trần Đình Đại (2001), “Những dẫn liệu về hệ thực vật Tây bắc Việt Nam (ba tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La)”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật 1996-2000, tr. 45-49, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dẫn liệu về hệ thực vật Tây bắc Việt Nam (ba tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La)”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật 1996-2000
Tác giả: Trần Đình Đại
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
19. Võ Đại Hải (1996), Nghiên cứu các dạng cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam, Luận án PTS Nông nghiệp, Viện Khoa học và Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các dạng cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam
Tác giả: Võ Đại Hải
Năm: 1996
20. Phạm Hoàng Hộ (1991-1992), Cây cỏ Việt Nam, quyển I - III. Montreal, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
21. Phan Nguyên Hồng (1970), Đặc điểm phân bố sinh thái của hệ thực vật và thảm thực vật Miền bắc Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân bố sinh thái của hệ thực vật và thảm thực vật Miền bắc Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1970
22. Phan Nguyên Hồng (1991), Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam, Luận án tiến sĩ khoa học sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w