Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tính đa dạng về thành phần loài, đa dạng về thành phần dạng sống và cấu trúc của một số trạng thái thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu.. - Do điều kiện hạn
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- -
HOÀNG THỊ THANH THUỶ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÍNH ĐA
DẠNG THỰC VẬT TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI
THẢM THỰC VẬT Ở XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ
NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN – 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- -
HOÀNG THỊ THANH THUỶ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT Ở XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ
NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC
MÃ SỐ: 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN – 2009
Trang 2The International Union for Conservation of nature and
Natural Resources - Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài
nguyên thiên nhiên Quốc tế
Lời cảm ơn Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Lê Ngọc Công - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh
nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này Tôi cũng xin
chân thành cảm ơn tới Th.S La Quang Độ, giảng viên khoa Lâm nghiệp
Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu ngoài thực địa
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân xã Thần Sa, cán bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã chỉ bảo và cung cấp những tài liệu quan trọng Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Trường Trung học phổ thông Khánh Hoà, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong thời gian học Cao học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2009
Tác giả
Hoàng Thị Thanh Thuỷ
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Đóng góp mới của luận văn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 4
1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật 7
1.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc 10
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 10
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 14
1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 18
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 21
1.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Thái Nguyên và khu vực nghiên cứu 23
Chương 2: Đ IỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 26
2.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 26
2.2 Điều kiện xã hội vùng nghiên cứu 30
Chương 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
Trang 44.1 Đa dạng thảm thực vật và hệ thực vật ở KVNC 37
4.1.1 Đa dạng thảm thực vật 37
4.1.2 Đa dạng hệ thực vật 39
4.2 Đa dạng thành phần loài trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 65
4.3 Các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở KVNC 74
4.4 Đa dạng thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật 75
4.5 Đa dạng về cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật 84
4.6 Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 92
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 9
Bảng 1.2: Số loài thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng 24
Bảng 2.1: Số hộ, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Thần Sa 31
Bảng 4.1: Sự phân bố của các bậc taxon ở KVNC 40
Bảng 4.2: Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 41
Bảng 4.3: Các chi có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 43
Bảng 4.4: Các họ có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 48
Bảng 4.5: Danh lục các loài thực vật điều tra được trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 52
Bảng 4.6: Các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở KVNC 74
Bảng 4.7: Thành phần dạng sống trong khu vực nghiên cứu 75
Bảng 4.8: Thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật 77
Bảng 4.9: Cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 84
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Phân bố của các bậc taxon ở KVNC 41
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ các họ, chi trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC 42
Biểu đồ 4.3: Thành phần dạng sống trong khu vực nghiên cứu 76
Biểu đồ 4.4: Thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật 78
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người Rừng là lá phổi xanh khổng lồ điều hoà khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ, là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của thiên nhiên, là nơi cư trú của nhiều loài động vật, là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung Đặc biệt thảm thực vật rừng còn có vai trò rất quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho các hoạt động của con người như lấy gỗ, giấy, xây dựng nhà cửa và các trang thiết
bị nội thất, cho dầu béo, tinh dầu, làm thuốc, làm cảnh và nhiều giá trị sử dụng khác
Việt Nam với điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, là nơi gặp gỡ của hai trung tâm giàu loài nhất thế giới là Trung quốc và Indonexia Hệ thực vật nước ta có thành phần loài mang cả yếu tố thực vật nhiệt đới ẩm Indonexia – Malaysia (yếu tố thực vật nhiệt đới gió mùa) và thực vật vùng nam Trung hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và nam Tiểu Á Theo thống kê, hiện nay nước ta có tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305
họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới [34]
Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập với quốc tế, quá trình
đô thị hoá diễn ra một cách nhanh chóng, một diện tích đất rừng không nhỏ
đã được sử dụng để xây dựng các công trình nhà cửa, xí nghiệp, đường xá, khu vui chơi… Bên cạnh đó nạn phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ củi và các nguồn tài nguyên khác vẫn thường xuyên xảy ra, diện tích rừng ngày càng
bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, lâm tặc ngày càng lộng hành tàn phá thiên nhiên… Nếu không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những năm tới, nguồn tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn
Trang 6Xã Thần Sa, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một trong 7 xã, thị
trấn thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng Diện tích đất
lâm nghiệp chiếm hơn 80% với thành phần loài thực vật khá phong phú và đa
dạng [3] Trước khi trở thành Khu bảo tồn thiên nhiên (năm 1999) thì hiện
tượng chặt phá rừng, khai thác lâm sản ngoài gỗ diễn ra thường xuyên làm
cho chất lượng rừng bị giảm sút nghiêm trọng Từ khi trở thành Khu bảo tồn
thiên nhiên, thảm thực vật ở đây đã được bảo vệ nghiêm ngặt, tình trạng chặt
phá rừng đã giảm nhiều, song việc khai thác nguồn tài nguyên phi lâm sản
(song mây, hoa quả rừng, dược liệu…) vẫn diễn ra hàng ngày, nên đã làm
giảm đáng kể tính đa dạng sinh học
Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và
tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Thần Sa,
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tính đa dạng về thành phần loài, đa dạng về thành phần dạng
sống và cấu trúc của một số trạng thái thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu
- Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phục hồi thảm thực vật rừng, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương
3 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2009 tại khu vực xã Thần
Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu, xác định tính đa dạng thành phần loài, đa dạng về thành phần
dạng sống và cấu trúc của một số trạng thái thảm thực vật tại xã Thần Sa
4 Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu đã xác định được thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc
hình thái của 5 trạng thái thảm thực vật ở xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2006) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương
Trang 7Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật trên thế giới và
Việt Nam
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà
khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo
J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ
phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [50] cho rằng thảm
thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh
Trần Đình Lý (1998) [33] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật
ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái
đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào
Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực
vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
1.1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện
đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt
đới, ôn đới và núi cao
J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ
và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ
rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi;
loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [35]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm
thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và
vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [60]
1.1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [57]
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa
Trang 8Trần Ngũ Phương (1970) [37] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc
Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai
rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1970) [50] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân
gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ
thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại
hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân
loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là
bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm
sinh thái cho đến nay [49]
Phan Kế Lộc (1985) [32]dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973,
cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp
quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn
Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những
nghiên cứu của ông
Nguyễn Hải Tuất (1991) [53] nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về
sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu
rừng cơ bản: kiểu rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á
nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995)[27] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự
hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào
mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác
nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm
thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô
nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa
van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá
vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) [51] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu
tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Nguyễn Thế Hưng (2003) [26] cũng dựa trên nguyên tắc phân loại UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Lê Ngọc Công (2004) [15] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành
4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa
Ngô Tiến Dũng (2004) [18] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật 1.1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Trang 9Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chưa
cụ thể, tuỳ từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà
thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng
500.000 – 600.000 loài
Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000
loài thực vật hạt kín; 5.000 – 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 – 10.000 loài
quyết thực vật; 14.000 – 18.000 loài rêu; 19.000 – 40.000 loài tảo; 15.000 –
20.000 loài địa y; 85.000 – 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp
khác
Năm 1962, G N Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín
phân bố ở các châu lục như sau:
Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000
loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam
cực: 1.000 loài
Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài;
Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài
Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500
loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc
và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập:
2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài
Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các
khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc
Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc
Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài
Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây
Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500
loài [17], [34]
Lecointre và Guyader (2001) [20]đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới
Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả % số loài đã được mô tả
Bryophyta Ngành Rêu 15.000 0,90 Lycopodiophyta Ngành Thông đất 1.275 0,07 Polypodiophyta Ngành Dương xỉ 9.500 0,50 Pinophyta Ngành Thông 601 0,03 Magnoliophyta Ngành Ngọc lan 233.885 13,40
1.1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Ở nước ta, trong thực vật chí Đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [59] Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta [5] Gần đây, Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước
ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia – Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á [34]
Trang 10* Nhận xét chung
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết
chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa
vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình
Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết
các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục,
một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên
cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao
động và cao hơn nhiều
1.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu
trúc
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu
được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên
cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933),
Creepva (1978)…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình
thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác
biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của
nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu
quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật [35]
Ramakrishman (1981 – 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở
vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời
gian bỏ hoá
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy
tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm
thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài [45]
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [31]
Khi nghiên cứu về thành phần loài, Hoàng Hữu Hiếu (1970) đã đề nghị
áp dụng công thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới
a
N
X (X: Trị số trung bình cá thể của một loài
Một số loài được gọi là thành phần chính của loại hình phải có số lượng
cá thể bằng hoặc lớn hơn X [35]
Nguyễn Đăng Khôi (1971) đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” [59]
Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây
bộ Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc Việt Nam Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [50]
Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ
Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin
[31]
Hoàng Chung (1980) [10] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam, Dương Hữu Thời (1981) đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng Bắc Việt Nam gồm 213 loài [28]
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương [4]
Trang 11Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số
loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [22]
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác
(dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập
mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn [24]
Lê Mộng Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba
Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch
trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên [7]
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài
thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [30]
Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu
giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây
bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc
6 ngành thực vật bậc cao có mạch [19]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài,
dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123
loài thuộc 47 họ khác nhau [13]
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu một số đặc
điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng
đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài [25]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc
gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc
478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này
được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ
Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số
425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng
[42]
Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ [14]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê – Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào – Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem – Myrsinaceae) [51]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [43],[44]
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [16]
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi
10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [41]
Đặng Kim Vui (2002) [54] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1 – 2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hoà thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thầu dầu (6 loài)…; giai đoạn 3 – 5
Trang 12tuổi có 65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5 – 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai
đoạn 11 – 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Nguyễn Thế Hưng (2003) đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật
nghiên cứu ở Huyện Hoành Bồ, Thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài
thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch [26]
Phạm Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự
nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy
chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa
hình, thoái hoá đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi
của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 – 25 loài, trên đất xấu 8 –
12 loài [47]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống
kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi,
654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý
như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[15]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La
đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [29]
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực
vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác
nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ
yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 – 5m [46]
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực
vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường
xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên
mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [35]
Braun – Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [1]
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là
hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [11] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):
SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu
Trang 13tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của
thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh
thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu
hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều
lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ
Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng
phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và
các dạng đặc thù
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi
Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm
phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu
thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm
của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng
sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng
của môi trường [11]
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn Ngọc
Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà
thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng
cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu
đồng cỏ sa van, thảo nguyên [10]
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân
chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [50]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình
cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp
của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số
dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác
giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [8]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [11]
Phan Nguyên Hồng (1991) [24] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
ký sinh (K), bì sinh (B)
Áp dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn (1995) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương [42] là:
SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 11,0Th Phạm Hồng Ban (1999) [2] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:
SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th Đặng Kim Vui (2002)[54]nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi) Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật;
Trang 14nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43
loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1
năm có 35 loài chiếm 10,80% [26]
Phạm Ngọc Thường (2003) [47] khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương
rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho kết quả phổ dạng sống của hệ thực vật
là:
SB = 56,37Ph + 12,73Ch + 14,23He +8,80Cr + 7,87Th
Lê Ngọc Công (2004) [15] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng
khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật
thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo
Ngô Tiến Dũng (2004) [18] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn
quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:
SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th
Vũ Thị Liên (2005) [29] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực
vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ
dạng sống như sau:
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Dương Hữu Thời (1961) đã lập phổ dạng sống của các quần xã cỏ trên
bãi cát sông Hồng [2]
1.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trọng hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn
phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự
thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với
môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc
rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi…
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta có một số tác giả như: Phạm Minh Nguyệt (1994) [36] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài
Nguyễn Văn Trương (1982) [52] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn Ông cho rằng nếu
áp dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng
Vũ Đình Phương (1987) trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng [38] Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng [53]
Trần Văn Con (1992) ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum)
đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa
Trang 15thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự
thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định [12]
Võ Đại Hải (1996), đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước
của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ
đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều
tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và
điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng [21]
* Nhận xét chung
Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở
Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng
và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với
điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu
còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn rộng rãi hơn nhằm mục
đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu
vực hoặc một quốc gia
Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các
tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu
chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, hầu hết các tác giả đều
sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer trong những nghiên cứu của mình Hệ
thống phân chia của ông có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng
Ông chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian
bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống Vì lẽ đó, trong
nghiên cứu của mình, tôi cũng chọn lựa cách phân chia dạng sống này của Raunkiaer
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều đưa ra
những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp Cấu trúc thích hợp tức
là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi,
phụ thuộc vào nhiều yếu tố
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan cho công tác bảo tồn, từ năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới [58] Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…
Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể
tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong
cuốn “sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài
(thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:
- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự
Trang 16nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I
được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là:
ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài
động vật rừng
- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm
những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc
có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy
cơ tuyệt chủng Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II cũng được chia thành:
nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10
loài và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [9]
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật
có nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài
có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công
trình đáng chú ý là:
Nguyễn Thị Yến (2003) [56] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa
dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân
Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý
hiếm, trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp
dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và
IUCN
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ (2009) khi nghiên cứu
hiện trạng hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã
thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu bảo tồn thiên nhiên
Thần Sa – Phương Hoàng gồm có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và
22 loài có tên trong nghị định số 32/2006/NĐ-CP [6]
Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau
mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.4 Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật ở Thái Nguyên
và khu vực nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật ở Thái Nguyên còn rất ít và tản mạn Cuối năm 70, Sở Nông lâm Thái Nguyên
đã nghiên cứu một số mô hình rừng trồng nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc như mô hình Lim, Dẻ, Trám…ở xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ Mô hình Bạch đàn hoặc Bạch đàn - Keo ở vùng hồ Núi Cốc, huyện Đại Từ Các
mô hình này có hiệu quả kinh tế tốt đối với người dân, rừng đã được phục hồi Năm 1986 – 1987 Vụ Khoa học kỹ thuật - Bộ Lâm nghiệp tiến hành nghiên cứu một số mô hình nông lâm kết hợp, trong đó có mô hình cây màu xen cây công nghiệp (chè) hoặc cây màu trồng xen với cây ăn quả (Mít, Dứa…) ở xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ đã có kết quả tốt [55]
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1994) nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống của quần hệ sa van cây bụi trên vùng đồi trung du Thái Nguyên, đã đưa ra một số loại hình khoanh nuôi phục hồi và một số mô hình rừng trồng (Lim, Dẻ, Trám…) [13]
Lê Ngọc Công (2004) đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây
gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến… [15]
Nguyễn Xuân Quát (1995) nghiên cứu mô hình rừng tự nhiên, mô hình vườn chè tại các vùng đồi núi thấp, đất đai bị thoái hoá mạnh của các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hoá, Đại Từ và thành phố Thái Nguyên [39]
Trang 17Đặng Kim Vui (2002) [54] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục
hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã thống kê số họ và
số loài thực vật ở từng giai đoạn phục hồi, đó là: giai đoạn phục hồi 1 – 2 tuổi,
thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 3 – 5 tuổi có 65 loài
thuộc 34 họ; giai đoạn 5 – 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11 – 15
tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Ở khu vực nghiên cứu (xã Thần Sa), các công trình nghiên cứu về thảm
thực vật và hệ thực vật ở đây còn rất ít Năm 2008, Ban quản lý khu Bảo tồn
thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê số loài số loài thực vật
trong khu bảo tồn là 1635 loài thuộc 817chi, 191 họ được phân bố cụ thể
Trong tổng số 191 họ ở khu vực nghiên cứu có 55 họ chỉ có 1 loài, 42 họ
có 2 – 3 loài 53 họ có 4 – 9 loài, 25 họ có 10 – 19 loài, 17 họ có 20 loài
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ [6] đã lập danh mục các
loài thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng bao gồm 5
ngành, 160 họ và 1096 loài Bên cạnh đó, các tác giả còn phân chia giá trị sử
dụng của các loài thực vật theo 4 nhóm chính là: cây lấy gỗ, cây làm thuốc, cây ăn được và cây làm cảnh Những kết quả vừa nêu mới chỉ là số liệu bước đầu, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn để làm cơ sở cho công tác quản
lý, bảo tồn đa dạng sinh học và đầu tư phát triển khu du lịch sinh thái Đề tài luận văn Thạc sĩ của tác giả góp phần nghiên cứu giải quyết các yêu cầu đó
Trang 18Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới
Võ Nhai có diện tích tự nhiên 84.510,4ha, gồm 14 xã và 1 thị trấn, trong
đó có 11 xã thuộc khu vực III, còn lại 4 đơn vị thuộc khu vực II Dân số hiện
có 63.000 người
- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
- Phía Bắc giáp huyện Chợ Mới và Na Rì - tỉnh Bắc Kạn
- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Hữu Lũng - Tỉnh Lạng Sơn
- Phía Nam giáp huyện Yên Thế - Tỉnh Bắc Giang
Xã Thần Sa là khu vực nghiên cứu, có tổng diện tích tự nhiên là
10.144ha thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, nằm trên
địa bàn hành chính huyện Võ Nhai, có ranh giới như sau:
+ Phía Tây giáp xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
+ Phía Bắc giáp huyện Chợ Mới - Tỉnh Bắc Kạn
+ Phía Đông giáp xã Thượng Nung và Cúc Đường - Huyện Võ Nhai
+ Phía Nam giáp xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
2.1.2 Địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc-Nam và thấp
dần xuống phía Nam Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đá phong hóa
mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ
Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590 m, các vách núi dựng đứng và
kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ
Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn cũng chạy
theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những
dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
Huyện Võ Nhai nói chung và xã Thần Sa nói riêng đều có địa hình phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít, phần lớn diện tích là đồi núi thấp và núi
đá vôi, những vùng đất bằng phẳng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhỏ, chủ yếu theo các khe suối, triền sông và thung lũng
2.1.3 Đất đai
Theo kết quả phúc tra do Viện Thiết kế xây dựng thực hiện thì toàn huyện Võ Nhai có các nhóm đất sau:
- Đất phù sa: 1.816 ha chiếm 2,15% diện tích
- Đất đen: 935 ha chiếm 1,11% diện tích
- Đất xám bạc màu: 63.917,7 ha chiếm 75,63% diện tích
- Các loại đất khác: có 11.070,4 ha chiếm 16,65% diện tích
Nhìn chung Võ Nhai có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, song chủ yếu là đất đồi núi; những diện tích đất bằng phẳng phục vụ cho canh tác nông nghiệp rất thấp, đất ruộng lúa chỉ còn 2.916,81 ha
2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
* Khí hậu: Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm chia làm
2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Mùa đông được chia thành 3 vùng
rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và
Trang 19Thị xã Sông Công Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6:
28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng
trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho
các tháng trong năm Nhìn chung, khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho
phát triển ngành nông, lâm nghiệp
* Thuỷ văn: Trong huyện Võ Nhai có hai hệ thống nhánh sông trực
thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, đó là hệ thống sông Nghinh Tường
và hệ thống sông Dong và nhiều khe, suối nhỏ do đó nguồn nước mặt tương
đối phong phú nhưng phân bố không đều Qua điều tra thăm dò khảo sát thì
nguồn nước ngầm tương đối phong phú, chất lượng tốt đảm bảo phục vụ cho
sinh hoạt và sản xuất
2.1.5 Tài nguyên khoáng sản
Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong các
tỉnh thành cả nước bao gồm than mỡ, than đá được phân bố tập trung ở 2
huyện Đại từ và Phú Lương Tiềm năng than mỡ có khoảng trên 15 triệu tấn,
trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, chất lượng tương
đối tốt, tập trung ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm Hồn
- Than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn
tập trung ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hoà, Núi Hồng
Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên
- Quặng Sắt: Có 47 mỏ và điểm quặng trong đó có 2 cụm mỏ lớn: Cụm
mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn có hàm lượng Fe 58,8% -
61,8% Cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường ĐT 259 có tổng trữ lượng
quặng khoảng 30 triệu tấn; Quặng Titan: Đã phát hiện 18 mỏ và điểm quặng
sa khoáng và quặng gốc phân bố chủ yếu ở huyện Phú Lương và Đại Từ,
trong đó có 01 mỏ đã thăm dò và khai thác (mỏ Cây Châm, Phú Lương), thành
phần chính của quặng là Ilmenít Tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn
- Ngoài ra còn có đồng, thủy ngân, thiếc, chì, kẽm, vàng , có rải rác ở các địa phương trong tỉnh
- Khoáng sản phi kim loại: Có pyrít, barít, phốtphorít trong đó đáng chú ý là phốtphorít ở một số điểm quặng: Núi Văn, Làng Mới, La Hiên Tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn
- Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng trong đó đáng chú
ý là đất sét xi măng ở 2 mỏ Cúc Đường và Khe Mo, trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Đá Cacbônat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi xi măng, Đôlômit tìm thấy ở nhiều nơi Riêng đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỷ m3
, trong
đó 3 mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang có trữ lượng 222 triệu tấn, ngoài ra gần đây mới phát hiện mỏ sét cao lanh tại xã Phú Lạc, Đại Từ có chất lượng tốt, hàm lượng Al2CO3 cao, trữ lượng dự kiến 20 triệu m3 Đó là vùng nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng và đá
ốp lát
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú
về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước Tiềm năng quặng sắt tạo cho Thái Nguyên một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước
2.1.6 Tài nguyên rừng
Võ Nhai có diện tích đất lâm nghiệp lớn, lại là huyện vùng cao khí hậu nhiệt đới nên hệ thực vật có nhiều gỗ quý từ nhóm II đến nhóm VIII, song đến nay trữ lượng không còn nhiều Rừng già và rừng trung bình chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu là ở các vùng sâu, vùng xa Ngoài rừng gỗ còn có rừng tre, nứa, vầu
Xã Thần Sa thuộc khu vực nghiên cứu có tổng diện tích đất tự nhiên là 10.144ha Trong đó rừng tự nhiên có 8.675ha gồm: rừng gỗ có 1327ha; rừng tre nứa 50ha; rừng hỗn giao 1312ha; rừng núi đá 5985ha
Trang 20Hệ động vật tương đối phong phú, đa dạng, gồm các loại thú rừng, bò
sát, chim Hiện nay số lượng động vật đang bị suy giảm nhiều do nạn săn, bắn
bừa bãi và chặt phá rừng làm mất nơi cư trú
2.2 Điều kiện xã hội vùng nghiên cứu
2.2.1 Dân số, dân tộc
Dân số cuối năm 2005 toàn huyện Võ Nhai có 14.110 hộ với 62.744
người, nữ chiếm 50,08% dân số Trong đó:
- Nhân khẩu nông nghiệp: 59.830 người
- Nhân khẩu phi nông nghiệp: 2.914 người
Mật độ dân số trung bình: 73 người/km2
, phân bố không đều giữa các vùng, đông nhất ở trung tâm huyện lỵ và dọc Quốc lộ 1B, ở các xã vùng sâu,
vùng xa mật độ thấp 22 - 25 người/km2
- Dân tộc: toàn huyện có 8 dân tộc anh em là: Kinh chiếm 34,17% dân
số; Tày 29,88%; Nùng 14,52%; Dao 12,63%; Các dân tộc H’Mông, Cao Lan,
Sán Chí, Hoa chiếm 8,7%
- Lao động: Toàn huyện có 29.703 lao động nông nghiệp chiếm 47,34%
dân số, trong đó lao động nữ chiếm 57,5% Hầu hết dân số sống ở nông thôn
(khoảng 90%), chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp
Về trình độ lao động nhìn chung thấp Số người được bồi dưỡng về kỹ
thuật trồng, chăm sóc cây trồng ở tiểu vùng I là 6,11%, Tiểu vùng II là 42,5%
và Tiểu vùng III là 32% tổng số hộ Số lao động có văn hoá bậc tiểu học
chiếm 74,32%, trình độ bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông chiếm
25% Số còn lại có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học rất ít Số hộ gia
đình được giao lưu với bên ngoài không nhiều
Tổng số hộ, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Thần Sa được nêu cụ
Trong đó dân tộc (theo khẩu) Kinh Tày Nùng Dao Mông Cao
(Nguồn: Báo cáo xã hội và đa dạng sinh học khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa
- Phượng Hoàng ngày 20 tháng 08 năm 2008 [3])
2.2.2 Hoạt động nông lâm nghiệp
Trong 5 năm qua, giá trị sản xuất trong toàn ngành nông, lâm nghiệp của huyện Võ Nhai đều tăng qua các năm, mức tăng bình quân đạt gần 6%/năm Các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao được phát triển mạnh như: cây đỗ tương, thuốc lá, mía, lạc, chè, tạo ra thu nhập đáng kể cho người dân
Hệ số sử dụng đất hiện nay là 1,77 lần, đạt giá trị 15,3 triệu đồng/ha canh tác Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 20,3 ngàn tấn (năm 2001) lên 27,8 ngàn tấn (năm 2004) Bình quân lương thực đầu người đạt 454kg/người/năm Sản xuất lương thực đủ đáp ứng nhu cầu toàn huyện Các mô hình chăn nuôi quy mô, tập trung ngày càng phát triển Đàn lợn được duy trì ổn định ở mức 32.000 con, đàn bò tăng nhanh từ năm 2003 với số lượng hiện nay là 2.300 con, riêng đàn Trâu có xu hướng giảm với số lượng hiện nay là 14.700 con Sản lượng thịt hơi các loại hàng năm đạt từ 2.000 đến 2.300 tấn
Trang 21Ngành lâm nghiệp đã chuyển hướng khai thác sang trồng rừng và chăm
sóc, bảo vệ rừng Hàng năm, diện tích trồng mới đạt từ 300 đến 450 ha rừng
các loại Ngoài ra còn trồng được 392 cây hồi ở 5 xã: Phú Thượng, Vũ Chấn,
Nghinh Tường, Sảng Mộc và Thần Sa là loại cây đặc sản có giá trị kinh tế
cao
Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, tỷ
trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh Thành phần kinh tế hợp
tác xã phát triển mạnh trong 5 năm với tổng số hiện nay toàn huyện có 20 hợp
tác xã, bước đầu làm ăn có hiệu quả
Xã Thần Sa nằm trong khu bảo tồn thiện nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng, vì vậy sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lâm nghiệp được quan tâm
Số hộ được nhận đất rừng: 1.889,0 hộ chiếm 43,8% hộ/xã và bước đầu đã
mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho người dân trong xã
2.2.3 Giao thông, thuỷ lợi
Hệ thống giao thông trong xã chủ yếu vẫn là đường đất, số km đường
nhựa và bê tông rất ngắn chỉ vài km Hiện nay, huyện Võ Nhai đang kêu gọi
các chương trình và dự án đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông trong toàn
huyện Đặc biệt có dự án xây dựng cầu Nước Hai thuộc Xã Cúc Đường bắc
qua sông Thần Sa, nối liền 2 xã Cúc Đường và Thần Sa, là tuyến đường đến
di tích lịch sử, văn hoá Mái Đá Ngườm xã Thần Sa
Tại Thần Sa, hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt được
cung cấp bởi sông Thần Sa và hệ thống nước ngầm khá phong phú Tuy nhiên
việc khai thác vàng trái phép tại xã Thần Sa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân
2.2.4 Văn hoá, giáo dục, y tế
- Về văn hoá: Do chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên trình độ dân trí
còn thấp, giao lưu và thông thương với bên ngoài không nhiều
- Về hệ thống giáo dục: Trong xã đã có các trường từ mầm non đến trung học cơ sở Toàn xã đã đạt phổ cập giáo dục mầm non và trung học cơ sở Tuy nhiên, cả huyện mới có 3 trường cấp ba, đi lại khó khăn nên số học sinh học hết cấp 3 và các cấp học cao hơn còn thấp
- Về y tế: Xã Thần Sa có 1 trạm y tế đóng tại trung tâm xã, được xây dựng kiên cố với 4 giường bệnh, 1 bác sĩ, 1 y sĩ, 2 y tá Cơ sở, dụng cụ khám chữa bệnh còn rất đơn sơ Tuy nhiên, công tác y tế ở đây đã có nhiều cố gắng như phát thuốc sốt rét, sốt xuất huyết, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh Tuy nhiên, do điều kiện giao thông chưa thuận lợi nên việc chữa chạy bệnh nhân trong trường hợp nguy cấp chưa kịp thời
2.2.5 Điện, nước sạch
Có 80% số hộ trong xã được hưởng nguồn điện lưới quốc gia Một số xóm vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn nên hệ thống đường điện còn chưa được đáp ứng
Hệ thống nước sạch phục vụ cho sinh hoạt của người dân đều lấy từ nguồn nước ngầm (nước khoan, giếng khơi) tương đối đảm bảo vệ sinh môi trường [3]
Trang 22Chương 3
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là 5 trạng thái thảm thực vật tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên bao gồm:
Trạng thái rừng trên núi đất
Trạng thái rừng trên núi đất lẫn đá
Trạng thái rừng thứ sinh
Trạng thái thảm cây bụi
Trạng thái thảm cỏ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC)
Chúng tôi sử dụng phương pháp của Hoàng Chung (2008) [11] như sau:
- Tuyến điều tra: trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào
bản đồ của khu vực lập các TĐT TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với
đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Chiều rộng quan sát
của TĐT là 4m Khoảng cách giữa các tuyến là 50 – 100m tùy vào địa hình cụ
thể của từng quần xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí OTC và ODB (2x2m) để
thu thập số liệu OTC
- Ô tiêu chuẩn: để thu thập số liệu thảm thực vật, chúng tôi áp dụng OTC
là 400m2 (20 x 20m) cho các trạng thái rừng và cây bụi Ô dạng bản (ODB)
được bố trí trên các đường chéo, đường vuông góc và các cạnh của OTC
Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích OTC Với thảm cỏ
dùng diện tích 2x2m Ngoài ra dọc hai bên tuyến điều tra cũng đặt thêm các ODB phụ để
thu thập số liệu bổ sung Trong các OTC, chúng tôi tiến hành xác định tên khoa học (các loài
chưa biết tên thì thu thập mẫu về định loại), dạng sống và đo chiều cao của cây để xác định cấu
trúc phân tầng của các trạng thái thảm thực vật)
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu tất cả các thông tin về các loài đã gặp như: tên latinh (hoặc tên địa phương), Dạng sống (thân gỗ, thân bụi, thân thảo, dây leo) Những loài chưa biết tên lấy mẫu về để định loại
- Trong OTC, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ODB), cách thu mẫu cũng giống như tuyến điều tra
3.2.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật
- Xác định tên khoa học, tên địa phương của các loài cây theo các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (1997) [5], Phạm Hoàng Hộ (1991) [22], Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam [48]
- Xác định dạng sống theo Raunkiaer (1934), Hoàng Chung (2008) [11] Theo cách phận loại này, dạng sống gồm các kiểu chính sau:
1 Chồi trên mặt đất (Phanerophytes), chồi tạo thành ở những cây này phải nằm trên độ cao nào đó (từ 25cm trở lên), thuộc vào nhóm này gồm các cây gỗ, cây bụi
2 Chồi mặt đất (Chamaetophytes), chồi hình thành ở độ cao không lớn
so với mặt đất (dưới 25cm) Thuộc nhóm này có cây bụi nhỏ, cây nửa bụi,những cây dạng gối, rêu sống trên mặt đất
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), chồi được tạo thành nằm sát mặt đất, thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm
4 Cây chồi ẩn (Crytophytes), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm thực vật địa sinh (cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc từ đáy
Trang 23Danh lục đỏ IUCN (2006) [58] và nghị định 32/2006/NĐ-CP của chính phủ
ban hành ngày 30 tháng 03 năm 2006 [9]
3.2.4 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (chi
cục kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên
ở KVNC, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những
tác động của con người và động vật…
4.1.1.1 Trạng thái rừng trên núi đá vôi
Kiểu rừng này trong khu vực nghiên cứu có diện tích lớn 5985ha Tuy nhiên, do tình trạng khai thác quá mức diễn ra trong một thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh chưa bị tác động của kiểu rừng này hiện tại còn lại rất ít, phân bố rải rác trên các đỉnh núi đá vôi cao, dốc hiểm trở, xa đường giao thông Loài thực vật ưu thế phổ biến rất đặc trưng trong các quần xã thực
vật ở đây là Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Đinh (Markhamia
stipulata), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Trai lý (Garcinia fragraeoides),
Thung (Tetrameles nudiflora), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum, Đại phong tử (Hydnocarpus
anthelminthica)… Các cây gỗ đa số có chiều cao trên 20m và đường kính
Trang 24trung bình 40cm - 50cm Phần lớn diện tích rừng trên núi đá vôi ở đây đã bị
tác động mạnh mẽ bởi các hoạt động khai thác của con người Thành phần
thực vật tương tự như ở trạng thái rừng chưa bị tác động, cũng bao gồm các
loài: Nghiến, Lát Đinh, Trai lý, Thung…nhưng những cây gỗ cao to đã bị
khai thác hết, chỉ còn lại những cây nhỏ có chiều cao 10 - 15m, đường kính
20 - 25cm và những cây con tái sinh
4.1.1.2 Trạng thái rừng trên núi đất
Trong khu vực nghiên cứu, kiểu rừng này phân bố trên các vùng đồi núi
đất ở độ cao dưới 400m Các loài thực vật chủ yếu trong kiểu thảm này là Bồ
đề trắng (Styrax tonkinensis), Sau sau (Liquidambar formosana), Cáng lò
(Betula alnoides), Xoan nhừ (Choerospodias axillaris)…, chúng thường mọc
thành những quần thể nhỏ gần như thuần loài
4.1.1.3 Trạng thái rừng trong thung lũng
Trong những vùng không bị tác động của con người, thành phần thực vật
ở đây có nhiều loài cây gỗ cao trung bình 20m, đường kính trung bình 50cm
-60cm Đó là các loài Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica), De (Cinnamomum
sp.), Chò xanh (Terminalia myriocarpa), Phay (Duabanga grandiflora),
Thung (Tetrameles nudiflora)…
4.1.1.4 Trạng thái rừng trên núi đất lẫn đá
Kiểu rừng này chỉ chiếm một diện tích nhỏ trong khu vực nghiên cứu
Thành phần loài thực vật phổ biến và hay gặp là Phay (Duabanga
grandiflora), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Sếu (Celtis sinensis), Nóng
lá to (Saurauia dillenioides), Núc nác (Oroxylum indicum), Nhọc (Polyalthia
cerasoides)…
4.1.1.5 Trạng thái rừng thứ sinh nhân tác
Ở kiểu rừng này, thảm thực vật rất đa dạng về thành phần loài cũng như
về cấu trúc hình thái Ở vùng núi đá vôi, thành phần loài thực vật của rừng thứ
sinh gồm các loài như Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Thị đốt cao
(Diospiros susarticulata.), Cà ổi (Castanopsis ferox), Đa bóng (Ficus vasculosa), Mạ sưa (Heliciopsis lobata)… Ở vùng núi đất, trong trạng thái thứ
sinh, thành phần loài thực vật phong phú hơn so với ở vùng núi đá vôi Các
loài thường gặp là Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica), Bồ đề (Styrax
tonkinensis), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Sung (Ficus racemoa), Núc
nác (Oroxylum indicum), Chò xanh (Terminalia myriocarpa)…
4.1.1.6 Trạng thái rừng tre nứa
Trong khu vực nghiên cứu rừng tre nứa có 50ha, các loài tre nứa phổ biến
là Nứa (Neohouzeauna dullooa), Sặt (Arundineria callosa), Vầu (Idosasa
crassiflora), Giang (Dendrocalamus patellaris)… Có thể gặp chúng mọc xen
với các loài cây gỗ hoặc mọc thành những quần thể nhỏ thuần loài
4.1.1.7 Trạng thái thảm cây bụi
Trảng cây bụi cũng gặp rải rác trong khu vực nghiên cứu Đó là các loài
cây ưa sáng mọc nhanh như Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Cò ke láng (Grewia
glabra), Bọt ếch lông (Glochidion eriocarpum), Mua vảy (Melastoma candidum), Lẩu (Psychotria reevesii), Hồng bì (Clausena lansium)…
4.1.1.8 Trạng thái thảm cỏ
Trảng cỏ thứ sinh thường xuất hiện trên đất sau nương rãy bỏ hoang hoá
Phổ biến và chiếm ưu thế là các loài Chè vè (Miscanthus floridulus), Cỏ chít
(Thysanolaena maxima), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Cỏ hôi (Synedrella nodiflora)…
4.1.2 Đa dạng hệ thực vật
Trong quá trình nghiên cứu ngoài thực địa, do có nhiều khó khăn như địa hình phức tạp, độ cao của núi lớn, thời gian nghiên cứu hạn chế…nên chúng
Trang 25tôi chỉ tập trung điều tra nghiên cứu tính đa dạng hệ thực vật (thành phần loài)
trong 5 trạng thái thảm thực vật, với độ cao dưới 500m so với mực nước biển
Năm trạng thái chọn nghiên cứu là: rừng trên núi đất, rừng trên núi đất lẫn đá,
rừng thứ sinh nhân tác, thảm cây bụi và thảm cỏ
4.1.2.1 Đa dạng các bậc taxon trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC
Tại KVNC qua điều tra bước đầu đã thống kê được 231 loài, thuộc 176 chi,
89 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch Kết quả nghiên cứu được trình
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
(Magnoliopsida)
72 87,8 152 90,47 204 92,3 4.2 Lớp Hành
(Liliopsida)
10 12,2 16 9,53 17 7,7
Qua bảng 4.1 và biểu đồ 4.1 cho thấy, thành phần thực vật trong các bậc
taxon ở KVNC là không đồng đều Trong 4 ngành thực vật bậc cao có mạch
thì ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có số họ, chi và loài phong phú nhất gồm
82 họ (chiếm 92,15%), 168 chi (chiếm 95,45%) và 221 loài (chiếm 95,68)
Tiếp đến là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) với 4 họ (4,49%), 5 chi
(5,84%) và 7 loài (3,03%) Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 2 họ
(2,24%), 2 chi (1,13%) và 2 loài (0,86%) Ngành Mộc tặc (Equisetophyta) có
số họ, chi và loài thấp nhất (đều có 1 họ, 1 chi và 1 loài)
Biểu đồ 4.1 Phân bố của các bậc taxon ở KVNC
Trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta), lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có
tới 72 họ (87,8%), 152 chi (90,47%) và 204 loài (92,3%), trong khi đó lớp
Hành (Liliopsida) có số họ, chi và loài thấp hơn rất nhiều: 10 họ (12,2%), 16
chi (9,53%) và 17 loài (7,7%)
4.1.2.2 Đa dạng về số họ và số chi trong các trạng thái thảm thực vật
Số họ và số chi trong các trạng thái thảm thực vật ở KVNC được trình bày ở bảng 4.2 và biểu đồ 4.2
Bảng 4.2 Số lƣợng và tỷ lệ (%) các họ, chi trong các trạng thái
thảm thực vật ở KVNC
STT Các trạng thái thảm thực vật Họ Chi
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Lycopodiophyta Equisetophyta Polypodiophyta Magnoliophyta
Taxon
Trang 26Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ các họ, chi trong các trạng thái thảm thực vật ở VNC
Qua phân tích bảng 4.2 và biểu đồ 4.2 cho thấy, số lượng các họ và chi
trong các quần xã nghiên cứu là khá phong phú Cụ thể như sau:
- Trạng thái rừng kín trên núi đất: có 70 họ (chiếm 78,65% so với tổng số
họ trong khu vực nghiên cứu), 116 chi (chiếm 65,90% so với tổng số chi
trong khu vực nghiên cứu)
- Trạng thái rừng trên núi đất lẫn đá: có 68 họ (chiếm 76,40%), 111 chi
(chiếm 63,07%)
- Trạng thái rừng thứ sinh nhân tác: có 75 họ (chiếm 84,27%), 138 chi
(chiếm 78,41%)
- Trạng thái thảm cây bụi, số lượng họ và chi đã giảm đi nhiều, có 49 họ
(chiếm 55,06%) và 83 chi (chiếm 47,16%)
- Trạng thái thảm cỏ, số lượng họ và chi thấp nhất, có 23 họ (chiếm
4.1.2.3.1 Đa dạng về số loài trong các chi
Ở KVNC, chúng tôi đã thu được 231 loài thuộc 176 chi Sự phân bố của các loài trong các chi khá chênh lệch Trong tổng số 176 chi thì có tới 141 chi chỉ có 1 loài, 35 chi còn lại có từ 2 loài trở lên được tổng hợp trong bảng 4.3
Bảng 4.3 Các chi có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái
thảm thực vật ở KVNC
Tổng
số loài
Sự có mặt của các loài trong các trạng thái thảm thực vật Rừng
trên núi đất
Rừng trên núi đất lẫn đá
Rừng thứ sinh nhân tác
Thảm cây bụi
Trang 27Qua số liệu bảng 4.3 cho thấy, 35 chi có nhiều loài nhất thuộc 27 họ, 2
ngành là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Mộc lan (Magnoliophyta) Tổng số có 90 loài (chiếm 38,96% tổng số loài ở KVNC)
Trang 28Trong 27 họ có các chi từ 2 loài trở lên, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có
nhiều chi nhất là 6 chi, 16 loài; họ Đơn nem (Myrsinaceae) và họ Gai
(Urticaceae) có 2 chi và 5 loài; còn lại 24 họ mỗi họ có 1 chi
Chi Ficus (họ Dâu tằm - Moraceae) có nhiều loài nhất là 8 loài; chi
Glochidion (họ Thầu dầu – Euphorbiaceae) và chi Garcinia (họ Cúc –
Asteraceae) mỗi chi có 4 loài; 10 chi có 3 loài (Adiantum, Saurauia,
Elaeocarpus, Breynia, Mallotus, Cratoxylum, Maesa, Pterospermum, Pilea,
Clerodendrum); 22 chi có 2 loài (Fissistigma, Bidens , Dillenia, Aporosa,
Melastoma, Streblus, Knema, Ardisia, Jasminum, Portulaca, Clematis,
Ventilago, Morinda, Styrax, Grewia, Pouzolzia , Amomum)
Trong 5 trạng thái thảm thực vật ở KVNC, số lượng loài trong các chi
giàu nhất (từ 2 loài trở lên) như sau:
- Trạng thái rừng trên núi đất: có 58 loài, 30 chi, 22 họ Trong tổng số 30
chi, có 7 chi có 3 loài, 16 chi có 2 loài và 7 chi chỉ có 1 loài
- Trạng thái rừng trên núi đất lẫn đá: có 59 loài, 29 chi, 23 họ Trong số
29 chi, có 1 chi có 5 loài (Ficus), 7 chi có 3 loài, 14 chi có 2 loài và có 7 chi
có 1 loài
- Trạng thái rừng thứ sinh nhân tác: có 64 loài, 30 chi, 23 họ Trong tổng
số 30 chi, có 1 chi có 7 loài (Ficus), 6 chi có 3 loài, 15 chi có 2 loài và có 7
chi có 1 loài
- Trạng thái thảm cây bụi: có 48 loài, 26 chi, 21 họ Trong tổng số 26
chi, 6 chi có 3 loài, 10 chi có 2 loài và 10 chi có 1 loài
- Trạng thái thảm cỏ: số lượng loài thấp nhất chỉ có 9 loài, 7 chi, 7 họ
Trong tổng số 7 chi, có 2 chi có 2 loài và 5 chi có 1 loài
- Chi Bidens (họ Cúc – Asteraceae), Cratoxylum (họ Ban –
Hypericaceae), Styrax (họ Bồ đề - Styracaceae) chỉ xuất hiện ở hai trong số
các trạng thái là rừng thứ sinh nhân tác, thảm cây bụi và thảm cỏ (đây là các
loài cây ưa sáng) Chi Dillenia (họ Sổ - Dilleniaceae) và chi Amomum (họ Gừng – Zingiberaceae) chỉ xuất hiện ở trạng thái rừng trên núi đất và rừng
trên núi đất lẫn đá (các loài cây ưa bóng)
Tóm lại: trạng thái rừng thứ sinh nhân tác là kiểu thảm có số lượng loài, chi, họ phong phú nhất, vì ở đây nó đang hội tụ các loài của các kiểu thảm, các nhóm sinh thái để đi tới trạng thái ổn định tương đối
4.1.2.3.2 Đa dạng về số loài trong các họ
Ở KVNC, chúng tôi thu được 89 họ, trong đó có tới 42 họ đơn loài (chỉ
có 1 loài), 47 họ có từ 2 loài trở lên được thống kê ở bảng 4.4
Qua số liệu bảng 4.4 cho thấy, tổng số loài trong các họ (có từ 2 loài trở lên) là 189 loài (chiếm 81,81% tổng số loài trong KVNC) Sự phân bố của các loài trong mỗi họ khá chệnh lệch nhau Họ có nhiều loài nhất là họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) với 21 loài; tiếp đến là họ Dâu tằm (Moraceae) có 13 loài;
họ Gai (Urticaceae) có 10 loài; họ Cúc (Asteraceae) và họ Trôm (Sterculiaceae) mỗi họ có 8 loài; họ Đơn nem (Myrsinaceae) có 6 loài; 4 họ
có 5 loài là họ Na (Annonaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Hoà thảo (Poaceae); 6 họ có 4 loài là họ Chùm ớt (Bignoniaceae), họ Măng cụt (Clusiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Mùng quân (Flacourtiaceae), họ Đay (Tiliaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae);
17 họ có 3 loài và 14 họ có 2 loài
Ở 5 trạng thái thảm thực vật tại KVNC, sự phân bố của các loài trong các họ giàu nhất cũng không đồng đều cụ thể là:
- Trạng thái rừng trên núi đất: có 118 loài thuộc 42 họ Có 6 họ có số loài từ 4
trở lên đó là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 15 loài; họ Gai (Urticaceae): 7 loài; họ
Na (Annonaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae): 5 loài; họ Long não (Lauraceae) và
họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae): 4 loài; 36 họ còn lại số loài dao động từ 1 đến 3 loài
Trang 29Bảng 4.4 Các họ có từ 2 loài trở lên trong các trạng thái
thảm thực vật ở KVNC
Tổng
số loài
Sự có mặt của các loài trong các trạng thái thảm thực vật
R
trên núi đất
R
trên núi đất lẫn
đá
R
thứ sinh nhân tác
Thảm cây bụi
- Trạng thái rừng trên núi đất lẫn đá: có 117 loài thuộc 42 họ Có 6 họ có
từ 4 loài trở lên là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 12 loài; họ Gai
Trang 30(Urticaceae): 10 loài; họ Dâu tằm (Moraceae): 8 loài; họ Trôm
(Sterculiaceae): 7 loài; họ Na (Annonaceae): 5 loài; họ Cỏ roi ngựa
(Verbenaceae): 4 loài 36 họ còn lại cũng có số loài dao động từ 1 đến 3 loài
- Trạng thái rừng thứ sinh nhân tác: số lượng loài lớn nhất là 138 loài
thuộc 44 họ Có tới 11 họ có từ 4 loài trở lên đó là: họ Dâu tằm (Moraceae):
11 loài; họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 10 loài; họ Gai (Urticaceae): 9 loài;
họ Trôm (Sterculiaceae): 7 loài; họ Đơn nem (Myrsinaceae): 6 loài; họ Na
(Annonaceae), họ Hoà thảo (Poaceae) có 5 loài; họ Cúc (Asteraceae), họ Cà
phê (Rubiaceae), họ Đay (Tiliaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có 4
loài Có 33 họ có số loài từ 1 đến 3
- Trạng thái thảm cây bụi: có 90 loài thuộc 34 họ, trong đó có 8 họ có số
loài từ 4 trở lên đó là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 12 loài; họ Cúc
(Asteraceae): 6 loài; họ Đơn nem (Myrsinaceae) và họ Hoà thảo (Poaceae) có
5 loài; họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Gai (Urticaceae),
họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có 4 loài 26 họ còn lại có từ 1 – 3 loài
- Trạng thái thảm cỏ: có số lượng loài ít nhất là 31 loài, thuộc 15 họ Họ
Cúc (Asteraceae) có số loài nhiều nhất là 8 loài, 3 họ có 3 loài là họ Rau dền
(Amaranthaceae), họ Gai (Urticaceae) và họ Hoà thảo (Poaceae), 3 họ có 2
loài và 8 họ chỉ có 1 loài
Như vậy, hầu hết các họ đa dạng trên là những họ giàu loài, có phổ biến
trong hệ thực vật nước ta Đặc biệt các họ Euphorbiaceae, Moraceae,
Urticaceae, Poaceae, Rubiaceae… là những họ có nhiều loài thân thảo hoặc
cây bụi ưa sáng, mọc nhanh, đều có số lượng loài lớn nhất, do các họ này sinh
trưởng và phát triển thích hợp trong môi trường có độ chiếu sáng lớn
* Nhận xét:
Qua quá trình điều tra và thu thập số liệu, chúng tôi đã xác định được ở
đây có 8 trạng thái thảm thực vật đó là: rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đất,
rừng trong thung lũng, rừng trên núi đất lẫn đá, rừng thứ sinh nhân tác, rừng tre nứa, thảm cây bụi, thảm cỏ
Hệ thực vật, bước đầu đã thống kê được 231 loài, 176 chi, 89 họ, thuộc 4
ngành thực vật bậc cao có mạch: Thông đất (Lycopodiophyta), Mộc tặc (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Mộc lan (Magnoliophyta)
Trong 4 ngành này, ngành Mộc lan có số lượng các bậc taxon ở các bậc phân loại cao nhất
Số lượng các họ và chi trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu là phá phong phú và không đồng đều, cao nhất ở trạng thái rừng thứ sinh nhân tác (có 75 họ, 138 chi), thấp nhất là thảm cỏ
Trong tổng số 176 chi thu được ở KVNC, có 35 chi có số lượng loài từ 2 trở lên, gồm 90 loài (chiếm 38,96% tổng số loài ở KVNC) Trạng thái thảm thực vật có nhiều chi từ 2 loài trở lên nhất là trạng thái rừng thứ sinh nhân tác
Số lượng họ có nhiều loài nhất (từ 2 loài trở lên) đã thống kê được 47 họ, 189 loài (chiếm 81,81% tổng số loài trong KVNC) Trong 5 trạng thái thảm thực vật nghiên cứu, thì trạng thái rừng thứ sinh nhân tác có nhiều họ có nhiều loài nhất (44 họ, 138 loài) Nguyên nhân chi phối có lẽ cũng giống như đa dạng về loài trong chi
Tóm lại: xã Thần Sa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm cao (khoảng 2.000 đến 2.500 mm), địa hình phức tạp đã tạo nên nhiều kiểu thảm thực vật, đặc trưng là kiểu thảm thực vật trong thung lũng và kiểu rừng trên núi đất lẫn đá Bên cạnh đó, từ khi khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập (năm 1999) thì hệ thực vật ở
xã Thần Sa được bảo vệ nghiêm ngặt, tình trạng chặt phá rừng lấy gỗ, đất làm nương rẫy đã giảm đi nhiều…Điều đó là cơ sở rất quan trọng để các loài thực vật có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt