Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được tính đa dạng thực vật và các kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và nâng cao đa dạng t
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Lê Đồng Tấn
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Lê Đồng
Tấn – người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm
quý báu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này Tôi cũng xin chân thành
cảm ơn tới TS Ma Thị Ngọc Mai, đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong quá trình
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện luận văn, do còn hạn chế về thời gian, kinh phí, cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học, và bạn bè
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Nguyễn Bích Hạnh
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Bích Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng biểu ix
Danh mục các hình vẽ x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
4 Đóng góp mới của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Thảm thực vật và rừng 4
1.1.2 Đa dạng sinh học 4
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 6
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 6
1.3 Những nghiên cứu về hệ thực vật 9
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 9
1.3.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam 11
Trang 61.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và yếu tố
địa lý cấu thành hệ thực vật 11
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 11
1.4.2 Những nghiên cứu về phổ dạng sống 13
1.4.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 15
1.5 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng 17 1.5.1 Tổng quan về Sách đỏ thế giới và Sách đỏ Việt Nam 17
1.5.2 Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 20
2.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.4 Nội dung nghiên cứu 20
2.4.1 Nghiên cứu tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật 20
2.4.2 Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần thực vật 20
2.4.3 Nghiên cứu các yếu tố cấu thành của hệ thực vật 20
2.4.4 Nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống 20
2.4.5 Nghiên cứu tính đa dạng về giá trị tài nguyên 20
2.4.6 Đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen thực vật 20
2.5 Phương pháp nghiên cứu 20
2.5.1 Phương pháp tiếp cận 20
2.5.2 Phương pháp điều tra 21
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.5.4 Phương pháp phân tích số liệu 23
2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
Trang 73.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích 25
3.1.2 Địa chất, địa hình 26
3.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn 26
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 28
3.2.1 Dân tộc, dân số 28
3.2.2 Các hoạt động kinh tế chủ yếu 29
3.2.3 Y tế - Sức khoẻ 32
3.2.4 Hệ thống giao thông 32
3.2.5 Hệ thống giáo dục 32
3.2.6 Cơ sở hạ tầng 32
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Đa dạng thảm thực vật 34
4.2 Đa dạng về thành phần thực vật 42
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành 43
4.2.3 Đa dạng ở mức độ chi 47
4.3 Đa dạng về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 48
4.3.1 Yếu tố địa lý ở mức độ họ 48
4.3.2 Yếu tố địa lý ở mức độ chi 49
4.3.3 Yếu tố địa lý ở mức độ loài 51
4.4 Đa dạng về dạng sống 52
4.5 Tính đa dạng về giá trị tài nguyên 55
4.5.1 Đa dạng về giá trị sử dụng 55
4.5.2 Loài có nguy cơ bị tiêu diệt 57
4.6 Đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen thực vật 61
4.6.1 Tăng cường thể chế về bảo vệ ĐDSH tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 63
Trang 84.6.2 Nâng cao năng lực về quản lý đối với Khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc 63
4.6.3 Nâng cao nhận thức về bảo vệ đa dạng sinh học Khu bảo tồn 64
4.6.4 Chính sách kinh tế 64
4.6.5 Mở rộng quan hệ với các cơ quan nghiên cứu, tổ chức quốc tế 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 67
I KẾT LUẬN 67
II KIẾN NGHỊ 69
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BTTN Bảo tồn thiên nhiên
9 TĐT Tuyến điều tra
10 UBND Ủy ban Nhân dân
12 WWF Qũy Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
13 UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 10BẢNG CHÚ GIẢI KÍ HIỆU DẠNG SỐNG
1 Phanerophytes Ph Cây có chồi trên đất
1-1 Megaphanerophytes Mg Cây chồi trên >30m
1-2 Mesophanerophytes Me Cây chồi trên 8-30m
1-3 Microphanerophytes Mi Cây chồi trên 2-8m
1-4 Nanophanerophytes Na Cây chồi trên <2m
1-5 Lianes phanerophytes Lp Cây có chồi trên đất, leo quấn 1-6 Epiphytes phanerophytes Ep Cây có chồi trên đất sống phụ
sinh 1-7.Herb phanerophytes Hp Cây có chồi trên thân thảo
2 Chamaetophytes Ch Cây có chồi mặt đất
Trang 11BẢNG CHÚ GIẢI KÍ HIỆU CÔNG DỤNG
Trang 12BẢNG CHÚ GIẢI KÍ HIỆU ĐE DOẠ CỦA CÁC LOÀI
Theo Danh lục Đỏ IUCN (2000), Sách Đỏ Việt Nam (2007)
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 10
Bảng 2.1: Địa điểm và tọa độ các điểm nghiên cứu 22
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc (tháng 05/2009) 27
Bảng 3.2: Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi (tháng 05/2009) 28
Bảng 4.1 Phân bố của các taxon trong các ngành của HTV Nam Xuân Lạc 43
Bảng 4.2 Bảng so sánh số loài trên cùng một đơn vị diện tích giữa HTV Nam Xuân Lạc với HTV VQG Ba Bể và VQG Cúc Phương 44
Bảng 4.3 Sự phân bố của các taxon trong ngành Mộc lan 45
Bảng 4.4 Bảng thống kê 10 họ đa dạng nhất trong HTV Nam Xuân Lạc 46
Bảng 4.5 Thống kê các chi đa dạng nhất trong HTV Nam Xuân Lạc 47
Bảng 4.6 Bảng các yếu tố địa lý các họ của HTV Nam Xuân Lạc 49
Bảng 4.7 Bảng các yếu tố địa lý các chi của HTV Nam Xuân Lạc và Việt Nam 50
Bảng 4.8 Bảng các yếu tố địa lý các loài của HTV Nam Xuân Lạc 51
Bảng 4.9 Dạng sống của các loài trong HTV Nam Xuân Lạc 53
Bảng 4.10 Thống kê các dạng sống của các loài thuộc nhóm cây chồi trên 54
Bảng 4.11 Thống kê các giá trị sử dụng của HTV Nam Xuân Lạc 56
Bảng 4.12 Các loài quí hiếm trong Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn 58
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 4.1 Biểu đồ phân bố của các taxon trong ngành của HTV Nam
Xuân Lạc 43
Hình 4.2 Biểu đồ phân bố các lớp trong ngành Mộc lan 45
Hình: 4.3 Biểu đồ phổ các yếu tố địa lý của các loài trong khu HTV Nam Xuân Lạc 52
Hình 4.4: Biểu đồ phổ dạng sống cơ bản của HTV Nam Xuân Lạc 53
Hình 4.5 Biểu đồ phổ dạng sống của nhóm cây chồi trên (Ph) 54
Hình 4.6 Biểu đồ các nhóm công dụng chính của HTV Nam Xuân Lạc 56
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng
vô cùng phong phú và đa dạng Rừng không những là cơ sở phát triển kinh
tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế
lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước
Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới - nơi tập trung nhiều loài động - thực vật quý hiếm và đặc hữu Theo thống kê, hiện nước ta có khoảng 2,2 triệu hecta, trong đó 2/3 diện tích rừng tự nhiên được coi là rừng nghèo và tái sinh, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng liên tục bị thu hẹp, số lượng cá thể của các loài hoang dã đang bị suy giảm mạnh, nguồn gen hoang dã và nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Mất rừng là nguyên nhân gây ra thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh và đói nghèo
Đứng trước những hiểm họa do việc mất rừng gây ra, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thay đổi, bổ sung nhiều chính sách nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này Việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái chính là giúp con người giảm nhẹ được những tác động của thiên tai và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 với tổng diện
Trang 16tích tự nhiên là 1.788 ha, nằm trên địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang
thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Nhiệm vụ của Khu bảo
tồn là: bảo tồn sinh cảnh sống cho hai loài linh trưởng là Voọc đen má trắng
và Voọc mũi hếch, đồng thời bảo vệ các loài động - thực vật quý hiếm khác,
đặc biệt là Lan hài và Thông; là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia
(VQG) Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Na Hang Ngoài ra, Khu
bảo tồn còn có giá trị bảo vệ thượng nguồn của một số con suối lớn, cung cấp
nước sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp và cuộc sống hàng ngày cho người dân
ở khu vực hạ lưu
Trong những năm qua, mặc dù đã được bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng các
hoạt động khai thác gỗ củi và lâm sản trái phép vẫn diễn ra Điều đó đã có ảnh
hưởng xấu đến tính đa dạng sinh học, nhất là đối với các loài quý hiếm và các
loài có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi trong
Khu bảo tồn
Hiện nay, Chi Cục kiểm lâm huyện Chợ Đồn và tỉnh Bắc Kạn đang tích
cực triển khai thực hiện dự án đầu tư nhằm mở rộng phạm vi Khu bảo tồn để
kiểm soát, quản lý nguồn đa dạng sinh học nơi đây Tuy nhiên, do mới được
thành lập nên những nghiên cứu về đa dạng sinh học còn hạn chế Nhằm cung
cấp những dẫn liệu về đa dạng thực vật, làm cơ sở cho việc bảo tồn và sử
dụng hợp lý tài nguyên sinh vật tại Khu bảo tồn, chúng tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam
Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật ở khu vực
nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn đa dạng thực vật ở khu vực
nghiên cứu
Trang 173 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Góp phần bổ sung thêm một số giải pháp trong bảo tồn, nâng cao tính
đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được tính đa dạng thực vật và các kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và nâng cao đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu
4 Đóng góp mới của luận văn
- Buớc đầu đã xác định được thành phần loài, dạng sống và yếu tố địa
lý của thảm thực vật tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2006) và Nghị định 32/2006/NĐ – CP
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
có tính ngữ kèm theo như “thảm thực vật Mê Linh” hay “thảm thực vật Tam Đảo”, “thảm thực vật cây bụi”,…v.v Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cây cỏ, nhưng đối tượng nghiên cứu chủ yếu của thảm thực vật
là tập thể cây cối được hình thành do một số lượng những cá thể của loài thực vật tập hợp lại [23]
- Rừng là một kiểu thảm thực vật mang các đặc trưng riêng, chẳng hạn như trong rừng cây gỗ (hay tre nứa) là yếu tố chủ đạo, trong đó cây gỗ phải có chiều cao 5m trở lên so với mặt đất và độ tàn che (k) của chúng đạt từ 0,3, đối với tre nứa độ tàn che > 0,5 Nếu k < 0,3 thì chưa thành rừng, k = 0,3 - 0,6 là rừng thưa, k > 0,6 là rừng kín [23]
1.1.2 Đa dạng sinh học
Theo Công ước về Bảo tồn đa dạng sinh học đã thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro năm 1992, "Ða dạng sinh học"
Trang 19(ĐDSH) có nghĩa là tính (đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thuỷ vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học [5]
Theo Quỹ Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (WWF, 1996) [18], khái niệm ĐDSH như sau: ĐDSH là sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi trường Như vậy, ĐDSH được xem xét ở cả 3 mức độ: ĐDSH ở cấp độ loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động
- thực vật và các loài nấm Ở mức độ cao hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt
về gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả
sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, giữa các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các môi trường sống tương tác giữa chúng với nhau
Năm 1993, Viện Tài nguyên gen và Thực vật Quốc tế ( IPJRI ) [34], ĐDSH được hiểu là sự biến dạng của các cơ thể sống và các phức hệ sinh thái
mà chúng sống Định nghĩa này tuy ngắn gọn, song chưa chính xác và gây cho người đọc khó hiểu
Tiếp đó, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [28] đã định nghĩa “ĐDSH là toàn
bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất, gồm các sinh vật phân cắt đến động - thực vật ở trên cạn cũng như dưới nước, từ mức độ phân tử AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người Khoa học nghiên cứu về tính
đa dạng đó gọi là ĐDSH” Ở đây, ĐDSH được hiểu theo 3 khía cạnh: đa dạng ở mức độ di truyền, đa dạng mức độ loài, đa dạng ở mức độ sinh thái
Thuật ngữ đa dạng sinh học (Biodiversity) dùng để mô tả sự phong phú
Trang 20và đa dạng của giới tự nhiên ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong hệ sinh thái đất liền, dưới biển, các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái); bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các quần thể hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Dop P và Gaussen H (1931), với công trình nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương với lượng mưa hàng năm (dẫn theo Thái Văn Trừng [35])
H.G Champion (1936), khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ là: nhiệt đới, á nhiệt, ôn đới và núi cao [38]
J Beard (1938), đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần
hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng, rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần
hệ rừng xanh từng mùa, loạt quần hệ khô thường xanh, loạt quần hệ miền núi, loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy [30])
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và Trung Đông Dương Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [41]
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với khu hệ thực vật khá đa dạng, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thảm
thực vật ở nước ta
Trang 21Chevalier (1918) là người đầu tiên đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc Bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo kiểu phân loại này rừng ở miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [37]
Bảng phân loại đầu tiên về thảm thực vật rừng Việt Nam do Viện Điều tra và Quy hoạch Rừng (1960) đưa ra [3] Theo đó, rừng Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
- Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
- Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
- Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
- Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lí
Phan Nguyên Hồng (1970), phân chia thảm thực vật ven bờ biển miền Bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gốc ven biển và thực vật bãi cát trống [13]
Trần Ngũ Phương (1970) đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam và chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [25]
Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn: quần lạc thân gỗ kín tán, quần lạc thân gỗ thưa, quần lạc thân cỏ kín rậm, quần lạc thân cỏ thưa
Trang 22Nguyễn Hải Tuất (1991) nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần [33]
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [19] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành
5 kiểu thảm với 14 kiểu quần hệ [35]
Nguyễn Thế Hưng (2003), khi nghiên cứu thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cũng dựa trên nguyên tắc phân loại theo UNESCO (1973) đã xây dựng được 4 trạng thái thảm cây bụi khác nhau: thảm cây bụi cao sau khai thác, thảm cây bụi cao sau nương rẫy, thảm cây bụi thấp sau khai thác và thảm cây bụi thấp sau nương rẫy Ngoài ra còn một số kiểu thảm khác như: rừng phục hồi sau khai thác, rừng thứ sinh, rừng non phục hồi sau nương rẫy [16]
Trang 23Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm, rừng thưa, thảm cây bụi và trảng cỏ [8]
Ngô Tiến Dũng (2004) [11] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
Ma Thị Ngọc Mai (2007), nghiên cứu quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụ cận
đã kết luận: từ độ cao 700m trở xuống, thảm thực vật bị suy thoái nghiêm trọng Rừng nguyên sinh đã bị phá hủy hoàn toàn, thay thế vào đó là thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên Theo khung phân loại UNESCO (1973), thảm thực vật tại trạm Đa Dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc và vùng phụ cận có 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cỏ Thảm thực vật tại đây đang trong quá trình diễn thế đi lên, quá trình diễn thế qua 4 giai đoạn: thảm cỏ → thảm cây bụi → rừng thứ sinh → rừng thành thục [24]
1.3 Những nghiên cứu về hệ thực vật
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Hiện nay, số lượng những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới là rất lớn, do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ nên các tác giả mới đưa ra những con số dự đoán và số lượng các loài thực vật được dự đoán của các tác giả cũng có những biến động
Năm 1962, G.N.Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân bố ở các Châu lục như sau:
- Châu Á có khoảng 125.000 loài, trong đó: Đông Nam Á (80.000 loài); các khu vực nhiệt đới Ấn Độ (26.000 loài); Tiểu Á (8.000 loài); Viễn Đông
Trang 24thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc (6.000 loài); Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á (5.000 loài)
- Châu Âu có khoảng 15.000 loài, trong đó: Trung và Bắc Âu (5.000 loài); Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ (10.000 loài)
- Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, trong đó: Hoa Kỳ và Canada (25.000 loài), Mêhicô và Trung Mỹ (17.000 loài), Nam Mỹ (56.000 loài), Đất lửa và Nam Cực (1.000 loài)
- Châu Phi có khoảng 40.500 loài, trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm (15.500 loài); Madagasca (7000 loài); Nam Phi (6.500 loài); Bắc Phi, Angieri, Marốc và các vùng phụ cận khác (4.500 loài); Abitxini (4.000 loài); Tuynidi
và Aicập (2.000 loài); Xomali và Eritrea (1.000 loài)
- Châu Úc có khoảng 21.000 loài, trong đó: Đông Bắc Úc (6.000 loài); Tây Nam Úc (5.500 loài); Lục địa Úc (5.000 loài); Taxman và Tây Tây Lan (4.500 loài) (dẫn theo Lê Trọng Cúc [10])
Lecointre và Guyader (2001) [12] đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật đƣợc mô tả trên toàn thế giới
Trang 251.3.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Ở nước ta, hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật Công trình đầu tiên cần nói tới là bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã kiểm kê được ở Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch Đây là công trình rất có ý nghĩa và là nguồn tư liệu quý trong nghiên cứu hệ thực vật Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật học dự đoán con số đó có thể lên tới 12.000 loài [40]
Căn cứ vào bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương cùng nhiều công trình xuất bản từ năm 1942 đến 1969, Phan Kế Lộc trong công trình: “Bước đầu thống kê số loài đã biết ở miền Bắc Việt Nam” cho thấy, hệ thực vật Bắc Việt Nam (giới hạn tận cùng về phía Nam là 170 vĩ Bắc) có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ [21]
Nguyễn Tiến Bân (1997) đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành Hạt kín nước ta [2]
1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và yếu
tố địa lý cấu thành hệ thực vật
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những công trình nghiên cứu của Alokhin (1904), Vưsotxki (1915), Craxit (1927) (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy [30]) chỉ ra rằng, mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là một chỉ tiêu quan trọng trong phân loại thảm thực vật
Phan Kế Lộc (1970) [21] đã xác định hệ thực vật miền Bắc nước ta có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ
Trang 26Hoàng Chung (1980) [7] đã công bố thành phần loài trong đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam có 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) [1], khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương
Phạm Hoàng Hộ (1991- 1993) [15] trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống
kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài, gần đạt 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) [9] nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [17], khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), [28] thống kê thành phần loài trong VQG Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích
ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Trong các loài trên
có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn như: Hoàng thảo Tam Đảo, Trà hoa đài, Trà hoa vàng Tam Đảo, Hoa tiên, Trọng lâu kim tiền
Lê Đồng Tấn (2000) [27], khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hóa đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài, tuổi 10 có 56 loài và tuổi 14 có 53 loài
Nguyễn Thế Hưng (2003) [16] đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ - Cẩm Phả - Quảng Ninh có 324 loài
Trang 27thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch: ngành Hạt trần
(Gymnospermae), ngành Thực vật khuyết (Pteridophyta), và ngành Hạt kín (Angiospermae) Đồng thời, khi so sánh với trạng thái rừng đã khẳng định:
thảm cây bụi có thành phần chủ yếu bao gồm các loài trong họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae), họ Hoà thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Na (Annonaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Cà phê (Rubiaceae)
Lê Ngọc Công (2004) [8] nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch gồm 160 họ, 468 chi, 654 loài; chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim,
Theo Raunkiaer (1934) [42], dấu hiệu chủ yếu để phân chia thành phần dạng sống là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm Ông đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
+ Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
+ Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
+ Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
+ Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
+ Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):
SB= 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Trang 28Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng do vậy đã có nhiều nhà khoa học khi xác định thành phần dạng sống đã áp dụng khung phân loại này để nghiên cứu
Hoàng Chung (1980) [7] thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ savan, thảo nguyên
Lê Trần Chấn (1990) [4], khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn (Hòa Bình) đã phân chia thảm thực vật thành 5 nhóm dạng sống theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên, tác giả dùng thêm một số kí hiệu để chi tiết hóa một số dạng sống (a: kí sinh, b: bì sinh, c: dây leo, d: cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống kí sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản
mà coi đây là những dạng phụ
Phan Nguyên Hồng (1991) [14], khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật
ở rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
kí sinh (K), bì sinh (B)
Nguyễn Thế Hưng (2003) [16] nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật, nhóm cây chồi sát đất có khoảng 26 loài chiếm 8,02%, nhóm cây chồi nửa ẩn
có 43 loài chiếm 13,27%, nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%, nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80%
Lê Ngọc Công (2004) [8] nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật tại Thái Nguyên đã phân chia thảm thực vật thành các nhóm dạng sống: cây gỗ, cây bụi, cây cỏ và dây leo
Vũ Thị Liên (2005) [20] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer như sau:
SB= 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Trang 29Nhìn chung, phân tích phổ dạng sống là một trong những nội dung quan trọng của các nhiệm vụ nghiên cứu bất kì hệ thực vật nào Cho đến nay
đã có rất nhiều cách phân loại dạng sống khác nhau, nhưng để xây dựng phổ dạng sống của một hệ thực vật, người ta thường sử dụng cách phân loại của Raunkiaer (1934)
Trong luận văn này, chúng tôi cũng dựa theo khung phân chia dạng sống của Raunkiaer để phân chia dạng sống hệ thực vật vùng nghiên cứu
1.4.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý, trước tiên phải kể đến các công trình của Gagnepain: “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” bao gồm các yếu tố:
Yếu tố Trung Quốc 33,8%
Yếu tố Xích Kim – Himalaya 18,5%
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0%
Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%
Theo Pócs Tamás (1965) khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam đã phân tích về phương diện địa lý thực vật của miền Bắc Việt Nam, đã phân biệt các yếu tố như sau:
+ Nhân tố đặc hữu 39,90%
Đặc hữu Việt Nam 32,55%
Đặc hữu Đông Dương 7,35%
+ Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27%
Từ Trung Quốc 12,89%
Từ Ấn Độ và Himalaya 9,33%
Từ Malaysia – Indonesia 25,69%
Từ các vùng nhiệt đới khác 7,36%
Trang 30Năm 1978, Thái Văn Trừng [32] căn cứ vào bảng thống kê các loài của
hệ thực vật Bắc Việt Nam và cho rằng, ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Nhưng khi thảo luận, tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50% (tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs Tamás), còn yếu tố di cư chỉ chiếm tỷ lệ 39,0% (trong đó từ Malaysia – Indonesia là 15%, từ Hymalaya – Vân Nam – Qúi Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%
Năm 1999, Nguyễn Nghĩa Thìn căn cứ vào các khung phân loại của Pócs (1965) và Ngô Chính Dật (1993) [43] [29] đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng vào cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:
1 Yếu tố toàn cầu
2 Yếu tố Liên nhiệt đới
Trang 314-1 Yếu tố Đông Dương – Malêzi
4-2 Yếu tố Đông Dương - Ấn Độ
4-3 Yếu tố Đông Dương - Himalaya
4-4 Yếu tố Đông Dương - Nam Trung Hoa
4-5 Yếu tố Đông Dương
5 Yếu tố ôn đới
5-1 Yếu tố Đông Á – Nam Mỹ
5-2 Yếu tố ôn đới Cổ thế giới
5-3 Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải
5-4 Yếu tố Đông Nam Á
6 Yếu tố đặc hữu Việt Nam
6-1 Cận đặc hữu
6-2 Yếu tố đặc hữu miền Bắc - Trung
7 Yếu tố cây trồng
Từ khung phân loại các yếu tố địa lý đó, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng
sự đã lần lượt xác định các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật một số VQG
và khu BTTN của nước ta Tài liệu mới nhất về các yếu tố địa lý thực vật của
hệ thực vật được tác giả công bố về VQG Bạch Mã (2003), VQG Pù Mát (2004), khu BTTN Na Hang (2006)
1.5 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
1.5.1 Tổng quan về Sách đỏ thế giới và Sách đỏ Việt Nam
Xã hội phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng, tài nguyên động - thực vật… phục vụ cho cuộc sống ngày càng nhiều, nhiều diện tích rừng bị mất đi, nhiều loài động - thực vật bị diệt chủng hoặc có nguy cơ bị diệt chủng, nguồn tài nguyên sinh học bị suy giảm Để nâng cao nhận thức về tính cấp thiết cho việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh học trong cộng đồng, vừa bảo vệ và phát triển nguồn gen quý hiếm
Trang 32song song với việc khai thác hợp lý phục vụ cho cuộc sống, năm 1964, Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản những Bộ sách đỏ, trong đó chỉ ra các loài động - thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm
1994, IUCN đề xuất các thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng các loài động - thực vật bị đe doạ trên thế giới [39]
Sách đỏ Việt Nam [26] được coi là tài liệu có tính chất quốc gia và mang ý nghĩa quốc tế, công bố các loài động vật, thực vật thuộc loại quí hiếm
ở mỗi nước và trên toàn thế giới đang bị đe dọa giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề xuất, quyết định các biện pháp bảo vệ, phục hồi đối với từng đối tượng thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ để
xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước
1.5.2 Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy
cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam
Ở nước ta, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ
bị tuyệt chủng còn rất ít Năm 1992, 1996 tập thể tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia - nay thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xuất bản tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật), cuốn sách này đã cung cấp những căn cứ để nhận biết các loài thực vật
có nguy cơ tuyệt chủng Đây là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Năm 2007, cuốn sách này được sửa đổi, bổ sung Trong sách này công bố, ở nước ta có 847 loài, thuộc 201 họ quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ [26]
Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lí thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [6] ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006 đã chia động - thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:
Trang 33+ Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường, hoặc có giá trị kinh tế cao, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc
có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng thuộc nhóm I được phân chia thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là ngành Thông (7 loài) và ngành Mộc lan (8 loài); nhóm IB gồm các động vật rừng
+ Nhóm II: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm các loài động - thực vật rừng có giá trị khoa học, môi trường, hoặc có giá trị kinh tế cao, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng thuộc nhóm II cũng được phân chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là ngành Thông (10 loài) và ngành Mộc lan (27 loài); nhóm IIB gồm các động vật rừng
Một trong các công trình nghiên cứu về các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng là công trình của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ (2009) Khi nghiên cứu về hiện trạng hệ thực vật ở Khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng (Võ Nhai - Thái Nguyên) đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng gồm 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy [30])
Tóm lại: Trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu về đa dạng thực vật Tuy nhiên, tính đa dạng của thực vật có sự khác nhau trên từng tiểu vùng sinh thái, từng nơi nên cần phải có những nghiên cứu cơ bản gắn liền với mô hình rừng ở từng khu vực để có những cơ
sở khoa học chắc chắn cho các giải pháp kỹ thuật lâm sinh
Do đó, đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn loài
và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” là nghiên cứu mới và không trùng với các công trình trước đây đã nghiên cứu
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thực vật và thảm thực vật tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Các hệ sinh thái rừng tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ năm 2009-2011
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật
2.4.2 Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần thực vật
- Tính đa dạng ở mức độ ngành
- Tính đa dạng ở mức độ họ
- Tính đa dạng ở mức độ chi
2.4.3 Nghiên cứu các yếu tố cấu thành của hệ thực vật
2.4.4 Nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống
2.4.5 Nghiên cứu tính đa dạng về giá trị tài nguyên
2.4.6 Đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen thực vật
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp tiếp cận
Tìm hiểu, sưu tầm các thông tin, tài liệu có liên quan đến thảm thực vật, hệ thực vật đã có trong Khu bảo tồn thông qua các cá nhân và tổ chức
Trang 35(Chi cục kiểm lâm, Ban quản lý Khu bảo tồn, các cán bộ đã tham gia xây dựng Khu bảo tồn, người dân nhất là các cán bộ lâm nghiệp chuyên trách tại các địa phương thuộc Khu bảo tồn…) Thực hiện điều tra thực địa để thu thập số liệu thực tế Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, đánh giá hiện trạng thảm thực vật và tính đa dạng về thành phần thực vật tại Khu bảo tồn
2.5.2 Phương pháp điều tra
• Tuyến điều tra
Tuyến điều tra (TĐT) được thiết lập dựa trên các thông tin về thảm thực vật trong Khu bảo tồn (bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ qui hoạch các phân khu chức năng), các thông tin từ Ban quản lý, cán bộ chuyên môn của Khu bảo tồn, người dân địa phương Các TĐT đi qua tất cả các trạng thái rừng, các dạng địa hình, đai độ cao, các trạng thái rừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người Các TĐT đã đi qua các địa điểm sau: trên núi đá gồm: Nặm Thúng, Lũng Cháy, Lũng Luồng, Lũng Phàng, Lũng Lì, Khuổi Kẹn, Đầu Cáp, Lũng Trang, vùng giáp ranh Bản Khang và Lũng Lỳ; trên núi đất gồm đỉnh Tam Sao và các vùng thuộc Lòng Đăm, Khe Hai, Nặm Phiêng
TĐT có hướng vuông góc với đường đồng mức Chiều rộng quan sát của TĐT là 3m Khoảng cách giữa các tuyến là 50-100m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo TĐT bố trí các OTC và các ô dạng bản (ODB)
để thu thập số liệu
• Ô tiêu chuẩn (OTC)
Chúng tôi áp dụng OTC có diện tích 2500m2 (50m x 50m) cho các trạng thái rừng và thảm cây bụi Trong OTC lập các ODB có diện tích 4m2
và 25m2 (5mx5m) thu thập số liệu về thành phần của thực vật ODB được bố trí
ở 4 góc và hai đường chéo của ô tiêu chuẩn Đã điều tra 26 ô tạm thời
Địa điểm các OTC như sau: bảng 2.1
Trang 36Bảng 2.1: Địa điểm và tọa độ các điểm nghiên cứu
019’062 và 105531’086 NT02 22019’011 và 105030’841
LP02 Không lấy được GPS
Lũng Lì
LL01 Không lấy được GPS LL02 22018’037 và 105031’105 LL03 Không lấy được GPS LL04 22019’445 và 105031’340 LL05 Không lấy được GPS LL06 Không lấy được GPS LL07 22017’895 và 105030’969 LL08 Không lấy được GPS LL09 22018’082 và 105030’872 LL10 Không lấy được GPS
Tam Sao
TS01 Không lấy được GPS TS02 Không lấy được GPS TS03 Không lấy được GPS TS04 22017’839 và 105030’098
Nặm Phiêng
NP01 22018’967 và 105030’668 NP02 Không lấy được GPS NP03 Không lấy được GPS NP04 Không lấy được GPS NP05 0551525 và 2466181 NP06 0551640 và 2466444
0
18’850 và 105030’336 KL02 22018’872 và 105030’037
Trang 372.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu theo TĐT:
Thu thập số liệu theo các phương pháp thông thường đang được áp dụng trong nghiên cứu sinh thái học và điều tra rừng hiện nay [3],[27],[36]
Thu thập số liệu nghiên cứu về thành phần thực vật dọc theo TĐT, ghi chép tất cả các loài xuất hiện ở hai bên tuyến trong phạm vi 10m (đối với các loài cây gỗ), 4m (đối với các loài cây bụi, dây leo) và 1m đối với các loài thân thảo hay thực vật dưới tán
- Thu thập số liệu trong OTC:
+ Trong OTC 2500m2 đo chiều cao đường kính (H1.3) cây có D≥10cm + Trong ODB 25m2 đo chiều cao đường kính cây có D<10cm và H≥3m + Trong ODB 4m2 thu thập số liệu cây tái sinh (cây có H<3m)
Những loài cây chưa biết tên khoa học thu thập tiêu bản để giám định tên trong phòng thí nghiệm
2.5.4 Phương pháp phân tích số liệu
- Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của UNESCO (1973) [44]
- Phân tích phổ dạng sống theo Raunkiaer (1934).[42]
- Công dụng được xác định theo các nhóm tài nguyên: cây cho gỗ, cây cảnh, cây cho quả, cây cho tinh dầu, cây thuốc, cây thực phẩm, cây làm rau
ăn, cây chăn nuôi [15],[31],[28],[29]
- Xác định tên các loài cây theo Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1992 - 1993) [15], theo “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (t 1,2,3) [31] để chỉnh lí và lập danh lục các loài thực vật tại vùng nghiên cứu
- Thang phân loại các yếu tố địa lý được áp dụng theo thang phân loại của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) (2004) [43] [29], có tham khảo phương pháp phân tích tính đa dạng yếu tố địa lý của Lê Trần Chấn năm 1990, cho hệ thực vật Lâm Sơn, Hòa Bình [4]
Trang 38- Xác định các loài thực vật quý hiếm tại vùng nghiên cứu theo “Sách
đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2007; Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh lục Đỏ IUCN [39], [26], [6]
n
mn
Trong đó: n là số cây trung bình theo loài
m là tổng số các loài của mỗi giai đoạn
ni là tổng số cây của loài trong một giai đoạn
Trang 39Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
3.1.1.1 Vị trí địa lý, diện tích
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm trên địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Có tọa độ địa lý 22o17’-22o19’ và 105o28’-105o33’E
Khu bảo tồn được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt thành lập tại Quyết định số 342 /QĐ-UB ngày 17/3/2004, với tổng diện tích là 1.788 ha Cụ thể:
− Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích: 1.646 ha
− Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích: 142 ha
− Phân khu hành chính dịch vụ: nằm phía ngoài ranh giới Khu bảo tồn
− Phía Đông giáp thôn Nà Áng xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
− Phía Nam giáp thôn Phia Khao và thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 403.1.2 Địa chất, địa hình
3.1.2.1 Địa chất
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc với nền địa chất có nguồn gốc trầm tích nằm trong quy luật tạo sơn chung của vùng Đông Bắc Việt Nam, với các sản phẩm chủ yếu là bột kết và cát kết cùng với đá vôi màu trắng, đen và màu xám sáng khó phong hóa, nhiều khu vực có quặng Chì, Kẽm, Sắt… từ đó hình thành 02 nhóm đất đó là đất dốc tụ do quá trình bồi đắp phù sa tạo nên tầng dầy ở các thung lũng và đất trên núi đá vôi với tầng mỏng
3.1.2.2 Địa hình
Khu bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là rừng trên núi đá vôi ở miền bắc Việt Nam, với độ cao trung bình từ 400m đến 800m so với mực nước biển, đỉnh cao nhất 1.159m, đi lại khó khăn và chia thành 2 vùng rõ rệt:
− Vùng núi đá: đây là vùng rừng phân bố tập trung trên núi đá vôi, nơi
có địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh núi cao, dốc lớn từ 25 ÷ 300, có nơi đến
450, đường đi lại khó khăn, tài nguyên rừng khu vực này nhìn chung là ít bị tác động bởi người dân địa phương
− Vùng núi đất: nằm tập trung ở các thung lũng giữa các đỉnh núi cao,
C vào tháng 7; nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,50C vào tháng 1
− Lượng mưa trung bình là 153mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung vào tháng 6, 7 lên tới 340mm