Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/………… .…./…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRIỆU THỊ THANH HUYỀN
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TẠI BỘ NỘI VỤ
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội, 2017
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại : HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS TRẦN NGHỊ
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn,
Học viện Hành chính Quốc gia Đại điểm: Phòng họp … tầng … Hội đồng trường bảo vệ Luận văn Thạc sĩ
Học viện Hành chính Quốc gia
Số 77, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Thời gian: vào hồi …h ngày … tháng … năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia
Hoặc trên trang Web của Khoa sau đại học,
Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi quốc gia có nền hành chính phát triển đều cần có cơ chế, chính sách đúng đắn và cải cách thường xuyên cho phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội, xu thế chung của thế giới Để có một nền hành chính mạnh, minh bạch, hoạt động có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, song một trong những yếu tố quan trọng
là con người và năng lực làm việc của họ trong hệ thống đó Công chức là khái niệm chung để chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước của một quốc gia, tùy mỗi quốc gia khác nhau mà có quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn, khả
năng của một công dân để trở thành công chức
Bộ Nội vụ là bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, có nhiệm vụ tham mưu trực tiếp cho Chính phủ ban hành nhiều chính sách có liên quan mật thiết đến đời sống người dân, đặc biệt là các chính sách liên quan tới những công chức trong nền công
vụ và tuyển dụng công chức có vai trò quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, để tiêu chuẩn vào những vị trí nhất định của bộ máy nhà nước Một trong những trọng tâm của cải cách hành chính là xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ngày 18/12/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1557/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức”, trong đó đề
ra nhiều nội dung và giải pháp nhằm xây dựng một nền công vụ “Chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả Bên cạnh đó, xét theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ nội vụ, Chính phủ đã ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức năm 2008 nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, đó là Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 đã hướng dẫn rất cụ thể điều kiện tuyển dụng, quy trình thi tuyển, xét tuyển công chức… là kim chỉ nam cho các Bộ, ban ngành, địa phương thực hiện theo đúng tinh thần và quy định của Luật Cán bộ, công chức Đồng thời, Bộ Nội vụ cũng ban hành Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; Thông tư số 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2010 của Bộ Nội vụ về việc sử đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV
Trong điểu kiện cải cách hành chính, hướng tới xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch và từng bước hiện đại hóa thì vấn đề tuyển dụng và xây dựng đội ngũ công chức càng có ý nghĩa quyết định hơn bao giờ hết mà nó cần được nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn, đồng thời việc nghiên cứu tuyển dụng công chức càng trở nên có ý nghĩa khi thực hiện tại Bộ Nội vụ, cơ quan thực hiện tham mưu cho Đảng, Chính phủ các chủ trương, giải pháp xây dựng bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách, đổi mới và hội nhập quốc tế Vì vậy, tôi chọn đề tài
“Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản
lý công
Trang 42 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một là, một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài hoặc các công trình nghiên
cứu được dịch, xuất bản thành sách tại Việt Nam như:
- Công trình “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” do Vũ Thiếu dịch, của 3 tác
giả người Mỹ là Harold Koontz, Cyril O”Donnell và Heinz
- Công trình nghiên cứu khoa học “ Cải thiện hành chính công trong thế giới cạnh tranh” của Mỹ do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành và TS Ngô Đức
Mạnh cùng một số dịch giả khác dịch
- Bài viết Nghiên cứu chế độ công chức Trung Quốc – nhìn lại lịch sử, các vấn
đề tồn tại và triển vọng tương lai (Tạp chí Đại học Nhân dân Bắc Kinh, kỳ 5, 2013),
tác giả Hồ Uy đã phân tích chế độ tuyển dụng của hai quốc gia Nhật Bản và Mỹ
- Công trình khoa học “ The Civil Serviec in the 21st Century: Comparative Perspectives” của Jos C.N Raadschelders, Theo A.J Toonen và Frits M Van der Meer nghiên cứu so sánh các hệ thống công chức, khám phá sự thay đổi và phát
triển ở các khu vực Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Úc
- Tác giả John P Burns and Wang Xiaoqi với công trình “ Civil Service Reform in China: Impacts on Civil Servants’ Behaviour”
- Cuốn sách: Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước của Chirstian
Batal, Nxb Chính trị quốc gia 2002
Hai là, các công trình nghiên cứu trong nước về công chức, tuyển dụng công
chức, nguồn nhân lực trong khu vực công tại các cơ sở đào tạo, học viện, cơ quan,
tổ chức, các bài báo, công trình nghiên cứu được công bố ở tạp chí của Việt Nam có
thể kể đến như:
- Đề tài khoa học cấp bộ của TS Hà Quang Ngọc (chủ nhiệm) “Đổi mới
phương pháp đánh giá công chức ở nước ta hiện nay”
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Hiệp về “ Hoàn thiện pháp luật về
tuyển chọn và bổ nhiệm công chức ở nước ta”
- Bài viết “ Tuyển dụng công chức ở Việt Nam qua thi tuyển hiện nay” của
GS.TS Nguyễn Hữu Khiển
- PGS.TS Nguyễn Hữu Hải và Ths Đào Thị Thanh Thủy với bài viết “ Thi tuyển công chức theo vị trí việc làm và điều kiện áp dụng ở nước ta”
- Cuốn Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới
(2004), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, các tác giả Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền
- Bài viết Quy trình thi tuyển công chức của Nhật Bản, tác giả Phạm Huyền
Trang
Trang 5- Bài viết Các nước tiên tiến tuyển dụng công chức nhà nước như thế nào
của tác giả Nguyễn Tuấn Quỳnh
- Cuốn sách tham khảo: Một số vấn đề lý luận về chế định pháp luật công vụ, công chức của TS Lương Thanh Cường xuất bản năm 2011, nxb Chính trị - Hành
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Công tác tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ
5 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn đề cập nghiên cứu việc tuyển dụng công chức được tiến hành tại
cơ quan Bộ Nội vụ (bao gồm công chức được tuyển dụng tại các vụ, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ) Đối với các đối tượng công chức ở các đơn vị trực thuộc Bộ như: Ban Tôn giáo Chính phủ; Ban Thi đua Khen thưởng trung ương; Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; Học viện hành chính quốc gia và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ thì không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Thời gian nghiên cứu về công tác tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ là từ
năm 2003 đến nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
6.1 Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức
6.2 Đánh giá thực trạng về vấn đề tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội
vụ hiện nay, những vấn đề đặt ra về công tác tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội vụ
6.3 Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức của Bộ Nội vụ trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước, cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, hiện đại, tận tụy, tận tâm phục vụ nhân dân
Trang 67 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng
và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục và phát triển nguồn nhân lực để
tiếp cận và triển khai các nội dung nghiên cứu
Về các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập tài liệu nghiên cứu thứ
cấp, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh
8 Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn sau đây:
8.1 Hệ thống hoá và làm rõ thêm cơ sở lý luận về công chức và đội ngũ công chức làm việc trong cơ quan Bộ Nội vụ;
8.2 Phân tích, đánh giá thực trạng tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội
vụ từ năm 2003 đến nay;
8.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tuyển dụng công chức tại cơ quan
Bộ Nội vụ trong thời gian tới
9 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, luận văn có 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tuyển dụng công chức
Chương 2 Phân tích thực trạng tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội vụ
Chương 3 Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội vụ
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Công chức
Ở Pháp, khái niệm công chức được nhiều nhà nghiên cứu Pháp thừa nhận
như sau: Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công
sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công
Ở Anh, năm 1977 Hạ viện Anh đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về công chức, nhấn mạnh một đặc điểm rất quan trọng của công chức là “thay mặt nhà nước giải quyết việc công” [22] Như vậy, ở Anh, “khái niệm công chức chỉ bao
Trang 7hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính – ví dụ như nội chính và ngoại giao” [21]
Ở Mỹ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức
Ở Cộng hòa liên bang Đức, công chức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do Nhà nước quản lý, các nhân viên làm việc trong các cơ quan Chính phủ, nhân viên lái xe lửa [22]
Ở Nhật Bản, công chức được chia thành công chức nhà nước và công chức địa phương Công chức nhà nước được chia thành 2 loại: công chức chung và công chức đặc biệt
Ở Trung Quốc, theo Luật công chức được ban hành năm 2005, công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan Nhà nước, của Mặt trận chính hiệp, tổ chức chính trị, trừ nhân viên phục vụ Công chức nhà nước gồm hai loại: Công chức lãnh đạo và công chức nghiệp vụ
Ở Việt Nam, thuật ngữ “công chức” được du nhập từ khi có sự cai trị của chính quyền thực dân Pháp Xét về mặt văn bản thì lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã đề cập đến thuật ngữ công chức Sắc lệnh này quy định rất rõ về quy chế công chức, theo đó, thuật ngữ công chức được đưa vào chính thức Theo Sắc lệnh thì công chức chỉ có ba dầu hiệu cơ bản là: công dân Việt Nam, làm việc có tính thường xuyên, trong các cơ quan của Chính phủ
Đến năm 1990, thuật ngữ và khái niệm công chức được qui định trong Nghị
định số 169/HĐBT ngày 25-5-1991 của Hội đồng Bộ trưởng như sau: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước,
đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức”.[Hội đồng Bộ trưởng(1991), Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của
Hội đồng Bộ trưởng về Công chức, Tài liệu lưu trữ của Bộ nội vụ]
Tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, khái niệm cán bộ công chức được hiểu có ba dấu hiện chính là: Là công dân Việt Nam; trong biên chế nhà nước; hưởng lương từ ngân sách ở đây được hiểu là nguồn của nó là do nhà nước cấp chứ không phải từ vụ việc cụ thể hoặc nguồn thu ngoài
Ngày 10-10-2003, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, lực lưỡng
vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội cũng đã đưa ra khái niệm về công chức
Ngày 13-11-2008, Luật Cán bộ công chức được Quốc hội thông qua, quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức;
Trang 8nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện đảm bảo thi hành công vụvà tại mục 2, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức đã đưa ra khái niệm công chức khá cụ thể
Từ đó, khái niệm công chức có thể được hiểu như sau:
Công chức là công dân Việt Nam, được nhà nước tuyển dụng để giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên, được bổ nhiệm vào một ngạch chức danh, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách nhà nước
1.1.2 Tuyển dụng
-Theo quản trị nhân sự (Nguyễn Hữu Thân): “Tuyển mộ nhân viên là một quá trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng kí, nộp đơn tìm việc làm…Tuyển mộ là tập hợp các ứng viên lại Tuyển chọn là xem ai trong số các ứng viên ấy là người hội đủ các tiêu chuẩn để vào làm việc trong công ty”
-Theo giáo trình Quản lý nhân sự trong doanh nghiệp của trường ĐẠi học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội thì: “tuyển dụng lao động là một qus trình thu hút nhân lực có khả năng đáp ứng công việc và đưa vào sử dụng, bao gồm các khâu: tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí sử dụng và đánh giá”
- Theo giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính Nhà nước xuất bản năm 2004, nahf xuất bản Đại học Quốc gia, tuyển dụng là “đưa thêm người mới vào làm việc chính thức cho tổ chức, tức là từ khâu đầu tiên cho đến giai đoạn hình thành nguồn nhân lực cho tổ chức” Theo đó, quá trình tuyển chọn bao gồm hai giai đoạn:
-Giai đoạn 1 là “tuyển” tức là quá trình thu hút người tham gia dự tuyển -Giai đoạn 2 là “chọn” tức là giai đoạn xem xét, đánh giá để chọn ra những
cá nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do tổ chức đặt ra trong số những người tham gia dự tuyển
Nói chung có rất nhiều quan điểm khác nhau về tuyển dụng, hiểu một cách chung nhất:
“Tuyển dụng là một quá trình nhằm tìm kiếm, thu hút và lựa chọn ra người tốt nhất cho vị trí công việc trống của tổ chức”
1.1.3 Tuyển dụng công chức
Theo Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ thì tuyển
dụng “là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển” Việc tuyển dụng có thể là thi tuyển, xét tuyển thậm
chí là sát hạch, trắc nghiệm, phỏng vấn tùy theo mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển Như vậy, có thể rút ra là:
Tuyển dụng công chức là việc lấy một người vào cơ quan nhà nước để bổ vào một ngạch nào đó theo tiêu chuẩn chuyên môn nhất định
1.2 Những vấn đề chung về tuyển dụng công chức
Trang 91.2.1 Mục đích của tuyển dụng công chức
Việc tuyển dụng công chức nhằm mục đích hoàn thiện hoạt động xây dựng
và phát triển đội ngũ công chức ngay từ những khâu đầu tiên Việc tuyển dụng nếu
có phương pháp tốt, khách quan, khoa học sẽ tuyển chọn được nhiều người tài giỏi,
1.2.2.2 Nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc khách quan nhằm đảm bảo việc tuyển dụng không bị chi phối bởi các tình cảm chủ quan như: lựa chọn thí sinh là người nhà, của các mối quan hệ quen biết, cố tình tuyển vượt số lượng biên chế tránh tiêu cực hối lộ trong tuyển dụng
Nguyên tắc khách quan đó còn có nghĩa là vô tư và công bằng trong công tác tuyển dụng:
-Vô tư trong tuyển dụng công chức chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn, năng lực và kết quả sát hạch qua thi tuyển để tuyển dụng công chức Vô tư đảm bảo tính công bằng đồng thời bảo đảm tính khách quan
- Công bằng là lấy kết quả làm cơ sở để tuyển chọn, loại trừ thiên vị Như vậy, đảm bảo tính công bằng và vô tư là đảm bảo và tôn trọng kết quả phù hợp với quy định
1.2.2.4 Nguyên tắc ưu tiên
Nội dung của nguyên tắc ưu tiên là dành những điều kiện ngoại lệ thuận lợi,
dễ dàng hơn (ưu tiên cộng điểm, ưu tiên về độ tuổi…) đối với một số đối tượng nhất định phù hợp với pháp luật nhà nước
1.2.2.5 Nguyên tắc công khai
Nguyên tắc công khai đảm bảo những gì liên quan đến quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn đều được thông báo để đương sự biết
1.2.2.6 Nguyên tắc khuyến khích
Trang 10Nguyên tắc khuyến khích là nguyên tắc bổ sung ngoài những nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc khuyến khích có thể được chủ động xây dựng bởi cơ quan tuyển dụng mà không vi phạm những nguyên tắc cơ bản
1.2.2.7 Nguyên tắc tuyển dụng xuất phát từ nhu cầu
Nguyên tắc này nhấn mạnh tới vấn đề tuyển dụng căn cứ vào nhu cầu thực
tế, thiếu vị trí công việc nào thì tuyển dụng đúng vị trí chuyên môn đó, trình độ đó
Có thể cao hơn yêu cầu nhưng tối kỵ lấy thấp hơn Có như vậy việc tuyển dụng mới đáp ứng được nhu cầu thực sự chứ không chỉ là việc bổ sung số lượng cho đủ
1.2.3 Điều kiện đăng ký dự tuyển
Tại chương IV Mục 2 Điều 36 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về tuyển dụng công chức, đã nêu rất rõ đối tượng được tham gia tuyển dụng công chức tại các cơ quan hành chính ở Việt Nam
1.2.4 Hình thức tuyển dụng
1.2.4.1 Thi tuyển
Điều 8 – Chương II Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 Quy định
về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Thông tư số 13/2010/TT-BNV của
Bộ Nội vụ : Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, quy định rõ:
1 Môn kiến thức chung
2 Môn nghiệp vụ chuyên ngành
3 Môn ngoại ngữ
4 Môn tin học văn phòng
Điều 9 – Chương II Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định điều kiện miễn thi một số môn
1 Miễn thi môn ngoại ngữ trong trường hợp môn nghiệp vụ chuyên ngành không phải là ngoại ngữ nếu có một trong các điều kiện sau:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc tốt nghiệp đại học, sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam
2 Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằng tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên
Trang 11- Phỏng vấn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển
1.2.5 Quy trình tiến hành tổ chức tuyển dụng công chức
1.2.5.1 Xác định nhu cầu tuyển dụng và căn cứ vào chỉ tiêu biên chế
Căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế được duyệt và nguồn tài chính của đơn vị Trước khi đưa ra yêu cầu tuyển dụng chính thức phải xác định chính xác nhu cầu tuyển dụng
1.2.5 2 Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển
Căn cứ vào nhu cầu công việc và chỉ tiêu biên chế được duyệt, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của cơ quan và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, nội dung hồ sơ, môn thi, thời hạn và địa điểm tiếp nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển
- Tổ chức việc coi thi, chấm thi, công bố kết quả thi
- Báo cáo kết quả tuyển dụng lên cơ quan có thẩm quyền để ra quyết định tuyển dụng
Đối với hình thức xét tuyển: Về cơ bản các bước của xét tuyển cũng giống như thi tuyển Tuy nhiên hình thức xét tuyển viên chức khác với thi tuyển ở chỗ: Xét tuyển không tổ chức việc ra đề hay chấm thi mà thông qua xét kết quả học tập; kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của người dự tuyển
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng công chức
1.3.1 Các yếu tố chủ quan
- Nhận thức của lãnh đạo về việc tuyển dụng công chức, nguồn nhân lực cho
cơ quan, đơn vị
- Sự đầy đủ của các văn bản quy phạm pháp luật về công chức, tuyển dụng công chức
Trang 12- Vị trí, việc làm trong cơ quan, đơn vị mà ứng viên mong muốn được vào làm việc
1.3.2 Các yếu tố khách quan
- Điều kiện cơ sở vật chất, môi trường công tác của công chức
- Thông tin trong tuyển dụng
Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
TẠI CƠ QUAN BỘ NỘI VỤ 2.1 Giới thiệu chung về Bộ Nội vụ
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Nội vụ
Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời gồm 13 Bộ và 15 vị Bộ trưởng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Trong cơ cấu Chính phủ có Bộ Nội vụ do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng
Ngày 6/1/1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến ra mắt Quốc hội.Bộ trưởng
Bộ Nội vụ là cụ Huỳnh Thúc Kháng
Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58/SL về tổ chức Bộ Nội vụ
Ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141/SL về việc thành lập Thứ Bộ Công an thuộc Bộ Nội vụ
Ngày 30/4/1947, Hội đồng Chính phủ thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Tôn Đức Thắng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Ngày 9/11/1947, ông Phan Kế Toại, được cử giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay cho đồng chí Tôn Đức Thắng đi nhận công tác khác (ông Phan Kế Toại chính thức là Bộ trưởng năm 1951)
Ngày 29/9/1961, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 130/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nội vụ Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Kế Toại kiêm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Tháng 6/1975, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá V, Quốc hội quyết định hợp nhất hai Bộ Công an và Bộ Nội vụ, lấy tên là Bộ Nội vụ
Ngày 7/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 135/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng
Ngày 30/9/1992, Nghị quyết kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá IX đã quyết định Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ là cơ quan ngang Bộ
Trang 13Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 02/2002/NQ-QH11 ngày 5/8/2002 quy định danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ.Theo đó, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ được đổi tên thành Bộ Nội vụ
Ngày 09/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ
Ngày 8/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/NĐ-CP về việc chuyển Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Cơ yếu Chính phủ vào Bộ Nội vụ
Ngày 17/8/2015, Bộ Nội vụ tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Bộ Nội vụ, ngày truyền thống ngành Tổ chức Nhà nước (28/8/1945 – 28/8/2015), Đại hội thi đua yêu nước lần thứ III và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Ngày 03/4/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2017/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, trong đó bao gồm 22 đơn vị: 18 đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản
lý nhà nước và 4 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ
2.2 Phân tích thực trạng tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội vụ
2.2.1 Đặc điểm công chức tại Bộ Nội vụ
Thứ nhất, cũng như đặc điểm của công chức nói chung công chức Bộ Nội vụ
là những người trong độ tuổi lao động, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức theo quy định và là những người trưởng thành về mặt nhận thức
Thứ hai, công chức Bộ Nội vụ là những người được đào tạo cơ bản, có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, các chỉ số về kiến thức, nhận thức, bằng cấp, ngoại ngữ, tin học phù hợp với lĩnh vực, vị trí công tác
Thứ ba, công chức Bộ Nội vụ là những người trực tiếp tham gia hoạch định
chính sách của Bộ Nội vụ trên các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ và có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, xã hội của đất nước khi chính sách được thực thi trên thực tế
Thứ tư, công chức Bộ Nội vụ là những người có kinh nghiệm trong công tác
liên quan đến các lĩnh vực nội vụ như: Công chức, viên chức; Địa giới hành chính; tiền lương; hội, tổ chức phi chính phủ…và có am hiểu về các vấn đề liên quan đến ngành, lĩnh vực đặc thù do Bộ Nội vụ quản lý
Thứ năm,thực trạng về trình độ nguồn nhân lực của Bộ Nội vụ.Theo thống kê,
đội ngũ công chức của Bộ Nội vụ phát triển về số lượng và tăng theo thời gian Đến nay, đội ngũ công chức của Bộ Nội vụ có hơn 400 công chức [28] (Bao gồm công chức của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Nội vụ)