1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặng Huy Huỳnh Policy proposals

6 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 682,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Hội thảo khoa học “Nhân nuôi và phát triển động vật có nguồn gốc hoang dã ở Việt Nam” do Tổng cục Lâm nghiệp và Hội Động vật học Việt Nam tổ chức, Nguyễn Hữu Hưng, Chi cục Kiểm lâm

Trang 1

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ VÀ

SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Đặng Huy Huỳnh

Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tóm tắt

Hiện nay, đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng Đây là điều mà các nhà quản lý, các nhà khoa học lo lắng Mặc dù chính phủ và các bộ ngành liên quan đã có nhiều nỗ lực trong việc ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, nhưng các hoạt động phá rừng, săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã vẫn xảy ra ở một số địa phương Việc chấm dứt các hoạt động trái phép này, bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học là nhiệm vụ cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, bài báo đã đề xuất một số chính sách liên quan đến quản lý và sử dụng bền vững đa dạng sinh học hướng tới sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển

1 MỞ ĐẦU

Đã nhiều thập kỷ và hiện nay chúng ta đều luôn luôn bàn, thảo luận nhắc đến từ “giá trị về đa dạng sinh học” như chúng ta đều biết trong Công ước Đa dạng sinh học (CBD) đã công nhận giá

trị về mặt sinh thái, về loài, về gen, về kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử… của đa dạng sinh học (ĐDSH) là rất lớn Như vậy, cần có những chính sách gì làm kim chỉ nam cho việc phát huy các tri thức bản địa truyền thống và tri thức hiện đại của 54 cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ miền biển đảo đến miền rừng, núi xa xôi, tạo dựng được một nguồn kinh phí chính trực từ những giá trị ĐDSH Việt Nam

Một thực tế cho thấy giá trị ĐDSH Việt Nam đã được cộng đồng người Việt từ thành thị đến nông thôn biết khai thác sử dụng từ lâu, phục vụ cho các mục đích khác nhau trong quá trình dựng nước và giữ nước

Thực vậy, với giá trị đa mục đích của ĐDSH nên ngay từ thế kỷ XIII, trong sách “Nam dược thần hiệu”, Danh y Tuệ Tĩnh đã thống kê ra 480 vị thuốc Nam, trong đó, có hàng trăm loài thực

vật, nấm, 36 loài thú, 32 loài côn trùng, 8 loài có vẩy, 35 loài cá, 16 loài bò sát, 39 loài chim…,

và chính Hải Thượng Lãn Ông cũng ghi nhận trong “Lĩnh nam bản thảo” Trong nhiều công

trình của Đỗ Tất Lợi (1995) có mô tả hàng nghìn loài thực vật, động vật làm thuốc; Võ Văn Chi (1998) cũng đã ghi nhận mô tả 454 loài động vật có xương sống, không xương sống ở biển, ở rừng có giá trị dược liệu cao Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỳ XXI, các nhà thực vật học, động vật học Việt Nam đã thống kê và mô tả khoảng 40.000 loài sinh vật, trong đó, có khoảng hơn 6.000 loài có ý nghĩa giá trị trong cuộc sống chưa nói đến các vai trò,

Trang 2

chức năng vô cùng to lớn của ĐDSH Việt Nam đối với phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa và bảo

vệ môi trường

Nhưng hiện nay, chúng ta, các nhà quản lý, các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà khoa học về môi trường, kể cả một số tổ chức quốc tế và cộng đồng, thường băn khoăn lo lắng, bức xúc về tình trạng ĐDSH Việt Nam bị suy giảm cạn kiệt nghiêm trọng Điều đó là hoàn toàn đúng, là hồi chuông dài cảnh báo cho những người làm quản lý, làm chính sách, những người sống trên mảnh đất này biết, để xác định các thái độ ứng xử công bằng và thân thiện với ĐDSH, một cơ sở vật chất, một thành tố quan trọng trong môi trường, cái nôi của sự tồn tại và phát triển Nhưng phải công bằng để nhìn nhận và phán xét sự kiện thì từ những thập kỷ năm 60 của thế kỷ

XX cho đến nay, các thế hệ lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học, các nhà kinh doanh, kể cả đại

bộ phận người dân cũng đã từng nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa, giá trị ĐDSH đối với đời sống và phát triển Chính phủ, các bộ ngành có liên quan lĩnh vực môi trường, ĐDSH đã có hàng trăm các văn bản, các nghị định, thông tư, đặc biệt các bộ luật về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ

và phát triển rừng (2004), Luật Thủy sản (2003), Luật ĐDSH (2008), v.v , đã phát huy tác dụng nhất định đối với sự nghiệp bảo vệ phát triển rừng, ĐDSH Nhưng tại sao các sự kiện nóng về bảo tồn ĐDSH Việt Nam, nhất là tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trộm (gỗ tốt, quý), cũng như tình trạng săn bắt, vận chuyển buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã vẫn xảy ra ở một số địa phương Đấy là điều cần suy nghĩ một cách nghiêm túc, để tìm cách tháo gỡ cả về mặt chính sách, về ý thức và hành động hướng tới sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển

2 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ CHÍNH SÁCH

Trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn rất Việt Nam, tác giả có một số đề xuất, một số quan điểm và chính sách dưới đây:

1 Về quan điểm: Phải coi trọng và có chính sách hài hòa, công bằng giữa hai biện pháp bảo tồn

nguyên vị (in-situ) và chuyển vị (ex-situ) trong chiến lược bảo tồn và phát triển ĐDSH ở Việt Nam Thực tế hiện nay biện pháp bảo tồn in-situ là có sự đồng thuận cao Nhưng biện pháp bảo tồn chuyển vị ex-situ thì có nhiều ý kiến trái ngược nhau, thậm chí phê phán về những lợi ích và

nguy cơ do gây nuôi các loài động vật hoang dã Trong khi đó, từ thập kỷ năm 1980 của thế kỷ

XX cho đến năm 2010 thế kỷ XXI, theo tin của Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cả nước có 10.000 cơ sở nuôi, kinh doanh các loài thú, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng, với hơn 3 triệu cá thể, với hàng trăm loài động vật hoang dã, trong đó có một số loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), trong Phụ lục của Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Phụ lục

CITES Khách quan thừa nhận, việc tổ chức bảo tồn ex-situ không những đã góp phần không nhỏ

trong việc bảo tồn nguồn gen động, thực vật quý hiếm, mà còn đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Trong Hội thảo khoa học “Nhân nuôi và phát triển động vật có nguồn gốc hoang dã ở Việt Nam” do Tổng cục Lâm nghiệp và Hội Động vật học Việt Nam tổ chức, Nguyễn Hữu Hưng, Chi cục Kiểm lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Chương

trình bảo tồn ex-situ, trong đó có trại cứu hộ động vật hoang dã và nhân nuôi trồng trọt một số

loài thực, động vật hoang dã, đã góp phần làm cho một số hộ gia đình không những thoát nghèo,

mà còn có thể làm giàu từ thu hoạch chính đáng của giá trị ĐDSH như: giải quyết công ăn việc làm, tạo ngành nghề mới như thuộc da, chế biến thực phẩm, dược phẩm, công nghệ trang trí,

mỹ nghệ , miễn là phải tuân thủ đúng các điều quy định, cho phép của pháp luật hiện hành”

Trang 3

Chẳng hạn, theo Báo cáo quốc gia về ĐDSH, năm 2011, nhờ có chính sách khuyến khích gây nuôi sinh sản, kể cả các loài nguy cấp quý hiếm mà cứu vãn được một số loài như Hươu sao

(Cervus nippon), Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis), hiện đang có gần 50.000 cá thể

Cá sấu được gây nuôi sinh sản được đăng ký với Ban Thư ký CITES Các loài Trăn và sản phẩm của trăn gây nuôi sinh sản ở các tỉnh phía Nam đã cung cấp cho tiêu dùng và xuất khẩu Các loài rắn Hổ mang, Rắn độc đã nuôi sinh trưởng và sinh sản thành công ở các trang trại Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), trại nuôi các loài rắn lấy nọc độc làm thuốc của Đại tá Trần Thị Hà, Quân khu 9,

v.v Các trại nuôi khỉ vàng ở Đảo Rều (Quảng Ninh), trại nuôi khỉ đuôi dài (Macaca fasciculatis) thành công ở Công ty Nafovani ở Long Thành, các trang trại nuôi hươu, nai, lợn

rừng, gấu, nhím, ba ba, rùa, tắc kè, nhông, trĩ, công, gà rừng, các loài ếch nhái, hàng trăm loài chim, cá cảnh và hàng trăm trang trại trồng cây thuốc, cây cảnh, cây nguyên liệu… đang lưu hành trên thị trường là một thực tế ở Việt Nam hiện nay Đây chính là điều cần thảo luận, đánh giá mặt tích cực, mặt tiêu cực để có chính sách trong việc vận dụng khai thác tiềm năng của thiên nhiên cùng với trí thức của cộng đồng để có thu hoạch chính đáng từ các giá trị của ĐDSH

2 Để góp phần giải tỏa các lo lắng, băn khoăn chính đáng của những người quan tâm đến công

tác bảo tồn ĐDSH, cần có sự kiểm soát, kiểm tra để hướng dẫn thực hiện đúng các điều quy định của các luật có liên quan (Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật ĐDSH) trong việc quy định gặt hái từ các giá trị của ĐDSH trên nguyên tắc bảo tồn và phát triển

3 Cần có sự đánh giá nghiêm túc, khoa học, dựa trên nền tảng của các hệ sinh thái vùng nhiệt

đới, các đặc điểm sinh thái cá thể, quần thể, quần xã, sinh vật nhiệt đới, để đề xuất các chính sách bảo đảm tính khoa học, tính phù hợp với thực tế của các bản sắc văn hóa tốt đẹp của người Việt trong ứng xử với thiên nhiên, chỗ dựa để có thu nhập hài hòa, các lợi ích từ ĐDSH Việt Nam

4 Cần có chính sách đánh giá đúng giá trị thương mại đích thực của ĐDSH và khả năng đầu tư

trở lại cho nhiệm vụ bảo tồn - phát triển ĐDSH ở các địa phương (các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên…)

5 Cần các chính sách hợp lý, kích cầu, tạo được nguồn thu chính đáng từ các giá trị ĐDSH

không những cho người nghèo, mà cả cho người muốn vươn lên làm giàu bằng trí tuệ, bằng công nghệ xanh thân thiện với môi trường và đáp ứng việc tuân thủ nghiêm túc các quy định của luật pháp

6 Chính sách đầu tư cho khoa học và công nghệ để triển khai không những công trình điều tra

phát hiện, kiểm kê tài nguyên ĐDSH, mà còn cần triển khai các công nghệ đánh giá đúng, phù hợp các giá trị sử dụng hài hòa ĐDSH trong điều kiện cơ chế thị thường có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đề xuất các tiêu chí cụ thể để xác định những quan điểm đúng đắn, có cơ sở khoa học trong việc tiếp cận các giá trị kinh tế-xã hội-văn hóa và lịch sử của nguồn tài nguyên ĐDSH Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

7 Cần có chính sách ưu tiên đầu tư thích đáng về nguồn lực, trí tuệ trong việc khoanh nuôi tái

sinh phục hồi rừng ở những khu vực còn có các hạt giống từ cây mẹ, hoặc mầm mống của các hiện tượng tái sinh tự nhiên nhờ các điều kiện tự nhiên như gió, mưa và cả sự đóng góp cần mẫn không vụ lợi của thế giới động vật quanh chúng ta

Trang 4

8 Chính sách tiếp cận và thu nhập chính đáng và chia xẻ công bằng lợi ích có từ ĐDSH không

chỉ xét một cách đơn lẻ, mà là sản sinh ra nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ tổng hợp đa dạng từ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, cho nhiều các bậc, hạng khách hàng, bao gồm các cấp quản lý ở trung ương và địa phương, các cộng đồng, các doanh nghiệp và cả tôn giáo, tâm linh

9 Riêng đối với Quảng Ninh là một tỉnh không chỉ có đất liền, có diện tích rộng lớn mà còn có

cả bờ biển dài khoảng 600-700 km, có mặt biển rộng lớn khoảng 7.000-8.000 km2; không những

có nhiều hòn đảo đẹp nổi tiếng, mà còn có nguồn tài nguyên ĐDSH phân bố trên cạn, trên đảo, trong đó, có các loài lan quý hiếm, đặc biệt nguồn lợi động vật biển vô cùng đa dạng như: sò huyết, trai, ngọc, bào ngư, diệp, vẹn, cua, các loài tôm biển, các loại cá song, cá mú, cá lục, cá trích… các loài động vật có vú: cá heo, kể cả các loài sinh vật biển nguyên sơ độc đáo như: hải miên, xoang tràng…

Nhờ các vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ của thiên nhiên ban tặng cùng với công sức gìn giữ bảo vệ của các bậc tiền bối cũng như các thế hệ nối tiếp mà Vịnh Hạ Long của Quảng Ninh đã lần thứ hai được quốc tế bình chọn và công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới, là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới đẹp nhất trên thế giới Đây là niềm tự hào không riêng cho người dân Quảng Ninh, mà là niềm vui chung cho cả 54 cộng đồng dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam kể

cả người Việt đang sống trên khắp năm châu

Để Quảng Ninh có nguồn thu bền vững từ các di sản của thiên nhiên, trong đó, có giá trị của ĐDSH, vẻ đẹp của các đảo, màu xanh của nước biển, đa dạng các thành phần và sản phẩm của thực vật, động vật, các nét đẹp văn hóa của nghề truyền thống khai thác, nuôi trồng thủy hải sản của làng chài trên đảo, biển Quảng Ninh Bên cạnh việc đầu tư xây dựng các khách sạn, cơ sở vui chơi giải trí, cần có chính sách đầu tư thích đáng cho việc xây dựng bảo tồn sống về nguồn lợi sinh vật biển đảo, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của ĐDSH quý giá mà Quảng Ninh đã

và đang có Là cơ hội và kỳ vọng Vịnh Hạ Long và biển đảo Quảng Ninh sẽ là điểm đến, điểm thu hút các nhà yêu thiên nhiên, các nhà nghiên cứu, khoa học về đa dạng sinh vật biển, kể cả sinh vật hiện hữu trên hàng nghìn hòn đảo ở Quảng Ninh Thử nhìn ngược lại thập kỷ năm 60 của thế kỷ XX, biển đảo Quảng Ninh là nơi đột phá đầu tiên duy nhất của Việt Nam và kể cả khu vực Đông Nam Á có một hòn đảo tên gọi là đảo Rều đất, Rều đá mà cư dân đông đúc sầm uất nhất sống, thân thiện với môi trường, với cảnh quan chính lại là các gia đình quần thể loài Khỉ

vàng Macaca mulatha (Zimmenman, 1780) đã được Viện Vệ sinh Dịch tễ, Bộ Y tế nhân nuôi và

phát triển hài hòa, phục vụ cho sản xuất loại vacxin đặc trị chống các bệnh hiểm nghèo cho trẻ

em Việt Nam và thế giới Cùng với việc biết dựa vào thiên nhiên, các hang động sẵn có trong rừng, trên đảo nhân nuôi phát triển loài Tắc kè (Gecko Gecko) làm thuốc và xuất khẩu Cần nhấn mạnh rằng, rừng trên đất liền và rừng trên biển đảo là vương địa của thế giới Tắc kè Chưa nói đến nghề nuôi sá sùng, hải sâm, đó chẳng phải là công sức bảo vệ được thu hoạch chính đáng từ ĐDSH đó sao, miễn là chúng ta phải có chính sách rõ ràng, minh bạch, phù hợp và công bằng, dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, thì nhất định chúng ta sẽ gặt hái được kết quả mong muốn, thu hoạch lợi ích từ ĐDSH do con người biết quản lý, biết sử dụng hài hòa, cái

mà thiên nhiên và trí thức truyền thống và tri thức hiện đại mang lại

Điều đó có thể khẳng định và tin tưởng rằng, nếu có các chính sách phù hợp, thích đáng với nhiệm vụ bảo tồn và phát triển ĐDSH của địa phương, của đất nước, thì nguồn lợi ĐDSH của từng địa phương cũng như của cả nước Việt Nam này ắt có một tương lai đầy hoa và ánh sáng,

Trang 5

lan tỏa từ các nguồn tài nguyên quý giá của ĐDSH phục vụ cho mọi phúc lợi của tự nhiên và của con người, hướng tới mục tiêu thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu, để phát triển bền vững cho xã hội hôm nay và cho xã hội mai sau

3 KẾT LUẬN

Giá trị đích thực của ĐDSH Việt Nam là rõ ràng, là thực tế để phát huy các giá trị của ĐDSH, phục vụ cho lợi ích xã hội hiện nay và tương lai, cần phải có các chính sách phù hợp với các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, về phát triển kinh tế, về bản sắc văn hóa, về tâm lý xã hội của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong hội nhập và phát triển bền vững

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, DANIDA, 1996 Hội thảo “Tạo thu nhập từ ĐDSH để bảo vệ ĐDSH” NXB Hà Nội, Hà Nội

2 Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011 Báo cáo Quốc gia về ĐDSH năm 2011

3 Võ Văn Chi, 1998 Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam NXB Y học, Hà Nội

4 Cục Kiểm lâm, Trường Đại học Lâm nghiệp, 2007 Báo cáo Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát triển nhân nuôi các loài động vật hoang dã

5 Chính phủ CHXHCNVN, 1995 Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học Việt Nam

6 Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Văn Sáng và nnk., 1998 Bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên động vật rừng Việt Nam NXB Giáo dục, Hà Nội

7 Đặng Huy Huỳnh (Chủ biên), Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Xuân Đặng, Phạm Trọng Ảnh và Hoàng Minh Khiêm, 2010 Sách Đông vật chí Việt Nam Tập Thú NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội

8 Võ Quý, 1978 Đời sống các loài chim NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

9 Võ Quý và Nguyễn Cử, 1995 Danh mục Chim Việt Nam NXB Nông nghiệp, Hà Nội

10 Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997 Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học NXB Nông nghiệp, Hà Nội

11 Thảo cầm viên Sài Gòn, 2011 Tuyển tập Báo cáo Hội thảo khoa học “Nhân nuôi, phát triển bền vững động vật có nguồn gốc hoang dã”

Trang 6

Summary POLICY PROPOSALS RELATING TO MANAGEMENT AND SUSTAINABLE USE OF

BIODIVERSITY IN VIETNAM IN CLIMATE CHANGE CONTEXT

Dang Huy Huynh

Institute of Ecology and Biological Resources,

Currently, Vietnam’s biodiversity has been decreasing strongly, being managers’ and scientists’ worry Deforestation, hunting and illegal trade in wildlife are still occurring in some areas although the government and relevant ministries have had attempts to enforce and operate laws relating to biodiversity conservation Ending illegal activities, conserving and maintaining biodiversity are urgent tasks in the context of global climate change On the basis of science and reality, this paper has proposed policies relating to management and sustainable use of biodiversity towards harmony between conservation and development

Ngày đăng: 17/12/2017, 17:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w