1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tư tưởng canh tân của đặng huy trứ

91 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, trong điều kiện lịch sử của đất nước lúc bấy giờ, tư tưởng canh tân của ông cũng như của những nhà tư tưởng khác cùng thời không được triều đình nhà Nguyễn v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THỦY

TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THỦY

TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bình Yên

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 9

Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 9

1.1 Những điều kiện lịch sử thế giới và Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX 9

1.1.1 Điều kiện lịch sử thế giới nửa cuối thế kỷ XIX 9

1.1.2 Điều kiện lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX 12

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 19

1.2.1 Tư tưởng truyền thống dân tộc 19

1.2.2 Văn minh phương Tây và tư tưởng canh tân của các nước châu Á 25

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Đặng Huy Trứ 28

1.3.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ 28

1.3.2 Khái quát về tác phẩm của Đặng Huy Trứ 30

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 33

2.1 Tư tưởng canh tân về đường lối giữ nước và quân sự 33

2.1.1 Tư tưởng canh tân về đường lối giữ nước 34

2.1.2 Tư tưởng canh tân về quân sự 38

2.2 Tư tưởng canh tân về kinh tế 41

2.2.1 Về vai trò của kinh tế trong đời sống xã hội 41

2.2.2 Về đạo đức trong kinh doanh 46

2.3 Tư tưởng canh tân về văn hóa, giáo dục, đạo đức công vụ và trách nhiệm của người làm quan 47

2.3.1 Tư tưởng canh tân về văn hóa, giáo dục 47

2.3.2 Tư tưởng về đạo đức công vụ và trách nhiệm của người làm quan 60

2.4 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 72

2.4.1 Những giá trị chủ yếu trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 72

2.4.2 Một số hạn chế trong tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ 77

KẾT LUẬN 82

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đến nửa đầu thế kỷ XIX, hệ tư tưởng Nho giáo và chính quyền phong kiến Việt Nam về cơ bản vẫn làm tròn nhiệm vụ của mình khi Nhà nước phong kiến triều Nguyễn vẫn giữ được độc lập dân tộc và ổn định được trật tự

xã hội Nhưng những năm tiếp theo, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và theo đó văn minh phương Tây cũng tràn vào Việt Nam một cách mạnh mẽ thìtriều đình nhà Nguyễn với hệ tư tưởng Nho giáo thống trị đã đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng Hòa hay chiến, canh tân hay thủ cựu, đó là những vấn đề cốt yếu nhất mà những nhà tư tưởng và chính quyền nhà Nguyễn thời kỳ này phải đối mặt

Trong bối cảnh đó đã xuất hiện nhiều sĩ phu yêu nước có tư tưởng canh tân, đổi mới, tiêu biểu như Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ Do những hạn chế lịch sử, giai cấp mỗi người một góc độ, một cách nhìn riêng mà trong tư tưởng cải cách của họ có cả những tư tưởng đúng đắn cũng nhưtư tưởng sai lầm Nhưng nhìn chung, tư tưởng của

họ đều chứa đựng nội dung và giá trị tích cực nhất định, đều mong muốn làm cho đất nước thay đổi, phát triển, thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trì trệ, đặc biệt là thoát khỏi họa xâm lăng từ phương Tây

Trong số những đại biểu trên có một người được Phan Bội Châu đánh giá là một trong những người “trồng mầm khai hóa” đầu tiên ở Việt Nam.Đó

là Đặng Huy Trứ, nhà tư tưởng nửa cuối thế kỷ XIX

Là một vị quan xuất thân Nho học, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống đạo đức, sống giản dị gần gũi với nhân dân, Đặng Huy Trứ đã tiếp nối gia phong, gia nghiệp, kế thừa những tinh hoa văn hóa dân tộc, khẳng khái, tận trung, liêm khiết, giản dị để trở thành một trí thức lớn, chân chính

Trang 5

của Việt Nam thời bấy giờ Dù là một nhà khoa bảng Nho học, làm quan dưới chế độ phong kiến nhưng ông lại có những tư tưởng đổi mới, cách tân khá toàn diện và sâu sắc, vượt lên trên hệ tư tưởng Nho giáo phong kiến cũng như nhiều trí thức cùng thời

Vấn đề là tư tưởng canh tân của ông gồm những nội dung gì, những tư tưởng ấy đã có đóng góp như thế nào đối với sự phát triển của đất nước? Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, trong điều kiện lịch sử của đất nước lúc bấy giờ, tư tưởng canh tân của ông cũng như của những nhà tư tưởng khác cùng thời không được triều đình nhà Nguyễn và xã hội tiếp nhận một cách dễ dàng, không được triển khai thực hiện với nguồn lực,biện pháp cần thiết nên không thể tạo ra được sự chuyển biến đáng kể nàocho đất nước Tuy nhiên, với tinh thần khách quan, khoa học chúng ta không thể vì thế mà phủ nhận những giá trị trong tư tưởng và hoạt động canh tân của ông Hơn một trăm năm đã trôi qua, đất nước đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đặc biệt là trong điều kiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, thế hệ ngày nay đã có thể và cần phải nhìn nhận lại tư tưởng canh tân của ông cũng như của các nhà tư tưởng khác để đánh giá một cách khách quan, đầy đủ hơn về nội dung, giá trị tư tưởng và ý nghĩa lịch sử của những tư tưởng đó

Đặng Huy Trứ để lại mộtkhối lượng tác phẩm thơ văn khá phong phú, gồm 12 tập thơ với hơn 1200 bài, 4 tập văn gồm nhiều thể loại, 1 tập hồi ký Nhưng phải gần 150 năm sau khi ông mất,người ta mới biết đến ông nhiều hơn với tư cách như một nhà canh tân khi các tác phẩm của ông được dịch và

giới thiệu lần đầu trong cuốn“Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”,xuất

bản năm 1990, do Nhóm Trà Lĩnh sưu tầm khảo cứu, Nhà xuất bản Tổng hợp

TP Hồ Chí Minh ấn hành Từ Phan Bội Châu, người đầu tiên bàn đến Đặng Huy Trứ, cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình nghiên

Trang 6

cứu về Đặng Huy Trứ cùng những tư tưởng canh tân của ông Song, các nghiên cứu đó chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử học, lịch sử tư tưởng, hoặc đề cập đến tư tưởng của ông với quy mô một bài báo chuyên ngành, hoặc đặt trong một nghiên cứu chungchứ chưa thành một hệ thống đầy đủ về những tư

tưởng canh tân củaông Chính vì vậy, học viên lựa chọn vấn đề “Tư tưởng canh tân của Đặng HuyTrứ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ triết

học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đặng Huy Trứ được người đương thời đánh giá cao về tài thơ văn.Ông

để lại một khối lượng lớn tác phẩm thơ văn viết bằng chữHán Cho đến nay các tác phẩm của ông vẫn chưa được dịch hết sang chữ quốc ngữ vì vậy việc nghiên cứu tư tưởng của ông còn gặp nhiều khó khăn Với lý do đó thể có thể coi những công trình sưu tầm, biên dịch, giới thiệu tác phẩm của ông là những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học, có ý nghĩa quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo Đáng chú ý là những công trình tiêu biểu sau đây:

Trước hết là các cuốn:“Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”, được

xuất bản lần đầu năm 1990, do nhóm Trà Lĩnh dày công sưu tập và khảo cứu, nhân dịp kỷ niệm 165 ngày sinh củaông (1825 - 1990) Công trình này đi sâu vào tiểu sử và di thảo, cung cấp những tư liệu phong phú về tư tưởngcủa Đặng Huy Trứ thông qua các bài thơ, bài văn, câu đối được ông viết từ khi 15 tuổi cho đến những ngày cuối đời Tác phẩm nàyđã cung cấp nhiều thông tin quan trọng về cuộc đời củaông như hai lầnđi sứ nước ngoài, tiếp xúc với khoa học văn minh phương Tây, phong trào cải cách của các nước…cũng như những tâm tư, tình cảm và quyết tâm thực hiện canh tân củaông trước những biến động của thời cuộc

Trang 7

Ngoài ra còn có tác phẩm “Cưỡi sóng đạp gió” của tác giả Hoàng Công

Khanh xuất bản năm 2001 tập trung chi tiết hơn vào cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ thông qua các giai đoạn như đi học, thi cử, dạy học, làm quan, đi sứ, chiến đấu Qua tác phẩm này, ta biết được Đặng Huy Trứ là người giàu tình cảm, chân thành.Các đề xuất canh tân của ông rất ít nhưng là những gì có thể làm được, phù hợp với điều kiện đất nước và nằm trong khả năng thực tế của ông

Nhờ những công trình này mà ta biết được những băn khoăn, trăn trở

và chí hướng của Đặng Huy Trứ Tuy nhiên, với tính cách là công trình sưu tầm, giới thiệu tác phẩm cũng như cuộc đời và sự nghiệpnên những tư tưởng của ông trong các tác phẩm đó chưa được nghiên cứu, phân tích theo từng nội dung tư tưởng, chưa đạt tới tính hệ thống cao

Tư tưởng Đặng Huy Trứcònđược nghiên cứu, giới thiệu trong các công

trình lịch sử tư tưởng và sử học như:“Lịch sử tư tưởng Việt Nam”(Công trình

Kỷ niệm 35 năm thành lập Viện Triết học (1962- 1997)), tập 2, do Lê Sỹ

Thắng chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1997 – tác giảđã dànhChương XV để viết về tư tưởng của Đặng Huy Trứ Còn trong

cuốn“Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam- Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế

kỷ XX”do Doãn Chính chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm

2013 thì những tư tưởng củaông đã được trình bày, phân tích trongChương IV: Tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Trong những công trình này, các tác giả đã trình bày một cách khái quát những nét chính trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ nhưng chưa đi sâu làm rõ những điều kiện, tiền đề cho việchình thành cũng như những nội dung, giá trị, và ý nghĩa trong

tư tưởng canh tân của ông

Trang 8

Gần đây, trong không khí của công cuộc đổi mới, những nghiên cứu về

tư tưởng Đặng Huy Trứ được thực hiện nhiều hơn, đa dạng hơn, với một số

công trình có tính chuyên đề như:“Kỷ yếu hội thảo khoa học danh nhân Đặng Huy Trứ”của Đại học Huế năm 2000;“Đặng Huy Trứ tư tưởng vànhân cách”do Đặng Việt Ngoạn biênsoạn(công trình tuyển chọn một số bài viết,

nghiên cứu về Đặng Huy Trứ đã được công bố và chưa công bố của các tác giả như Vũ Khiêu, Phạm Tuấn Khánh,Thanh Đạm, Vũ Đình Liên, Hoàng Công Khanh, Lê Thị Lan…).Các công trình này đã tập hợp những nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả khác nhau về nhiều nội dung khác nhau trong tư tưởng Đặng Huy Trứ như giá trị nhân văn, “chữ Nhân” hay Phật giáo trong thơ văn Đặng Huy Trứ, những trăn trở của ông đối với phong tục, tập quán

của nhân dân, thái độ của ông với quỷ thần… Cuốn“Tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ” của tác giả Cao Xuân Long, xuất bản năm 2016,đi sâu vào

quan điểm về thế giới, về nhân sinh và chính trị - xã hội của Đặng Huy Trứ

Ngoài ra còncó nhiều bài viết trên các báo và tạp chí khoa họccủa các

tác giảnhư: Đỗ Thị Hòa Hới (2000) với bài viết “Tư tưởng Đặng Huy Trứ với Nho giáo triều Nguyễn” trên Tạp chí Triết học, Tập 118 (số 6); Lê Thị Lan (2001), “Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong thơ văn Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Triết học, Tập 121 (số 3); Nguyễn Hữu Tâm (2001), “Nho giáo trong tâm thức và hành xử củaĐặng Huy Trứ”, Tạp chí Hán Nôm(số 2); Trần Thị Băng Thanh (2001), “Những bóng dáng 'con người bé nhỏ' dưới ngòi bút Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Hán Nôm, Tập 48 (số 3); Nguyễn Nam Thắng (2004), “Tư tưởng yêu nước trên lập trường canh tân của Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Triết học(số 5); Tảo Trang (1997), “Đức tính dũng trong thơ văn Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Hán nôm, Tập 31 (số 2); Phước Trung (2006), “Doanh nhân Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Thương mại(số 4); Trần Đại Vinh (1994), “Đặng Huy Trứ

và những trăn trở đổi mới về phong tục, tập quán tín ngưỡng của nhân

Trang 9

dân”,Tạp chí Văn hóa dân gian, Tập 47 (số 3); Trương Thị Yến (1996),

“Đặng Huy Trứ và những hoạt động của ông trong lĩnh vực thương nghiệp thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tập 284 (số 1)…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp, thơ văn của Đặng Huy Trứ và đều có đề cập đến những

tư tưởng canh tân củaông song chưa tập trung chuyên sâu nghiên cứu nguồn gốc hình thành và trình bày một cách hệ thống nhữngnội dung cơ bản Do đó luận văn nàysẽ hệ thống và khái quát hóa những kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước đồng thời vận dụng những kết quả ấy vào việc nghiên cứu

và làm rõ hơn những tư tưởng canh tân,tiên tiến của Đặng Huy Trứ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn

Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hóa,làm sáng tỏ nguồn gốc, nội dung

tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ; trên cơ sở đó rút ra những nhận xét về

giá trị, hạn chếcủa tưtưởng canh tân của ông

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn

sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Phântích làm sáng tỏ những điều kiện, tiền đề cho sự xuất hiện tư tưởng canh tâncủa Đặng Huy Trứ

- Chỉ ra nhữngnội dung tư tưởng canh tân của ông

- Rút ra những giá trị cũng như hạn chế trong tư tưởng canh tân củaĐặng Huy Trứ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn

Đối tượng nghiên cứu:Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu vào cuộc

đời hoạt động và các tác phẩm của Đặng Huy Trứ thông qua các tác phẩm đã

được xuất bản bằng tiếng Việt tại Việt Nam mà chủ yếu là “Đặng Dịch Trai ngôn hành lục”, “Từ thụ yếu quy”,và những di thảo được dịch trong cuốn“Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn

Cơ sở lý luận: Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận

của chủ nghĩa Mác - Lênin,tư tưởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng

Cộng Sản Việt Nam về tư tưởng văn hóa, đổimới…

- Luận văn kế thừa những thành tựu khoa học của các công trình đã công bốvề tư tưởng Đặng Huy Trứ và các vấn đề liên quan đến đề tài

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật

biện chứng của triết học Mác –Lênin đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phântích,tổng hợp, thống nhất giữa lịch sử và

logic,hệ thống và cấu trúc…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn cung cấp một cách hệ thống nội dung tư

tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ;chỉ ra giá trị, hạn chế, ý nghĩa tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ trong lịch sử tư tưởng dân tộc

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho

việc nghiên cứu, học tập môn lịch sử tư tưởng Việt Nam và những đối tượng khác quan tâm đến đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn gồm 2 chương 7 tiết

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

1.1 Những điều kiện lịch sử thế giới và Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

1.1.1 Điều kiện lịch sửthế giới nửa cuối thế kỷ XIX

Ở phương Tây, vào nửa cuối thế kỷ XIX, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, chủ nghĩa tư bảnđã có sự phát triển vượt bậcchuyển từ

tư bản tự do sang tư bản đế quốc Nhữngbiến đổi trên nhiều mặttrong xã hội

tư bản như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội v.v đã tác độngrấtlớn đến tình hình thế giới và Việt Nam

Bằng việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, chủ nghĩa

tư bảnđãthúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng Nhằmthu được lợi nhuận nhiều hơn vàmở rộng thị trường, các nước tư bảnđã bành trướng và

mở rộng thuộcđịa sang các nước khác Đến cuối thế kỷ XIX, một số nước tư bảnđã nhanh chóng trở thành chủ nghĩa đế quốc, liên kết với nhau đi xâm lược các nước châuÁ, châu Phi và Mỹ Latinh trong đó có Việt Nam Vào nửa cuối thế kỷ XIX, Anh xâm lược Ba Tư và Ấn Độ, can thiệp vào Xiêm (Thái Lan) Triều Tiên dần biến thành nước nửa thuộc địa của Mỹ Tại khu vực Đông Nam Á, Inđônêxia trở thành thuộc địa của HàLan.Mỹ và Tây Ban Nha chiếm đóng Philippin Lào, Campuchia, Việt Nam thì bị Pháp xâm chiếm

Đối với Nhật Bản, cuối thế kỷ XIX, đất nước này phải đối mặt với tình trạng đối đầu với nhiều cuộc xâm lăng của các nước đế quốc như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Mỹ, Anh Từ năm 1853 đến năm 1856, Mỹ dùng

vũ lực, ngoại giao ép Nhật Bản phải ký vào hiệp ước Hoành Tân cho phép Mỹ

tự do buôn bán và được hưởng nhiều quyền lợi về kinh tế Sau đó, một loạt các hiệp ước tương tự cũng được Nhật ký với các nước Anh, Pháp, Hà Lan,

Trang 12

Nga Đứng trước vấn đề này, “Nhật cũng lấy đấy làm nhục, có kẻ đề nghị quyết chiến với Hoa Kỳ Các phiên hầu (cũng như lãnh chúa ở châu Âu thời trung cổ) nhìn xa hơn, nghĩ muốn thắng Âu, Mỹ thì phải có kỹ nghệ, binh bị như Âu, Mỹ, nghĩa là phải Âu hóa đã Muốn duy tân để Âu hóa phải lật đổ Mạc phủ, tôn vua lên để thống nhất quốc gia, vì vậy họ dùng khẩu hiệu “Tôn quân, diệt di (di tức là Âu - Mỹ), phản Mạc”[31, tr.18] Theo đó, trước áp lực đòi hỏi phải Âu hóa để có sức mạnh lật đổ Âu, Mỹ và sức ép của chủ nghĩa đế quốc, Mutsuhitô đã lật đổ chế độ cũ là chế độ Mạc phủ, lên ngôi năm 1868, lấy niên hiệu là Thiên hoàng Minh Trị (Mêiji) Khi đã nắm quyền lực trong tay, ông đã thực hiện nhiều cuộc cải cách Và với những chính sách duy tân của mình, Nhật Bản đã nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc về mọi mặt.

Tại Trung Quốc, từ sau cuộc chiến tranh nha phiến (1840), Trung Quốc rơi vào tình trạng của một nước nửa thuộc địa, chấp nhận mở cửa, tự do thương mại, giao thương với nước ngoài, nhượng lại một số địa bàn cho phương Tây, cắt hẳn Hương Cảng cho Anh Giai cấp phong kiến không còn đảm đương nổi trọng trách của quốc gia Lúc này tại Trung Quốc xuất hiện các cuộc vận động học tập phương Tây, gọi là “Dương vụ vận động” của một

số nhà cầm quyền triều đình phong kiến nhà Thanh như Dịch Tố, Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương… Họ chủ trương sử dụng một số kỹ thuật sản xuất của chủ nghĩa tư bản phương Tây để duy trì chế độ phong kiến, gửi nhiều học sinh đi du học ở nước ngoài.Ngoài ra còn có xu hướng củamột số sĩ phu yêu nước, tiến bộ chủ trương khai phóng, mở cửa học tập khoa học – kỹ thuật của phương Tây; cải cách kinh tế, chính trị, xã hội, học thuật.Tiêu biểu như Hồng

Tú Toàn với phong trào Thái bình thiên quốc nhằm lật đổ triều đại phong kiến

Mãn Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội

Trang 13

Tại Xiêm (Thái Lan), mặc dù bị Anh và Pháp can thiệp nhưng những người đứng đầu đất nước đã nhanh nhạy trong việc nhận định tình hình, thấy trước nguy cơ bị phương Tây xâm lược nên đã tiến hành cải cách đất nước Bắt đầu từ Vua Ra-ma IV (Mông-kút từ năm 1851-1868) đến Vua Ra-ma V (1868- 1910), hàng loạt chính sách đổi mới được thực hiện như mở cửa giao thương với nước ngoài, khuyến khích phát triển kinh tế, cải cách theo khuôn mẫu phương Tây nhưng vẫn giữ ngôi vua, xóa bỏ chế độ nô lệ, giải phóng người lao động, thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh và Pháp để lựa chiều có lợi cho việc giữ chủ quyền đất nước

Đến cuối thế kỷ XIX, trừ Nhật Bản và Thái Lan,hàng loạt các nước châu Á đã trở thành thuộc địa hoặc bán thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây, trong đó có Việt Nam.Như vậy, tình hình thế giới nổi bật thời kỳ này là sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây sang các nước châu Á

Tuy nhiên, sự xâm lược, đô hộ tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đã tạo nên mâu thuẫn gay gắt trong lòng các dân tộc thuộc địa, làm cho tinh thần yêu nước của các dân tộc đó dâng cao hơn bao giờ hết; ý thức dân tộc của họ cũng bộc lộ rõ ràng, quyết liệt hơn; các nhân sĩ được dịp phản tỉnh, đi tìm kiếm con đường cứu nước đúng đắn hơn Mặt khác, cùng với quá trình nói trên thì sự xâm nhập, ảnh hưởng của các tư tưởng tự do, dân chủ, dân quyền từ các nước phương Tây vào các nước phương Đông đã làm xuất hiện một xu hướng gần như lan tỏa khắp châu Á Đó là những nỗ lực canh tân, đổi mới đất nước khi

bị chủ nghĩa thực dân gây hấn xâm lược

Khi bị thực dân Pháp xâm chiếm và tình hình thế giới tác động buộcViệt Nam phải tiếp nhậntrong tình thế vô cùng bị động Đặc biệt là khi nhu cầu được giải phóng ngày càng mãnh liệt thì những biến động mạnh mẽ

Trang 14

của các nước trong phạm vi châu Á như cuộc vận động duy tân của Nhật Bản (1868), các cuộc vận động đổi mới của Trung Quốc đã tác động rất lớn, thúc đẩy hình thành tư tưởng canh tân trong lòng xã hội Việt Nam.Bằng các con đường sứ giả, thương nhân tư tưởng tư sản và tư tưởng canh tân của các nhà

tư tưởng nước ngoài đã từng bước xâm nhập vào Việt Nam Hơn ai hết, những bậc trí thức, đặc biệt là những người có điều kiện tiếp xúc với các nước tiên tiến, là những người đầu tiên tiếp thu những tư tưởng mới đó Đặng Huy Trứ, với trình độ học vấn và vị trí trong quan trường của mình,đã có nhiều cơ hội được đi giao lưu học hỏi nước ngoài.Ôngsớmlà một trong những người Việt Nam may mắn có cơ hội tiếp xúc với văn minh phương Tây, tư tưởng canh tân tiến bộ của các nước châuÁnên có điều kiện để nhận thức được tình trạng trì trệ, lạc hậu của đất nước mình, nhìn thấy rõ nguy cơ mất nước, để từ

đó đề xuất tư tưởng canh tân của mình

1.1.2 Điều kiện lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

* Về chính trị:

Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược,Việt Nam vẫn là một nước phong kiến lạc hậu, đời sống nhân dân hết sức khó khăn; các chính sách cai trị truyền thống của triều Nguyễn lúc bấy giờ đã tỏ ra bất lực trước sự biến đổi của thời cuộc Các vị vua triều Nguyễn từ Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883)đều duy trì nền chính trị phong kiến trung ương tập quyền, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị Khi Pháp chính thức xâm lược Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn đã bất lực trong việc lãnh đạo dân tộc tiến hành kháng chiến: Từ chỗ bế quan tỏa cảng để ngăn chặn đến chỗ phải cắt các tỉnh Nam Bộ cho Pháp, để hàng hóa của Pháp thâm nhập vào Việt Nam Năm 1883 và 1884 Hiệp ước Hác-măng

và hiệp ước Pa-tơ-nốt được ký kết giữa triều đình nhà Nguyễn với thực dân

Trang 15

Pháp đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của chế độ phong kiến; quân Pháp có mặt

và đặt ách cai trị trực tiếp trên khắp đất nước ta

Về tình hình đất nước lúc bấy giờ Đặng Huy Trứ đã nhậnđịnh:

“Trướcđóđịa hạt này nhiều năm lụt lội, quân dân khổcực Giặc giãở Tây Bắc

lại nổi lên Phía tả ngạn sông Nhị hà, phía tây sông Hát giang, giặc tụ tậpđông như ong, như kiến, tràn tới bađạoTừ Liêm chỉ cách tỉnh thành chừng vài dặm

Mấy vạn sinh linh ở ngoại thành nơm nớp lo về nạn binh đao.Các giới sĩ, nông, công thương đều không yên tâm làm ăn” [29, tr 361].Bên cạnhđó thì

“bọn phỉđiên cuồng, cam tâm chôn vùi hết lương tri Lúc đầu thìô hợp không còn gì bằng nhưng rồi ngày càng hung ác hơn cú diều Nơi biên khu phần nhiều lạiđút tay vào túi mà thế giặc thì nguy cấp như cháy đến lông mày” [29,

tr 241].Thật là một tình cảnh đáng xót xa

* Về kinh tế:

Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với chính sách “trọng nông ức thương” tiếp tục được nhà Nguyễn duy trì.Các chính sách đẩy mạnh nông nghiệp của triều đìnhmặc dù đã được cố gắng thi hành nhưng không hiệu quả.Công thương nghiệpkhôngcó chính sách khuyến khích phát triển thỏa đáng.Thương nghiệp thì bị ức chế:“đối nội thì cấm bán lúa gạo từ tỉnh này sang tỉnh khác, lại thường trưng dụng thuyền buôn của tư nhân Đối ngoại thì cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài.Nhà nước giữ độc quyền ngoại thương

và thi hành chính sách bế quan tỏa cảng”[44, tr 289].Toàn cảnh công thương

nghiệp là vô cùng ảm đạm Mặc dù trong lĩnh vực kinh tế, đã manh nha xuất hiện nhu cầu đổi mới như người Tây dương muốn thông thương để làm ăn nhưng nhà Nguyễn đã dập tắt bằng cách thi hành các chính sách bế quan tỏa cảng Khi thực dân Pháp xâm lược thì tư tưởng canh tân và bảo thủ giữa các sĩ phu yêu nước và triều đình mới trở thành một vấn đề lớn.Khi thực dân Pháp xâm lược, chúng thực hiện nhiều chính sách bóc lột, vơ vét của cảinhư độc

Trang 16

chiếm thị trường, mua rẻ nông phẩm của nhân dân, bán đắt các sản phẩm công nghiệp cho nhân dân; độc quyền ngoại thương, độc quyền các ngành kinh doanh quan trọng như khai thác mỏ, giao thông, làm muối, nấu rượu, ngân hàng; lợi dụng quyền thống trị về chính trị để duy trì bộ máy quan liêu, cường hào và những luật lệ, chính sách sưu thuế phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất, tạo ra các vùng sản xuất hàng xuất khẩu (cao su, cà phê, gạo…); tăng cường bóc lột tô thuế, sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công để tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt phục vụ cho các công trình khai thác thuộc địa của chúng.Và dù thực dân Pháp du nhập hình thức tư bản vào Việt Nam nhưng vẫn dựa vào chế độ phong kiến để thực hiện sự thống trị của

chúng

Khi nhậnđịnh vềtình hình kinh tế nói trên, Đặng Huy Trứ đã chua xót

mà viết rằngViệt Nam ta là “một dải đất chạy dọctheo bờ biển, mỗi năm thu nhập chỉđủ cung cấp cho việc chi tiêu Từ năm Mậu Ngọ (1858) đến nay, lũ lụt, hạn hán, bão tố, hoàng trùng, binh đao, tật dịch, chi phí ngày càng nhiều, tài chính ngày càng thiếu hụt Ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tườngở Nam Kỳ là những nơi tài nguyên nhiều, đấtđai rộng thìđã bị bọn Phú Lang Sa (Pháp) chiếmđóng, lại cònđòi bồi thường hàng năm những 28 vạn 8 nghìn lạng bạc…Cơ quan Tư nông cho biết công quỹ thiếu hụt”[29, tr 435-436]

Tác giảLê Sỹ Thắng, trong cuốnLịch sử tư tưởng Việt Nam, tập

II,nhậnđịnh rằng“Thế là toàn bộ nền kinh tế đều cần một cuộc cách mạng xã hội, nhưng trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam đình trệ lâu dài và khủng hoảng sâu sắc lại không có tiền đề kinh tế - xã hội cho một cuộc cách mạng như vậy Do đó, chỉ có thể và cần phải bắt đầu bằng những sự đổi mới Mà muốn đổi mới, trước hết phải đổi mới tư tưởng, từ bỏ những quan niệm bảo thủ, sai trái trong việc vạch ra chủ trương, đường lối phát triển kinh tế nói riêng và xây dựng xã hội nói chung”[44, tr 290]

Trang 17

* Về xã hội:

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Namđã có sự phân hóa giai cấp sâu sắc.Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa hai giai cấp: Giai cấpđịa chủ phong kiến nắm quyền thống trị gồm vua, quan,địa chủ vàgiai cấp nông dân cùng thợ thủ công, thương nhân, một số dân nghèo thành thị, lớp người bị lưu đày, nô tỳ cùng gia quyến sốngở các đồnđiền phải sống trong sự thống trị, bóc lột hà khắc.Sựáp bức, bóc lột hà khắc của giai cấp thống trị đã làm cho cáccuộc nổi dậy của nhân dân đã diễn ra khắp nơi trong cả nước.Khi chứng kiến cảnh này, Đặng Huy Trứ đã than rằng, “bọn côn đồ nhằm lúc sơ hở quấy nhiễu xóm thôn, một ngọn lửa thiêu trụi hơn bốn mươi nóc nhà Giọt nước sông xa khó làm sống lại con cá nằm trong vếtxe cạn, thành cháy làm vạ lây đến cá trong ao.Nhặt nhạnh cho vào túi, vào đẫy sau khi đám tro đã tàn, thôn ấpđiêu linh như vừa bị hạn lâu ngày”[29, tr 314].Có thể thấy rằng trong điều kiện xã hộiđó, với lập trường giai cấp của mình, Đặng Huy Trứ tuy đã nhận thấy những bất ổn trong xã hội nhưng không nhận thức được một cách đúng đắn mâu thuẫn cơ bản khách quan của xã hội Do vậy ông đã đi đến đề xuất giải pháp khắc phục có tính tình thếđó làkhẳngđịnh “dẹp trộm cướp, yên dân

lành là việc trọng yếu nhất”

Đến khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ của chúng đối với nước ta thì tình hình đã thay đổi căn bản và nhanh chóng Mâu thuẫn cơ bản trong xã hộigồm hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược; mâu thuẫngiữa nhân dân Việt Nam mà trước hết là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.Muốn đưa đất nước phát triển phải giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản trên và nhiệm vụ cấp bách hàng đầu là đấu tranh giành độc lập dân tộc Các phong trào yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX theo lập trường phong kiến, tư sản và tiểu tư sản đều không nhận thức đầy đủ yêu cầu lịch sử đó nên đã thất bại Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam,

Trang 18

dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ngay từ khi ra đời đã có đường lối cách mạng đúng đắn, xác định được hai mâu thuẫn cơ bản và đưa ra phương pháp giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn đó

Đặng Huy Trứ với tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc nhưng do lập trường phong kiến chi phối cũng đã không vượt qua được hạn chế chung của các chí sỹ đương thời.Con đường của ông tuy có khác - kết hợp canh tân

và chủ chiến - có những hạn chế cơ bản nhưng cũng có những hợp lý nhất định bởi dựng nước và giữ nước luôn là những nhiệm vụ song hành, không tách rời nhau Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định “Biết rằng lúc ấy xã hội Việt Nam chưa cấp bách đòi hỏi phải phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng công cuộc chống ngoại xâm lại cấp bách đòi hỏi phải duy tân, tự cường, bằng không, bằng trễ thì mất nước”[11, tr 53].Tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ vì thế mà có những giá trị lịch sử đáng trân trọng

* Tình hình giáo dục, thi cử và sử dụng Nho sĩ của thời Nguyễn:

Nhà vua, đặc biệt là Vua Gia Long, nhận thấy rằng vũ lực không đủ để thu phục nhân tâm Do đó, “các vua Nguyễn đều hết sức chú trọng đến việc học và thi, nghĩa là việc đào tạo và tuyển lựa nhân tài cho chế độ Họ đều nhận rõ vai trò trọng yếu của văn hóa, giáo dục, tư tưởng trong công việc củng cố chính quyền.Họ muốn, họ quyết làm như nhà Tống; tập trung mọi quyền hành, thống nhất chính trị, thống nhất tư tưởng”[11, tr 93-94]

Tuy nhiên, sự học của nhà Nho thời Nguyễn vẫn chỉ là căn cứ vào các chỉ thị của nhà vua, tác phẩm của các danh Nho đời trước Nho giáo với tứ thư, ngũ kinh vẫn là khuôn vàng thước ngọc của Nho học Việt Nam.Sự học

và thi kiểu thời ấy chỉ có thể đào tạo ra những nhà Nho rành thơ, thuộc sách nhưng cố chấp, bảo thủ, xa thực tế mà thôi.Với lối giáo dục, đào tạo như vậy, nhà Nguyễn luôn thiếu nhân tài giúp nước.Không chỉ thế, khi các tư tưởng đổi

Trang 19

mới, canh tân tràn vào Việt Nam, các nhà trí sĩ lại chỉ biết tiếng Hán, do đó chỉ có thể tiếp xúc với các tư tưởng mới qua sách báo được dịch của Trung Quốc Các học thuyết tiến bộ của phương Tây vì vậy, chỉ được tiếp cận một cách gián tiếp và bị ảnh hưởng khá nhiều thế giới quan của các học giả Trung Quốc

* Về tư tưởng văn hóa:

Vào thời kỳ này, Nho giáo giành vị trí độc tôn trong hệ tư tưởng chính thống Hệ thống giáo dục lạc hậu, không đào tạo khoa học kỹ thuật, chỉ giữ nguyên lối học Nho giáo xưa cũ, kém hiệu quả, không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Đó là một trong những nguyên nhân tạo nên tình trạng bảo thủ, trì

trệ, ít tinh thần đổi mới trong đội ngũ cầm quyền và trí thức Việt Nam

Nửa cuối thế kỷ XIX, tư duy dân tộc có điều kiện để mở rộng tầm nhìn đến phương Tây tư bản chủ nghĩa nhưng nó đã bị nhà Nguyễn hạn chế, cấm đoán Khi thực dân Pháp và các đoàn giáo sỹ nước ngoài vào Việt Nam họ đã đem theo những kiến thức khoa học kỹ thuật, lối sống, văn hóa và văn minh của họ vào nước ta Vì chỉ là những yếu tố phục vụ cho đời sống và hoạt động của người Tây, những yếu tố đó là không nhiều và ban đầu chỉ là ở những vùng bị chiếm đóng, nhưng ít nhiều chúng cũng đã tác động, gợi mở cho tư tưởngcanh tân của những nhà tư tưởng Việt Nam sau này Mặt khác, thời kỳ này lần đầu tiên nước ta có những sứ bộ sang Pháp, được tận mắt chứng kiến những văn minh phương Tây mà trước đó chỉ nghe nói Ngoài ra còn có các đoàn sang các nước Đông Nam Á để thu thập tin tức Đó là điều kiện tốt để tư tưởng canh tân có thể nảy sinh trong đội ngũ trí thức Nho học Việt Nam Những người có tư tưởng canh tân tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện

Nhưng sự tác động đan xen giữa tư tưởng truyền thống và tư tưởng canh tân của các nước cũng tạo nên cuộc đấu tranh gay gắt mà kết quả là

Trang 20

những tư tưởng canh tân thường không có tính triệt để và việc thực hiện chúng cũng rơi vào tình trạng nửa vời, không hiệu quả vì không có đủ nhân tài, vật lực và sự ủng hộ rộng rãi trong xã hội

Có thể nói, đi tìm nguyên nhân của sự xuất hiện muộn màng của những đổi mới, cải cách ở nước ta thì không thể tìm ở đâu khác ngoài sự kìm hãm, trói buộc của hệ tư tưởng phong kiến mà Nho giáo là nòng cốt.Hạn chế lớn nhất của Nho giáo đó là chỉ trọng nông nghiệp mà coi khinh công thương nghiệp, luôn coi xưa hơn nay, không chú trọng khoa học kỹ thuật.Sự bảo thủ cho sự hạn chếđó là tư tưởng “trọng vương khinh bá”, “nội hạ ngoại di”.Những nhà cầm quyền phong kiến Việt Nam bảo thủ cho rằng “các nước Tây dương là di, man di mọi rợ, dù chúng có tàu lửa súng đồng bởi vì chúng không theo đạo Nho, không biết đến Nghiêu, Thuấn, không nhận âm dương, không thờ tổ tiên, không cúng thần linh v.v Với bọn man di mọi rợ thì tất nhiên không phải học hỏi chúng nó, cũng không cần phải giao thiệp với chúng

nó, cứ bế quan tỏa cảng Không phải là triều đình Huế không thấy Tây phương hơn ta ở nhiều mặt đâu.Nhưng họ cho rằng Tây phương chỉ hơn về mặt kỹ xảo, mà kỹ xảo là phụ thuộc”[11, tr 379]

Như vậy những điều kiện lịch sử cho sự xuất hiện của tư tưởng canh tân ở nước ta hồi nửa sau thế kỷ XIX bao gồm những yếu tố sau đây:

Thứ nhất,mặc dù xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt nhưng trong lòng

xã hội phong kiến Việt Nam chưa đủ tiền đề kinh tế - xã hội cho một cuộc cách mạng lớn lao biến đổi tình trạng hiện tại Chính sự trì trệ lâu dài của tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trong nước, sự khủng hoảng, sụp đổ của chế độ phong kiến bảo thủ, những mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc đã khiến những căm phẫn, uất ức ngày càng bị dồn nén Sự xâm lăng, đô hộ củathực dân Pháp đã châm ngòi nổ cho sự bừng tỉnh của trí thức Việt Nam Xu hướng

Trang 21

canh tân, đổi mới xuất hiện là tất yếu Do đó, sau 5 năm kể từ ngày Pháp đánh

Đà Nẵng, những bài viết, kiến nghị canh tân đầu tiên đã được nêu ra Tuy Tự Đức và triều đình phong kiến đã chịu chấp nhận một số kiến nghị đổi mới nhưng vẫn chỉ coi đó là việc bất đắc dĩ, bởi lẽ tư tưởng Nho giáo thủ cựu bảo thủ vốn chỉ muốn xã hộibình yên luôn vây hãm hệ tư tưởng với những hạn hẹp của mình

Thứ hai, nhân tố rất quan trọng làm xuất hiện tư tưởng canh tân ở nước

ta là tư duy dân tộc bước đầu đã được mở rộng tầm nhìn đến phương Tây tư bản chủ nghĩa.Những thành viên của các sứ bộ được triều đình cử sang Pháp

để đàm phánđã trực tiếp được mắt thấy tai nghe về nền văn minh phương Tây, mặc dù chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”

Thứ ba, “là những nhân tố bên trong đất nước Nền văn hóa và văn minh phương Tây đã theo các đạo quân viễn chinh Pháp cùng với các khí tài quân sự của chúng, các đoàn giáo sỹ ngoại quốc cùng với kiến thức khoa học

kỹ thuật và các bộ kinh thánh, các thương nhân và lối sống của họ mà vào nước ta Nền văn hóa và văn minh ấy lại đã bước đầu đứng chân ở các vùng

bị chiếm đóng, đầu tiên là ở ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ, gợi mở cho tư tưởng canh tân”[44, tr 297]

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ

1.2.1 Tư tưởng truyền thống dân tộc

* Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam

Chủ nghĩa yêu nước là giá trị truyền thống hàng đầu của dân tộc Việt Nam, là giá trị tinh thần xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử dân tộc và trở thành

vũ khí tinh thần mạnh mẽ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Chính nhờ tinh thần yêu nước này mà dân tộc Việt Nam mới đứng vững và duy trì

Trang 22

được bản sắc dân tộc Đócũng là động cơ, nội lực bên trong thúc đẩy nhà tư tưởngĐặng Huy Trứ - một vị quan nhỏ giữa hàng ngàn những nhà cầm quyền bảo thủ, tìm tòi con đường và nỗ lực hành động nhằm canh tân, đổi mới để tạo sức mạnh chođất nước

Trước tình cảnh của nước nhà bịthực dân Pháp xâm chiếm phía Nam, quân phỉ quấy nhiễu phía Bắc, nhân dân đói khổ lầm than, ông không khỏichua xótmà viết rằng“Ngước mắt non sông tiều tụy quá Buồn sao xã tắc bấy trầm luân”[29, tr 533] Dù khiêm tốn vớivị trí quan nhỏ của mình, ông cũng không thể không thể hiện nỗi lòng mình đối với quê hương:“Gia đình tôi đời đời là nhà Nho, từ buổi nước nhàđạiđịnh, chịuơn nước đã bốn năm đời, mắt nhìn mọi nỗi khó khăn của thời buổi này mà chỉ biết khóc than Biên cương bị chiếm chưa khôi phụcđược thì đã có năm ba vị đại thần bàn tính, mưu sâu kế mật, tôi tư cách thấp, nhìn thiển cận, đâu dám nghĩ ra ngoài cương vị của mình Nghe cơ quan Tư nông cho biết công quỹ đã cạn, tôi tự xét mình đã đưa thân khuyển mã ra hết lòng làm việc may ra có ích chút nào chăng Nếu như không làm được việc “muối, sắt” như Quản Trọng, không làm được việc “địa lợi” như Lý Ly thì cũng xin học Bá Ích làm mậu dịch, học Lưu Án làm vận chuyển” “Sớm tối lo toan, đông tây rong ruổi, dầu thịt nát xương tan cũng không từnan”[29, tr 435-436]

Lòng yêu nước của Đặng Huy Trứ đó được thể hiện qua lòng căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng hy sinh vì đất nước: “Không đội trờichung với giặcđâu chỉ là lời thề suông? Nước cóđạo nên dám nói lời khác người.Lời viển vông,

sơ lược, nhưng nếu được đèn trời soi xét thì như hạt bụi liệu có thể báo được

ơn nước chăng?”[29, tr 226].“Khi có việc binh đao nguyện ra làm anh cai, anh đội Ném bút nghiên, dũng mãnh có thừa, đến với muôn vạn người.Gối giáo, nằm sương, chí đặt nơi giết quân thù.Lộ phí của nhàđem đi hơn 10 vạn, thảyđem giúp vào việc quân lương Ngồi trấn giữở cửa Ngô Tùng, một thân

Trang 23

làm thành lũy, sừng sững giữa dòng như cộtđá phá tan các lớp sóng kình Ai hay một thư sinh mà tự rèn tập lục thao, tam lược”[29, tr 339]

Truyền thống yêu nước ởông còn là tình yêu quê hương đấtnước, tự hào về truyền thống của dân tộc, được thể hiện qua các bài thơông viết về quê hương với hìnhảnh cây tre, bến nước, xóm làng yên bình:“làng xóm không ai canh gác, đêm gì vậy! Trong trăng thanh gió mát chỉ có ta và ngươi.Về toàn cục, chưa mở được khe suối, lòng không gợn, có thể nhìn thấu trời xanh.Đá reo sáo bạc, chim rừng ngủ, hang động hút làn sóng vàng, rùa nước nằm yên Mong sao xuân trên non sông mãi không già, ngày một cường kiện và hai hàng mi vẫn xanh”[29, tr 204] Cùng với đó là nhữnghình ảnh người nông dân cần cù chất phác, chăm chỉ làm lụng sớm hôm, vất vả trên đồng ruộng lúc sớm mai, thức khuya dậy sớm, ăn cơm lúc phải lên đèn, ra đồng khi còn chưa

rõ mặt nhau, nuôi lợn, nuôi gà, trồng rau, trồng khoai, chăn tằm Những người dân thuần hậuấyđã cùng nhau sinh sống, cùng nhau làm lụng, nương tựa vào nhau, giúp nhau tận tình, gắn kết tình làng nghĩa xóm.Họđã không chỉ nuôi dưỡng tình yêu quê hương cho Đặng Huy Trứ mà còn nuôi dưỡng cả lòng nhân ái, tình yêu thương con người sâu sắc trong ông

* Truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam:

Truyền thống nhân ái, yêu thương con người của dân tộc Việt Nam đã tạo nên một nền tảng vững chắc cho Đặng Huy Trứ trong việc nhận thức về nhân dân: Canh tân vì sự phát triển của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân

Ông dành tình thương cho mọi người từ người dânlao động nghèo khổ đến những người quân sĩ, thủy thủ chịu bao khó khăn khi làm nhiệm vụ Trong chuyến ra Đà Nẵng thị sát, ông muốn hiểu rõ cuộc sống thường nhật và tình cảnh các làng xã bị đạn pháo Tây dương tàn phá Lãnh binh Phạm Truật

đi cùng đãsốt ruột khi Đặng Huy Trứ liên tục hỏi thăm ông già bà cả, người bị

Trang 24

nạn.“Đặng Huy Trứ nhìn khuôn mặt vuông vuông chằn chặn như bánh trưng,

có đôi mắt sắc nhưng vô cảm, có lẽ đã quá quen với máu lửa chết chóc nên trở thành chai sạn.Có nên nói với ông ta một đôi điều phải trái hơn thiệt không? Pháp đài, hào lũy, thuyền bè đổ vỡ, mất mát thì có thểsửa chữa, bù đắp được

Có thể mất hết tất cả những thứ quý giá hơn nữa như vàng, bạc, ngọc ngà châu báu nhưng không đáng sợ bằng mất lòng người, đánh mất cả bản thân mình”[21, tr 16] Rồi khi chứng kiến những người thủy thủ của ta chịu cảnh rét mướt ngàyđêm học tậpở Hương Cảng, ông đã rất thương, bèn “bỏ ra 22 lạng bạc của công tìm mua 55 chiếcáo bông cộc và hẹp tay, phát cho mỗi người một chiếc”[29, tr 336] Hay khi quay trở lại Nam Định, chứng kiến cảnh khốn khổ của người dân, ông đã than rằng“Năm trướcđây, ta đã đến làm quan ở đất này, mà nay người và cảnh vậtđã tàn tạ như vẻ quáthu rồi Bao con côi, vợ góa, ngàn nhà kêu khóc; bao nhà đổ, thuyền trôi, muôn hộ buồn đau

Thương thay chi người dânđen gặp phảitai nạn này Lạ thay, thần bão muốn rửa mối thù chi?Ở Xuân Trường này, xưa ta có trách nhiệm gần dân, nhưng thẹn cho ta chưa lo tính được chút kế hay gì”[29, tr 416]

Đến chính gia đìnhông cũng có lúc khó khăn, phảiđi vay gạo thì đối với dânđen, tình cảnh cònđáng thương cỡ nào

“Ngoài kia kêu khóc bao ngườiđói,

Cám cảnh dân đen những chạnh lòng”[29, tr 529]

Trước tình cảnh đó, ông đã vậnđộng “mỗi nhà tự giảm bớt một phần cơm thì bốn năm đoàn dân đói có thể no lòng.Bát cháo trưa chỉ nhờ vào tấm lòng hậu hay bạc, lưng cơm hụm nước có thể cứu khỏi chết chóc”[29, tr 262]

* Những tư tưởng về đổi mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam:

Thực tế đã cho thấy, từ trước đến nay, nước ta luôn phải chịu những khó khăn do thiên tai, địch họa gây ra Lịch sử đã chứng minh rằng: dù đứng

Trang 25

trước những khó khăn thách thức như thế nào thì với tinh thần yêu nước mạnh

mẽ và tư duy linh hoạt, dân tộc ta luôn xuất hiện những trí thức tiến bộ, nhạy bén với thời cuộc.Họ luôn trăn trở suy tư để đưa ra những biện pháp nhằm giúp đất nước thoát khỏi cơn nguy khốn Dưới chế độ phong kiến Nho giáo, trước đó đã có những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần canh tân như Trần Thủ Độ, Hồ Quý Lý, Minh Mệnh… Tuy công cuộc canh tân của các vị đó không đạt được những thành quả lớn, không tạo ra được sự phát triển có tính cách mạng trong lịch sử dân tộc nhưng vẫn có giá trị lịch sử to lớn, có khả năng tác động, gợi mở, khuyến khíchxuất hiện tư tưởng canh tân ở các giai đoạn sau mà Đặng Huy Trứ cùng một số người cùng thời với ông đã tiếp thu

Vào thời của Đặng Huy Trứ, duy tân hay thủ cựu là vấn đề luôn được tranh cãi.“Trong hai mươi năm trời, từ 1862 cho đến 1882, lúc nào vấn đề duy tân hay thủ cựu cũng được đặt lên trên bàn nghị sự, bàn đi luận lại, kẻ bảo tới người bảo lùi, số khác bảo chờ xem, tư tưởng duy tân yếu ớt quá, tiến chậm quá, tư tưởng thủ cựu là phổ biến, là thâm căn cố đế Tư tưởng chính thống của triều đình là xưa hơn nay, nay thua xưa, quân tử làm chính sự phải theo phép cũ, phải thận trọng việc cải cách, trừ hại hơn hưng lợi…”[11, tr

369].Trong khi những ngườiủng hộ thủ cựu thì nhiều còncác nhân vật có tư

tưởng canh tân và các đề nghị canh tân thì quá ít Tiêu biểunhưPhạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Đinh Văn Điền…Những người có ảnh hưởng đến Đặng Huy Trứ vì thế cũng không

nhiều

Đầu tiên phải kể đến Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) Nếu “loại trừ những hạn chế hoặc sai lầm mà ông đã phạm phải… Nguyễn Trường Tộ xứng đáng được gọi là nhà tư tưởng lớn mở đầu cho lý luận canh tân ở nước ta”[44,

tr 388].Những bài viết kiến nghị canh tân của Nguyễn Trường Tộ được nêu

ra trong “Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ” (1863); bốn tác phẩm:

Trang 26

“Thiên hạ phân hợp đại thế luận”, “Dũ tài tế cấp luận”, “Giáo môn luận”, “Tế cấp bát điều” đã bàn về vấn đề cải cách học thuật bao gồm cải cách văn tự, cải cách xã hội bao gồm cải cách phong tục tập quán, cải cách kinh tế tài chính, cải cách chính trị và cải cách quân sự

Nguyễn Tuân Thúc(1823-1890) cũng để lại những gợi mở đáng quan tâm Năm 1867 ông đi sứ nhà Thanh vềđã dâng sớ xin mở rộng bang giao với các nước phương Tây và cử ngườiđi du học.Trần Đình Túc cũng đã có tư tưởng phát triển công thương qua việc dâng tờ tâu xin khai khẩn đất hoang ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị (1863, 1864) và xin khai mỏ sắt ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế (1867)

Phạm Phú Thứ (1821-1882) với những ghi chép về những thực tế diễn

ra trong chuyến tham gia sứ bộ do Phan Thanh Giản dẫn đầu sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1863) Tư tưởng của Phạm Phú Thứ vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực.Mặt tích cực là ông chủ trương học tập cái hay của phương Tây, còn mặt tiêu cực là ông đã một mực cho rằng điển lễ của Đại Thanh và Đại Nam đều đã có đủ sự tốt đẹp Chính vì tư tưởng bảo thủ vẫn chiếm ưu thế cho nên dẫn đến thái độ bất nhất của Phạm Phú Thứ, chần chừ, e ngại; lúc thì đề xuất, lúc lại phản bác việc canh tân “Phạm Phú Thứ cung cấp cho chúng ta một trường hợp điển hình của các nhà nho Việt Nam có tư tưởng canh tân một cách rụt rè hồi nửa cuối thế kỷ XIX”[44,

tr 331]

Trong Việt Nam quốc sử khảo (1908), Phan Bội Châuviếtrằng:“Những

năm cuối đời Tự Đức tân học chưa vào, đường biển chưa mở, nhưng đã có người bàn vềđại thể của thiên hạ, nói nên kết giao với Anh, Đức, không nên cứỷ lại vào Bắc triều, đã có người xin cử người xuất dương học binh pháp của Tâyâu: Thừa Thiên có Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ; Quảng Ngãi có

Trang 27

Nguyễn Đức Thuấn (Đặng Đức Tuấn?); Nghệ An có Nguyễn Trường Tộ Họ chính là những người trồng cái mầm khai hóa đầu tiên ở Việt Nam”[Theo 29,

tr 543]

Như vậy, có thể nói, Đặng Huy Trứ đãcó điều kiện thuận lợi khi được tiếpthu, kế thừa và học hỏirất nhiềunhững tư tưởng canh tân củathế hệđi trước

và những nhà tư tưởng tiến bộcùng thời

1.2.2 Văn minh phương Tây và tư tưởng canh tân của các nước châu Á

Xét tình hình của Việt Nam và nhận thức của bản thân, Đặng Huy Trứ đãsớm nhận thức được vai trò to lớn của khoa học kỹ thuật, và những hạn chế của việc thiếu hụt học tập khoa học kỹ thuật vì vậyông chủ trương học tập những kỹ nghệ và phương pháp của nước ngoài Ông có viết:“Thiên văn, toán học ta đều chưa biết hết nên sao hiểu được cơ trời để sớm lo toan cho dân Nay, năm nghìn trai gáiđã thành ra lửa kiếp, không còn nữa và trăm vạn của công, của tư đều biến thành xác vờ.Chim ô thước còn khôn hơn ta để biết dời

tổ, chim viên cư còn thông minh hơn ta để lánh biển.Trải qua việc, mới biết tài học ta nông cạn.Văn chương có bao giờ chống nổi gió bão” [29, tr 271]

Vì vậy, ông cũng chính là người đầu tiên cóý định sang phương Tây học hỏi

kỹ thuật máyảnh Trong bài “Đề bứcảnh mặc triều phục” ông đã viết: “Trông

ra đủ mũáo, nhưng cũng là mìnhđây! Bác Lýđã nghĩ sẵn trong lòng cách miêu tả.Nàng Quách không phân biệt được đâu là bức vẽ trước, đâu là bức vẽ sau.Chàng Trang cũng khó biếtđâu là tôi ngày nay vàđâu là tôi ngày trước.Nếuđem chuyện Thiệu Bá xưa ra nói thì chính tích khi làm tuần tuyên thật chẳng được chút gì.Nhưng cái lo, cái nhục của lòng người bề tôi là quyết tiêu diệt giặc Một điểm trong tim tôi, anh có biết không?”.Chính vì thế mà ông muốn“sang Tây vực để vẽ bức tranh toàn cảnh”[29, tr 343]

Trang 28

Không chỉở phương Tây, sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào canh tân ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư, Cao Ly đã có sự tác động lớn đối với sự hình thành, phát triển tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ Chính trong lần sang sứ Trung Quốc, sau khi được nghe về các trào lưu tư tưởng mới tại đây, ông đã rùng mình và thán rằng“Quả thật trướcđây, tôi không tính toán được như vậy, chỉ tính việc nhỏ nhặtđã cho là tận tâm với phần việc của mình Nay được Tôn ông thẳng thắn khiến tôi đột nhiên bệnh tình giảm nhẹ, hơn cả Tần Thái Hư được xem bức tranh Võng xuyên đồ của Vương Ma Cật vậy!”[29, tr 438].

Với cương vị của mình, Đặng Huy Trứ đã từng nhiều lần đi sứ và công cán ở nước ngoài, được trực tiếp nhìn thấy và trải nghiệm văn minh phương Tây, đặc biệt là được tiếp xúc với những trào lưu canh tân của các nước láng giềng Chính những thành công và thất bại của các nước đó đã thôi thúc ông đưa ra những đề xuất để canh tân, tự cường tự trị chođất nước của mình

Đối với Nhật Bản, trướcáp lực đòi hỏi phảiÂu hóa đểcó sức mạnh lật đổÂu, Mỹ và sứcép của chủ nghĩa đế quốc, Thiên hoàng Minh Trị (Mêiji) đã thực hiện nhiều cuộc cải cách như tập trung quyền lực vàý chí tập thể về tay Thiên hoàng; mọi lãnhđịa được trao trả về cho Thiên hoàng, các lãnh chúađaimyô, các võ sĩ samurai từđây trở thành thường dân; phát triển giáo dục, khuyến khích học tập trong nước, mời các nhà khoa học nước ngoài về dạy, gửi ngườiđi nước ngoài du học để về xây dựng đất nước Trong thời gian rất ngắn, khoảng ba chục năm, các sĩ phu đều hăng hái học tập phương Tây, dịch sáchÂu, Mỹ, nghiên cứu chính thể kỹ nghệ Chính phủđón thầyÂu dạy học cho dân: kỹ sư Anh dạy cách cất đường xe lửa vàđóng tàu, người Pháp dạy về luật và binh bị, giáo sư Đức dạy về y học và hóa học, nhà chuyên môn Hoa Kỳ tổ chức giáo dục, các nghị sĩÝ thì dạyâm nhạc vàđiêu khắc Bằng

Trang 29

những chính sách duy tân của mình, Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc về mọi mặt như kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quân sự

Khi nhận định về Nhật Bản, Đặng Huy Trứ đã viết: “nước Nhật Bản ở biển Đông là nước nhỏ không đáng kể cũng vì biết căm phẫn mà trở thành hùng cường”[29, tr.437].Theo ông, đây là một nước đáng học hỏi với rất nhiều bài học kinh nghiệm đáng quý.Những thành công của họ là chính là sự

cổ vũ mạnh mẽ nhất cho phong trào duy tân ở Việt Nam

Tại Trung Quốc, vào cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ Trung Quốc đã đề xuất những chủ trương duy tân nhằm thay đổi tình hình

Tiêu biểu như Hồng Tú Toàn với phong tràoThái bình thiên quốcnhằm lật đổ

triềuđại phong kiến Mãn Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội, xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của phong kiến, chia đều cho dân cày, xây dựng một xã hội không có người bóc lột người

Một số vị quan triều đình nhà Thanh cũng có tư tưởng đổi mới như Dung Hoành sang Tây dương mua máy móc lập xưởng gang thép; Lý Hồng Chương lập cục cơ khí ở Thượng Hải, chọn lính thuộc doanh ở kinh đến học tập; Tả Tôn Đường lập cục dạy nghề, tuyển thanh thiếu niên thông minh, mời người phương Tây đến dạy ngôn ngữ, khoa học để làm cơ sở cho việc chế tạo

cơ khí đóng thuyền…Khi xem xét phong trào duy tân của Trung Quốc, Đặng Huy Trứ đã cho rằng sở dĩ nước Thanh giảng hòa với các nước xâm lược là

để “quân dân được tạm nghỉ hơi lấy sức, chứ các bậc vua thánh, tướng tài thì vẫn ngày đêm trù tính mưu toan Phàm việc giáo huấn, tích trữ tài lực để phá tan lũ giặc thì một ngày cũng không quên”[29, tr.436]

Tính đến thời điểmcuối thời Tự Đức, tân học chưa vào Việt Nam Tân thư, tân văn chưa phổ biến Đối với ông, tân thư là những sách mới, báo mới phân biệt với các sách cũ như kinh, truyện, sử… Nho học.Các sách này dịch

Trang 30

các tác phẩm của các nhà tư tưởng châu Âu như Voltaire, J.J Rousseau, Denis Diderot…, giới thiệu phong trào canh tân ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ba Tư… với tinh thần phê phán những những lạc hậu của chế độ cũ và nêu cao tinh thần học hỏi những điều mới của văn minh phương Tây Trong quá trình đi

sứ, đi thám phòng dương tình, ông đã may mắn tiếp cận được với những tài liệu này và rất mong muốn được mang chúng về Việt Nam Trong tác phẩm

Bệnh trung đắc Dã trì chủ nhân tứ giá, thi dĩ chí chi, ông viết:“Tất cả các

cách để tự cường, tự trị của các nước đều cóđăng rải rác trên các tờ Thiên tân kinh báo và trên tuần san Quảng Châu bằng tiếng Trung Quốc và tiếng nước ngoài Ghi chép lại, thu thập cho hết, không bỏ sótđiều gì rồi đệ trình lên nhà vua và báo cáo với các vịđại thần Cái gì dùng được thì dùng, một hạt bụi, một giọt nước dù nhỏ trong muôn một cũng có thể góp vào núi cao, biển cả”[29, tr 438].Ngoài việc sưu tập những tài liệu quý báu trên, ông lúc nàychỉ mong khi đi công cán về “đem được một bồ Tân thư và soạn được mấy phẩm

đề như Hàn Tín và Tống Dịch Thanh”[29, tr 417] Đúng là một tâm hồn trong sáng, cách làm đơn giản, không khoa trương, rối rắm như một số đại biểu khác Điều đó làm nên nét riêng biệt, đáng trân trọng ở con người cũng như tư tưởng của ông

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Đặng Huy Trứ

1.3.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ

Đặng Huy Trứ sinh ngày 16 tháng 5 năm 1825 mất ngày 7 tháng 8 năm

1874, tự là Hoàng Trung, hiệu là Vọng Tân, Tỉnh Trai Ông sinh ra trong một gia đình Nho học ở làng Thanh Lương (nay thuộc xã Hương Xuân), huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông nội và cha của ông đều làm nghề dạy học Ngay từ nhỏ Đặng Huy Trứ đã nổi tiếng thông minh, lanh lợi; 15 tuổi đã bắt đầu làm thơ, đến năm 18 tuổi thì thi đỗ cử nhân

Trang 31

Nguyín khoa thi Hội năm 1847, ông trúng câch (tức đậu Tiến sĩ) nhưng quan độc quyển lă Hă Duy Phiín phât hiện băi thi ông viết có cđu “Gia hại chi miíu” (hại lúa tốt) như vậy lă phạm húy văo tín lăng vua (lăng Gia Miíu, tỉnh Thanh Hóa) nín ông bị đânh hỏng vă bị truất cả bằng cử nhđn đậu từ năm

1843 Sau khi đi dạy học nơi nhă một vị quan lớn, cảm vì tăi học của Đặng Huy Trứ, ông quan lớn ấy tđu vua xin cho ông thi lại vẵngđê đỗ Hương nguyín Thế lă trước sau ông thi đỗ hai lần cử nhđn, một lần Tiến sĩ

Năm 1856, thực dđn Phâp bắt đầu can thiệp văo Việt Nam Đặng Huy Trứ được cửđi lăm quđn thứ.Kể từđó, ông chính thức ra lăm quan Năm 1858, ông được cử lăm Nhiếp việnấn vụ phủ Quảng Hóa, rồi sau đó lăm Tri huyện Quảng Xương (Thanh Hóa), Tri phủ Thiín Trường (Nam Định) Đầu năm

1861, ông được gọi về kinh đô Huếlăm Hăn lđm viện trước tâc rồi Ngự sửvă

ra mắt vua Tự Đức Khi đó, ông đê có những đề xuất canh tđn gửi lín vua nhưng không được chấp thuận.Năm 1864, ông được bổ lăm Bố chânh Quảng Nam.Hai năm sau ông được cử lăm Biện lý bộ Hộ, ra Hă Nội phụ trâch Ty Bình Chuẩn lo việc kinh tế cho triềuđình.“Ông tích cực phục vụ dđn nghỉo, xin đặt ra Ty Bình Chuẩn, khi đầu mùa thì nhă nước mua lúa tăng trữ, khi mất mùa thì đem bân rẻ cho dđn Vua Tự Đức nghe theo vă giao ông trâch nhiệm điều khiển nhđn viín trong Ty ấy”[52, tr 28]

Thâng 5 năm 1865, ông được lệnhđi sứ lần đầu tiín tại QuảngĐông, Trung Quốc.Đến năm 1867, ông lại được cửđi Hương Cảng, Ma Cao với mụcđích lă “thâm phòng dương tình”.Vốn thông minh, lại có chức vụ trong triều đình, Đặng Huy Trứ có điều kiện đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều đối tượng khâc nhau nín ông có được vốn tri thức cũng như tầm tư duy sđu rộng hơn người Đặc biệt lă hai lần sang Quảng Đông, Trung Quốc khảo sât thực

tế, thăm dò tin tức cho triều đình đê giúp ông có điều kiện hoăn chỉnh câc tư

Trang 32

tưởng đổi mới của mình Có thể nói sự nghiệp quan trường của ông đều nhằm mục đích canh tân đất nước

Cuối năm 1868, Đặng Huy Trứ về nước trong tình cảnh nước nhà vô cùng khó khăn, 6 tỉnh miền Nam rơi vào tay Pháp, ông ở lại miền Bắc làm công tác quân sự, ông giữ chức Bang biện quân vụ Lạng-Bằng-Ninh-Thái (1871), lãnh đạo quân dân Bắc Ninh, Thái Nguyên đánh Pháp xâm lược ở các tỉnh thượng và trung du Bắc Kì Đến năm 1873, giặc Phápđánh ra Bắc, Đặng Huy Trứ lâm bệnh, rút về căn cứ Đồn Vàng – Hưng Hóa cùng Hoàng Kế Viêm tính chuyện kháng cự lâu dài với giặc Đến tháng 3 năm 1874, Vua Tự Đức ký hàng ước - Hòa ước GiápThân, thì tháng 8 Đặng Huy Trứ qua đời

Đương thời, trong những ngày đầu chống Pháp,ông là một trong những người điển hình của phái chủ chiến nhưng có đầu óc đổi mới, tiến bộ nên chủ trương của ông có nét đặc sắc là canh tân để tạo sức mạnh cho đất nước, tự cường dân tộc để có sức mạnh chống giặc ngoại xâm và mang lại cuộc sống

ấm no cho nhân dân

Những điều kiện kinh tế xã hội, tiền đề văn hóa tư tưởng nói trên cùng với cuộc đời hoạt động, nhữngphẩm chất và khả năng tư duy sắc sảo ở Đặng Huy Trứ đãhội đủ những yếu tố cần thiết cho sự hình thành, phát triểnnhững

tư tưởng canh tân đổi mới.Những yếu tố đó vừa là cơ sở tạo nên những giá trị tích cực trong tư tưởng của ông nhưng cũng đồng thời quy định những hạn chế trong đó

1.3.2 Khái quát về tác phẩm của Đặng Huy Trứ

Đặng Huy Trứ để lại di sản thơ văn khá đồ sộ Có thể kể đến các tác

phẩm lớn như: “Đặng Dịch Trai ngôn hành lục”- nhữngghi chép lời nói và

việc làm của cha ông- Đặng Dịch Trai, truyền lại cho con cháu đọc và suy

Trang 33

ngẫm; “Từ thụ yếu quy”-viết năm 1867 - tác phẩm kinh điển viết về nạn hối

lộ, tham nhũng và đức thanh liêm của người làm quan

Ông còn có nhiều tác phẩm có giá trị khác.Các tác phẩm “Kim thang tá chử thập nhị trù” và “Kỷ sự tân biên” là hai cuốn binh thưbiên dịch từ các tác phẩm của Trung quốc và Việt Nam “Sách học vấn tân”- dạy về phương pháp làm văn.“Vũ kinh trích chú”- những chú thích, hiệu đính bộ sách về nghề võ

Bộ “Hoài sơn viên Vũ kinh vựng giải”,“Nhĩ hoàng di ái lục”- sách ghi lại một

số việc làm đáng ca ngợi của bác Đặng Huy Trứ là Đặng Văn Hòa v.v Ông

còn là tác giả của các bộ “Tứ thập bát hiếu kỉ sự tân biên”, “Khang Hi canh chức đồ”, “Tứ thư văn uyển”, “Bách duyệt tập”, “Hoàng Trung thi văn”,

“Nhị vị tập”, “Tùng chinh di quy”, “Đông Nam tập mĩ lục”, “Nữ giới diễn ca”, “Việt sử thánh huấn diễn nghĩa”, hiệu đính “Đại nam quốc sử diễn ca”

v.v

Ngoài ra, một số bài thơ, văn ngắn và ghi chú của ông được dịch và

biên soạn trong cuốn “Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm” Trong tuyển

tập này, các tác phẩm của ông nhìn chung được được chia thành hai giai đoạn như sau:

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, các tác phẩm của ông chủ yếu viết

về tình yêu quê hương, đất nước trên nền tảng của hệ tư tưởng Nho giáo

như“Cá trong bình”, “Vịnh hoa”, “Trăng sáng chiếu rặng tùng”, “Ánh sáng ban mai trên đồng”, “Trong thuyền ngắm mặt trời mọc”… Thể hiện tình yêu thương đồng cảm với con người, với người dân lao động như “Thấy ông lão vác than”, “Nỗi đau khổ của cha mẹ tôi khi tôi chào đời”…Thể hiện tình yêu

quê hương đất nước qua lòng căm thù giặc sâu sắc và phê phán những thói hư

tật xấu, mê tín dị đoan của một số bộ phận dân chúng như “Mụ rí gọi hồn”…

Trang 34

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm của ông là lòng yêu nước nhưng được thể hiện qua mong muốn đuổi được giặc Pháp vàđất nước được tự lực, tự cường thông qua phát triển sức mạnh kinh tế, khoa học kỹ thuật Tư tưởng đó thể hiện trong các tác phẩm

như:“Trong khi ốm được Dã trì chủ nhân chỉ giáo”, “Tự thuật của Tỉnh Trai”, “Khai trương công việc ở Bình Chuẩn”, “Theo hầu Bố chánh Hoàng

Kế Viêm đi thử pháo” …

Trong tác phẩmĐối sách ở Viện Tả thị lậu được ông viết vào tháng 2

năm 1861 nhằm trả lời cho vấn đề mà vua Tự Đức đặt ra, đó là làm sao đủ lương thực, đủ binh lực để có thể sớm đuổi được giặc Tây? Đặng Huy Trứ đã thể hiện lập trường “không đội trờichung với giặc”

Tác phẩmTrong khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo, viết vào năm

1867, là tác phẩm hư cấu về một cuộc nói chuyện thân mật giữa Đặng Huy Trứ với người chủ nhà có tên Dã Trì về vai trò, nội dung, phương pháp… tự cường, tự trịở các nước trên thế giới Tác phẩmnàyđánh dấu sự chuyển biến trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ về con đường giải phóng dân tộc, con đường tự lực tự cườngđi lên tự giải phóng mình của đất nước

Kể từđây trởđi, chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm và hành động của Đặng Huy Trứ là cụ thể hóa vấn đề tự cường trự trị trong các lĩnh vực kinh tế,

quân sự, đạo đức, tư tưởng… Các tác phẩmRăn không uống rượu (Phú giới tửu), Răn không hút thuốc phiện (Phú giới mê yên), Răn không cờ bạc, Răn không chơi bời, được Đặng Huy Trứ viết vào năm 1868 nhằm thức tỉnh mọi

người tránh xa những thói hư, tật xấu, những tệ nạn trong cuộc sống để tự cường về thân thể, trí tuệ, đạo đức nhằm giúp cho đất nước ngày càng mạnh lên, đi đến giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng con người.Có thể thấyở giai đoạn này, tưtưởng yêu nước củaông đã biến thành hành động

Trang 35

cụ thể trong những đề xuất canh tân nhằm xây dựng tiềm lực về con người, kinh tế, quân sự để phát triển đất nước

Kết luận chương 1

Như vậy, trong bối cảnh đầy biến động của nửa cuối thế kỷ XIX khi mà chính quyền nhà Nguyễn không còn có khả năng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xã hội thì chính sự xâm lược của thực dân Pháp đã đặt ra yêu cầu buộc các nhà tư tưởng phải đưa ra những phương hướng, tư tưởng cải cách để giải quyết tình hình nguy cấp của đất nước lúc bấy giờ Với sự tiếp xúc với văn minh phương Tây, các tư tưởng canh tân nước ngoài cùng với các tiền đề

cơ bản như tinh thần đổi mới, truyền thống yêu nước và năng lực tư duy của bản thân, những tư tưởng canh tân đầy mới mẻ và sáng tạo của Đặng Huy Trứ

đã được hình thành và phát triển

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ

TƯỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

2.1 Tư tưởng canh tân về đường lối giữ nước và quân sự

Canh tân trước hết là vấn đề tư tưởng vì nó phải bắt đầu từ tư tưởng, mặc dù xét về nguyên tắc, mọi tư tưởng đều có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan.Không có tư tưởng canh tân thì không có các chủ trương và đề nghị canh tân cụ thể.Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội có một lĩnh vực

mà không được sửa đổi thì những canh tân chỉ là điều không tưởng, không được thực hiện hoặc bị hạn chế.Đó là lĩnh vực thể chế chính trị bên trong của đấtnước.Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Đặng Huy Trứ là người theo hướng chủ chiến kết hợp với canh tân đất nước Đối với ông, trong cuộc đời

có nhiều nỗi khổ, nhưng đau khổ lớn nhất là đất đai Tổ quốc bị chiếm đóng, nhân dân đói khát, quốc gia cạn kiệt, triều đình không đủ sức bảo vệ đất nước Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam có nhiều người viết về “cái Khổ” nhưng đến

Trang 36

ông, cái khổ không còn là cái khổ của riêng cá nhân nữa mà gắn liền với cái khổ của dân tộc, của nhân dân.Vì thế, ông cương quyết đứng về phía nhân dân

để chiến đấu chống quân xâm lược Pháp

Cùng thời với ông, trừ ông và Nguyễn Lộ Trạch, các nhà canh tân khác đều thuộc phái chủ hòa Những người theo phái chủ chiến đương thời có Tán

lý Nguyễn Duy, Bố chánh Khánh Hòa Nguyễn Đăng Hành, Hàn lâm thị độc Phạm Hinh, Tri phủ Phú Bình Doãn Chính, Binh bộ Biện lý Ông Ích Khiêm, Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn… nhưng các ông này không cùng tư tưởng canh tân với Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch Việc kết hợp chủ chiến với canh tân, thực chất là canh tân để có sức mạnh tiến hành kháng chiến, đã tạo nên nét đặc sắc trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ

2.1.1 Tư tưởng canh tân về đường lối giữ nước

Đặng Huy Trứ là một vị quan dưới thời Tự Đức, chịu sự ân sủng của nhà Nguyễn, do đó mối quan hệ giữa trung quân và ái quốc được ông giải quyết theo hướng đặt lòng yêu nước lên trên nhưng vẫn không lên án nhà vua

mà kiên định đề nghị và tự mình thực hiện canh tân nhằm giúp vua, giúp nước Tư tưởng và hành động của ông minh chứng cho sự giằng xé giữa trung quân với yêu nước, thương dân Cuối cùng, ông đã giải quyết các mối quan hệ

ấy theo cách của mình, thống nhất được trong nhận thức và tư tưởng cả chủ trương kháng chiến lẫn tư tưởng canh tân để phát triển Chính vì vậy, đường lối giữ nước của ông có phần đúng đắn hơn so với đường lối của các chí sĩ đương thời

Trong bài“Đề bức ảnh mặc triều phục”,Đặng Huy Trứ tự đánh giá rằng

nếu đem chuyện Thiệu Bá, chuyện xưa ra nói thì chính tích khi làm tuần tuyên thật chẳng được chút gì Nhưng ở ông, cái lo, cái suy nghĩ nung nấu nhất của người làm bề tôi trong cảnh nước mất, nhà tan, quân vương chịu

Trang 37

nhục đã hiện hữu đó là quyết tiêu diệt giặc Nếu thấy rằng, ông hơn hẳn hầu hết những người đương thời là ở chỗnhận thức được ưu thế của kẻ thù là văn minh và sức mạnh thìđiềuông luôn khắc khoải trong tim “muốn sang Tây vực

để vẽ bức tranh toàn cảnh”, để từđó có thể tìm được con đườngđúng đắn nhất giúpích cho đất nước là rất dễ hiểu

Tư tưởng chủ chiến củaông cònthể hiện qua những áng văn chương sau:

tr 482-483]

Quyết không đội trờichung với giặc, không chủ hòa như các vịđại thần khác, ông chủ chiến Hầu hết những người chủ chiến khác chỉ biết đến kháng Pháp mà không rõ kháng Pháp bằng sức mạnh nào.Khác với họ, ông muốn canh tân để tạo ra sức mạnh chống giặc chứ không chỉ mong cậy vào tinh thần yêu nước, trung quân.Trong đótư tưởng nổi bật và xuyên suốt là “tư tưởng tự

cường tự trị”.Tư tưởng đóthể hiện rõ trong bài “Bệnh trung đắc Dã Trì chủ nhân tứ giáo, thi dĩ chí chi” (Trong khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo, làm thơ ghi lại).Mệnh đề chính được nêu lên là “Muốn hả lòng căm phẫn ư?Dùng kế tự cường, tự trị, dần dần khôi phục, đó là thượng sách”

Trong bài này ông nêu lên những kinh nghiệm tự cường, tự trịcủa các nước khác như Trung Quốc, Ba Tư, Cao Ly, Nhật Bản để vận dụng vào Việt

Trang 38

Nam Theo ông, những kinh nghiệm đó là: sang phương Tây mua máy móc, lập xưởng gang thép, lập cục cơ khí…; Chế tạo súng, giáo dục nhân dân, làm cho lòng người vững như thành…; Nghiêm cấm thương gia nước ngoài mua

rẻ bán đắt và lợi dụng việc thương mại để do thám; luyện tập võ nghệ, tuyển thanh thiếu niên tuấn tú sang học tại nước ngoài… So vớicác nhà tư tưởng đương thời hoặc là theo khuynh hướng bảo thủ, nhu nhược, đầu hàng, chấp nhận bị đô hộ hoặc là lệ thuộc, trông chờ nước ngoài đem lại tự do cho dân tộc thìđây cũng là nét đặc sắc tiến bộ của Đặng Huy Trứ

Ông phân tích về sự “giảng hòa” của nước Thanh là để quân dân tạm nghỉ, để từđó có thể cóđiều kiện để phát triển khoa học, kỹ thuật, giáo dục, ngoại giao, quân sự, kinh tế… Theo ông, nước ta lúc nàyđang trong tình trạng trì trệ, và cónhiềusự tương đồng với nước Thanh Do đó ta nên học hỏi kinh nghiệm của họ, đoàn kết, phát huy sức mạnh của dân tộc, tiếpthu nền giáo dục, khoa học, kỹ thuật tiến bộ trên thế giới, lựa chọn những ngườitài đức để phục vụ đất nước

Khi tìm hiểu chiến thắng của Ba Tư trước sự xâm lược củaÁo, ông cho rằng, đó là do Ba Tưđã biết tự lực, tự cường Ông chỉ rõ: “Nước này biết đầutư thỏađáng cho sự phát triển khoa học - kỹ thuật, giáo dục – trí tuệ, đạo đức, đặc biệt là lòng yêu nước cho nhân dân, mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới nên đã có những thành tựu to lớn, đáng ngưỡng mộ Họđã chế được loại súng bắn nhanh, lại khéo giáo dục dân chúng, lòng người vững như thành, hiện cùng với nước Nga hùng mạnh kết thành liên minh mạnh nhất châuÂu”[31, tr 129]

Nước Cao Ly thìcấm Hoa thương mua rẻ bán đắt, tích trữ hàng hóa không được nhập cảnh.Người trong nước tự ý mua hàng của Hoa thương lập

Trang 39

tức bị trừng trị Nghiêm cấm như vậy là để cho người ngoài không dò thám Nước Cao Ly sở dĩ tự cường tự trị là nhờ vậy

Còn nước Nhật Bản, ông coi là nước nhỏ không đáng kể nhưng cũng vì biết căm phẫn mà trở thành hùng cường “Trong lục nghệ thì họ bỏ cung tên

mà chuyên tập múa kiếm; cưỡi ngựa thì dạy “tọa tác tiến thoái”; bắn súng thì dạy “thí phóng túng kích”; thủy quân thì tập giỏi cả 2 việc đi tàu và bắn súng; lái tàu thì dạy kỹ thuật hàng hải Trước đây, chính phủ Giang Hộ (Tokyo) tuyển những con em tuấn tú từ 12 đến 22 tuổi được khoảng 14 người cho sang

“Luân đôn học hiệu” của nước Anh, học chữ Anh, ăn mặc theo như người châu Âu, cắt tóc, cầm can, sĩ quan đeo lon năm vạch kim tuyến trên tay áo, chỉ khác là bên hông đeo thêm thanh kiếm mà thôi Những người này đều thông thạo ngôn ngữ, văn tự nước Anh Đốc lý thuyền vụ là Tướng quân Trung-tân-vạn-thứ-lang thông minh, lanh lợi lại có khả năng bao quát mọi việc và rành rõi những vấn đề mấu chốt tinh vi Nước ấy nay đã có trên 80 chiếc chiến thuyền, vài năm nữa chắc sẽ đủ hơn Trong nước có 260 chư hầu, nhân Triều Tiên bỏ lệnăm năm triều cống một lần, nhà vua liền ra chiếu chỉ mời các chư hầu đến kinh đô Giang Hộ bàn việc chỉnh đốn võ bị để hỏi về tội không cống tiến.Nước Nhật Bản sở dĩ tự cường, tự trị là nhờ vậy”[29, tr 437-438]

Từ những thành tựu của các nước trên trong quá trình canh tân, cải cách, ông càng thêm tin tưởng vào đường lối tự cường tự trị Ông cho rằng, nên dựa vào sức mình, tiếpthuđiều mới mẻ, tiến bộ trên thế giới Thực trạng hiện nay là rất khó để thực hiện canh tân, tự cường, tự trị vìđất nước đang rối ren vì bọn thực dân xâm lược xa lạ, quan lại triềuđình thì chần chừ không chịu lắng nghe: “bọn quỷ trắngđâu chịu nghe những lời thiện, mà ta cũng không thể để mất nhân dân và đấtđai được Trong triều không thiếu những vị quan to, áo xanh, áo tía thực là một sự giúp rập lớn, ấy là chưa kể văn thân

Trang 40

của ba tỉnh thì chưa thể biết được.Trông cậy nước Anh ư, không thể được, vì như vậy chẳng khác gì rước chó sói vào cửa sau”[29, tr 390] Do đó, theoôngtự cường tự trị phải thực hiện từng bước và tập trung triển khai ở hai lĩnh vực kinh tế và quân sự

2.1.2 Tư tưởng canh tân về quân sự

Đặng Huy Trứ đặc biệt coi trọng lĩnh vực quân sự, quốc phòng.Ông từng viết “cày cấy và canh cửi là gốc của cơm áo.Nam học cầy bừa, nữ học cửi canh, không sợđói rét vậy!Nhưng nếu không hiểu việc binh để giữ lấy, thì

dù có thừa thóc trong kho, thừa vải trên khung cửi cũng bị kẻđịch lấyđi”[29,

tr 506].Điểm nổi bật trong tư tưởng về quân sự củaĐặng Huy Trứ là đặt cơ sở

tư tưởng chiến tranh nhân dân cho mọi vấn đề chiến lược.Theo ông“quân đội

là nanh vuốt có quan hệ đến sự thắng bại, nhưng nhân dân mới là huyết mạch quyết định sự an nguy của đất nước Từ xưa, nhân hòa là điều quan trọng bậc nhất, thiên thời, địa lợi cũng từ đó mà sinh ra”[29, tr 190]

Ông khẳngđịnh “dân là gốc của nước, là chủ của thần”, “khí mạch của nước là lấy dân làm gốc”[29, tr 284], nhân dân có sức mạnh lớn lao “dân ta

đủ sức xoay trời lại, chẳngđáng khoe chi chuyện vá trời”[29, tr.526] Do đó, trong chính sáchcai trị đất nước, quân sự phải chúý đến yếu tố nhân hòa:

“Nhân dân, huyết mạchđịnh an nguy

Tự cổ “nhân hòa” xem trọng nhất

Mới ra địa lợi với thiên thì”[29, tr 529]

“Nhân hòa” làđiều quan trọng nhất, do đóông tiếp tụcđề cao tinh thầnđoàn kết, nhất trí một lòng trong sự nghiệpđánh giặc giữ nước: “trên dưới đồng lòng mong cùng nhau cứu nước, thì dám nói rằng một chân, một tay cũngđủ giúp rập cho công việc”[29, tr 373].Ngoài ra, ông còn quan tâm đến vấn đề thống nhất dân tộc, thu phục nhân tâm các tộc người thiểu số Ông xin

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2002
2. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2002
3. Trương Bá Cần (1998), Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
5. Doãn Chính (chủ biên) (2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam:Từ thời dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam:Từ thời dựng nước đến đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
6. Doãn Chính,Trương Văn Chung(đồng chủ biên) (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính,Trương Văn Chung(đồng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia
Năm: 2005
7. Doãn Chính - Phạm Đào Thịnh (2007), Quá trình chuyển biến tư tưởngchính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêubiểu, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển biến tư tưởngchính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêubiểu
Tác giả: Doãn Chính - Phạm Đào Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
8. Phan Đại Doãn (chủ biên) (1998), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
9. Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (2006), Tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập các tư tưởng Đông – Tây nửa đầu thế kỷ XX, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập các tư tưởng Đông – Tây nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
10. A Chước Đen (2013), Đặng Huy Trứ Nhà tri thức chân chính của dân tộc và thời đại, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Huy Trứ Nhà tri thức chân chính của dân tộc và thời đại
Tác giả: A Chước Đen
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2013
11. Trần Văn Giàu (1997), Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam (Từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám), tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam (Từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám)
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Trần Văn Giàu (1973), Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam (Từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám), tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam (Từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám)
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1973
13. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
14. Trần Thị Hạnh (2012), Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
15. Nguyễn Hải (2008), Chuyện nhà giáo,Tập I, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện nhà giáo
Tác giả: Nguyễn Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Vũ Văn Gầu (2002), Đại cương tư tưởng triết học Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương tư tưởng triết học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Vũ Văn Gầu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2002
17. Hoàng Văn Hiển (2000), Vấn đề tiếp thu văn hóa phương Tây của Trung Quốc và Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Hoàng Văn Hiển
Năm: 2000
18. Đỗ Thị Hòa Hới (2000), Tư tưởng Đặng Huy Trứ với Nho giáo triều Nguyễn thế kỷ XIX, Tạp chí Triết học, Tập 118 (số 6), tr.25-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Thị Hòa Hới
Năm: 2000
19. Đỗ Thị Hòa Hới (1995), Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm của ý thức cộng đồng và ý thức độc lập tự chủ trong lịch sử tư tưởng dân tộc, Tạp chí Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Thị Hòa Hới
Năm: 1995
20. Đỗ Thị Hòa Hới (1997), Mấy đặc điểm tư tưởng của các nhà Nho duy tân Việt Nam đầu thế kỷ XX qua tìm hiểu cái nhìn phương Tây của họ, Tạp chí Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Thị Hòa Hới
Năm: 1997
21. Hoàng Công Khanh (2001), Cưỡi sóng đạp gió, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cưỡi sóng đạp gió
Tác giả: Hoàng Công Khanh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w