1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập Luật hình sự có hướng dẫn updated 12.2017

50 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 75,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hướng dẫn:Theo Điều 19 của BLHS năm 2015 quy định: Người nào biết rõ tội phạm đang đượcchuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịutrách nhiệm hìn

Trang 1

BÀI TẬP LUẬT HÌNH SỰ

1.Văn bản hợp nhất Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực từ 01/01/2018

VPQH-2017-Bo-luat-Hinh-su-363655.aspx

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Van-ban-hop-nhat-01-VBHN-2 Nghị quyết 41/2017/NQ-QH VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ SỐ 100/2015/QH13 ĐÃ ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

hanh-Bo-luat-Hinh-su-100-2015-QH13-duoc-sua-doi-tai-12-2017-QH14-353900.aspxLưu ý: Tình huống được định hình giải quyết theo BLHS 2015

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-41-2017-QH14-thi-BT1:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/6/2017, các đối tượng Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị H,Phạm Thị T, Nguyễn Văn T, Đặng Trần K, Bùi Văn L, Nguyễn Văn E lần lượt đến nhà ởcủa Vũ Thị Q chơi và rủ nhau chơi đánh bạc, Vũ Thị Q là chủ nhà, chuẩn bị bài tú-lơ-khơ, bài chắn Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày Q, H, C và K rủ nhau đánh bạc dướihình thức chơi “tá lả” sát phạt nhau bằng tiền Đến khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, thìNguyễn Văn A đến và cùng T, L, E tiếp tục rủ nhau tạo thành một chiếu đánh bạc khácdưới hình thức chơi “chắn” sát phạt nhau bằng tiền Quá trình đánh bạc, các đối tượngthỏa thuận trong khi đánh bạc nếu có người nào “ù gà” sẽ bỏ ra số tiền 50.000 đồng để Qmua bài, phục vụ ăn uống và hưởng số tiền còn lại Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, trongkhi Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị H, Đặng Trần K, Vũ Thị Q đang đánh bạc dưới hìnhthức chơi “tá lả” sát phạt nhau bằng tiền thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu tạichiếu bạc: số tiền 4.220.000 đồng, 01 bộ bài tú-lơ-khơ gồm 52 quân Đồng thời, thu tạichiếu bạc của Nguyễn Văn A, Bùi Văn L, Nguyễn Văn T và Phạm Thị T đang đánh bạcdưới hình thức chơi “chắn” sát phạt nhau bằng tiền gồm: 01 bộ bài chắn gồm 100 quân và

số tiền 9.050.000 đồng

(Các đối tượng đều chưa có tiền án, tiền sự)

Trang 2

Hỏi: Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị H, Đặng Trần K, Vũ Thị Q,Nguyễn Văn A, Bùi Văn L, Nguyễn Văn T và Phạm Thị T ngày 01/6/2017 có cấu thànhtội đánh bạc hay không? Tại sao?

2015 và Khoản 3, Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 , khoản 1 Điều 321 BLHSnăm 2015 thì số tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc phải có giá trị từ 5.000.000 đồng trởlên (hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng người thực hiện hành vi đánh bạc này phải là:người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, gábạc hoặc bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc của Bộ luật này, chưađược xóa án tích mà còn vi phạm) mới cấu thành tội đánh bạc Trong trường hợp nàyNguyễn Văn C, Nguyễn Thị H, Đặng Trần K đều chưa có tiền án tiền sự và số tiền dùng

“Điều 2 Về một số quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự

1 Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau đây là “với quy môlớn”:

a) Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lênhoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.”;

Và theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 322 BLHS năm 2015:

Trang 3

“Điều 322 Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1 Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau,thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05năm:

a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 ngườiđánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiệnvật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;”

Thì Hành vi của Vũ Thị Q đã phạm tội tổ chức đánh bạc

BT:

Do thường xuyên bị mất trộm hoa quả trong vườn nhà nên Hoàng Tuyên H đã dùng dâykim loại trần mắc quanh vườn nhà mình và đấu nối với điện sinh hoạt nhằm ngăn chặn sựxâm nhập từ bên ngoài vào Mỗi góc vường H có treo biển cảnh báo nguy hiểm và thôngbáo với hàng xóm xung quanh Ngày 15/5/2017, chị Đào Thị B đang có thai 04 tháng tuổi

ở xã bên cạnh đi làm về Khi đi sát vườn nhà H thì bị điện giật chết do chạm vào dây điện

mà H giăng ở quanh vườn

Hỏi: Với tình huống trên thì H có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì, theo điềukhoản nào của BLHS? Tại sao?

“Điều 32 Nghiêm cấm các hành vi vi phạm các quy định về an toàn điện sau đây:

1 Sử dụng điện làm phương tiện để bảo vệ tài sản cá nhân hoặc phục vụ cho mục đích khác gây nguy hiểm cho người, động vật, môi trường sống, gây sự cố làm thiệt hại tài sản Nhà nước, tài sản công dân như: chống trộm, bẫy chuột, đánh cá, bảo vệ hoa màu.”

Khi H dùng dây kim loại trần mắc quanh vườn nhà mình nối với điện sinh hoạt nhằmngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài vào trộm cắp hoa quả, H biết việc mắc điện trongtrường hợp này là nguy hiểm đến tính mạng con người (thể hiện ở việc H có treo biểncảnh báo nguy hiểm và thông báo với hàng xóm xung quanh)

Trang 4

H quấn dây quanh vườn nhà để chống trộm là đã nhằm vào đối tượng là con người, mặc

dù không nhằm vào người cụ thể nào và không mong muốn cho hậu quả chết người xảy

ra nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra và trên thực tế chị B đang có thai 04 thángtuổi ở xã bên cạnh đi đánh bắt cua cá khi đến sát vườn nhà H thì bị điện giật chết dochạm vào dây điện mà C giăng ở quanh vườn

Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của TANDTC về việc giải đáp các vấn

đề nghiệp vụ hướng dẫn: đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp

mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người

Do vậy, Trong trường hợp này H phạm tội Giết người với lỗi cố ý gián tiếp H khôngnhằm trực tiếp vào chị B, không biết chị B có thai nên không phạm tội thuộc trường hợpquy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 BLHS (“Giết phụ nữ mà biết là có thai”) Do đóhành vi giết người của H phạm tội theo quy định tại khoản 2 Điều 123

BT:

Ngày 12/5/2017 (lần2) Nguyễn Văn A cùng với Lường Văn B, Lò Văn C, Trần Văn Dđang cùng nhau đánh bạc (chơi bài lá ăn tiền) thì bị công an huyện H phát hiện bắt quảtang, thu giữ tại chiếu bạc 55 triệu đồng (VNĐ) Qua đấu tranh mở rộng đã xác định ngày21/4/2017 (lần 1) cả 4 người(A,B,C,D) cùng với Lò Văn E cũng đánh bạc với hình thứctrên với tổng số tiền thắng thua là 4,6 triệu đồng (VNĐ)

Hỏi: Theo quy định của luật hiện hành anh, chị hãy giải quyết vụ việc trên

Hướng dẫn:

- HV đánh bạc lần1: Trị giá tiền đánh bạc là 4,6 triệu đồng theo BLHS năm 1999 thì đủmức TCTNHS nhưng theo BLHS năm 2015 thì chưa đủ mức TCTNHS Bởi lẽ:

+ BLHS năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018

Vì tội đánh bạc quy định tại Điều 321 của BLHS năm 2015 quy định giá trị đánh bạcđược thua bằng tiền từ 5 triệu đồng trở lên mới phải chịu TNHS về tội đánh bạc Ápdụng quy định có lợi cho người phạm tội thì lần đánh bạc này cả A,B,C,D, E đều khôngphạm tội đánh bạc

- Đối với lần 2 đánh bạc (55 triệu): Thì A, B, C, D đều phạm tội đánh bạc được quy địnhtại điểm b Khoản 2 Điều 248 BLHS năm 1999

Như vậy cần KTVA, KTBC đối với A, B, C, D về tội đánh bạc theo điểm b Khoản 2Điều 248 BLHS năm 1999 Đối với E không phạm tội đánh bạc, chuyển xử lý hànhchính

Trang 5

Ngày 29/9/2017, anh A và chị B đang ngồi chơi tại công viên M thì có C và D đến cóhành vi trêu đùa chị B nên anh A đã nói với C và D là đi chỗ khác thì C và D đã lao vàođấm đá vào người anh A Bị C và D tấn công dồn ép vào tường rào công viên nên anh Arút con dao nhọn đem theo người đâm 01 phát trúng vào đùi của C (hậu quả: trên đường

đi cấp cứu do mất nhiều máu nên C tử vong) Thấy vậy, D bỏ chạy đánh rơi chiếc ví tạihiện trường, anh A đã nhặt chiếc ví cất giữ (trong ví có giấy tờ tùy thân của D và12.500.000đ) Biết anh A nhặt được ví của mình nên D đã nhiều lần đến gặp anh A yêucầu được nhận lại chiếc ví cùng giấy tờ tùy thân và 12.500.000đ nhưng anh A cố tìnhkhông trả cho D và cũng không giao nộp chiếc ví cho cơ quan chức năng

Sau khi vụ việc xảy ra Cơ quan điều tra đã trưng cầu kết luận giám định thương tích đốivới A và D là 0%

Hỏi: Trong tình huống này những ai phạm tội? phạm tội gì? vì sao?

Hướng dẫn:

- Đối với hành vi của A dùng dao đâm vào đùi C, do mất nhiều máu nên dẫn đến hậu quả

C tử vong Nhưng do A bị C và D đấm đá vào người và dồn ép vào tường rào công viênnên A rút con dao nhọn đem theo người chỉ đâm 01 phát trúng vào đùi của C, không phảivùng trọng yếu trên cơ thể Hành vi đó của A phạm tội Cố ý gây thương tích do vượt quágiới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định tại khoản 1, Điều 136 BLHS 2015

- Đối với hành vi của A đã nhặt chiếc ví của D và đã cất giữ, D đã nhiều lần đến gặp Ayêu cầu được nhận lại chiếc ví cùng giấy tờ tùy thân và 12.500.000đ nhưng A cố tìnhkhông trả cho D và cũng không giao nộp chiếc ví cho cơ quan chức năng Hành vi nàycủa A cấu thành tội Chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 176 BLHS

- Đối với C, D: có hành vi đấm đá vào người A, hành vi đó của C và D là có lỗi, có dấuhiệu của tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 BLHS Tuy nhiên kết luận giámđịnh thương tích đối với A là 0% Do đó hành vi của C và D không cấu thành tội Cố ýgây thương tích Trong trường hợp này D bị xử phạt vi phạm hành vi xâm phạm trật tự trị

an còn C đã tử vong nên không đặt vấn đề xử lý

BT:

Ngày 18/8/2017 H cho 04 người A,B,C,D đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa tại nhà H Hkhông tham gia đánh bạc mà thu tiền của những người đến đánh bạc mỗi người 200.000đồng Trong khi 04 dối tượng đang đánh bạc thì bị bắt quả tang, số tiền thu trên chiếu bạc

là 22.000.000 đồng

Trang 6

Hỏi: Hành vi của H, A, B, C, D có phải là tội phạm không? Nếu có thì các đối tượng trênphạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự năm 2015?

Hướng dẫn:

- Hành vi của các đối tượng H, A, B, C, D là tội phạm

- Hành vi của H đã phạm vào tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sựnăm 2015 vì H đã cho (chứa chấp) 04 đối tượng A, B, C, D đánh bạc tại nhà mình để thutiền của mỗi người 200.000 đồng

- Hành vi của A, B, C, D đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321

Bộ luật hình sự năm 2015 vì số tiền thu được trên chiếu bạc (Số tiền dùng để đánh bạc) là22.000.000 đồng

BT:

Trong vụ án hủy hoại tài sản (do thù tức cá nhân bị cáo dùng thuốc trừ sâu đổ xuống hồthả cá của gia đình bị hại) Tại phiên tòa bị cáo tranh luận với Kiểm sát viên “Cơ quanđiều tra chỉ lấy mẫu nước trong hồ để giám định mà không lấy cá chết trong hồ để giámđịnh là không đúng Như vậy không có đủ cơ sở kết luận cá trong hồ là do ăn phải thuốcsâu dẫn đến bị nhiễm độc chết” là Kiểm sát viên, anh (chị) có quan điểm như thế nào với

ý kiến tranh luận trên của bị cáo?

Hướng dẫn:

Trong vụ án hủy hoại tài sản (do thù tức cá nhân bị cáo dùng thuốc trừ sâu đổ xuống hồthả cá của gia đình bị hại) Tại phiên tòa bị cáo tranh luận với Kiểm sát viên “Cơ quanđiều tra chỉ lấy mẫu nước trong hồ để giám định mà không lấy cá chết trong hồ để giámđịnh là không đúng Như vậy không có đủ cơ sở kết luận cá trong hồ là do ăn phải thuốcsâu dẫn đến bị nhiễm độc chết” là Kiểm sát viên, anh (chị) có quan điểm như thế nào với

ý kiến tranh luận trên của bị cáo?

BT:

Ngày 15/6/2017, ông A có hành vi bán trái phép 01 tép ma túy đá cho B với giá 500.000đồng thì bị bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy Quá trình điều tra cơquan công an phát hiện bố đẻ A là ông C cũng biết trước việc này

Hỏi: Anh chị hãy cho biết trường hợp này ông C có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

về tội không tố giác tội phạm không, căn cứ pháp luật

Trang 7

Hướng dẫn:

Theo Điều 19 của BLHS năm 2015 quy định: Người nào biết rõ tội phạm đang đượcchuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịutrách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tạiĐiều 389 của BLHS năm 2015 Tuy nhiên, Điều luật cũng quy định người không tố giác

là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội khôngphải chịu trách nhiệm theo quy định như trên, trừ trường hợp không tố giác các tội xâmphạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 củaBLHS năm 2015

Đối chiếu với quy định trên, ông C sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự do không tốgiác tội phạm là con đẻ của mình, hành vi của A chỉ thuộc vào tội phạm nghiêm trọng

BT:

Lúc 15 giờ ngày 03/3/2017, sau khi đi nhậu với bạn bè xong, Nguyễn Hoàng Anh – sinhnăm 1986 đi về nhà tại khu phố A, phường B, thành phố E, tỉnh C Khi thấy Anh đingang qua, cháu Hoàng Văn Lê – sinh năm 2012 ở sát nhà Anh đang ngồi chơi trò chơitrên điện thoại di động hiệu Iphone 5S của mẹ cho mượn thì có chạy ra đưa điện thoại diđộng trên nhờ Anh mở hộ khóa màn hình điện thoại di động Anh cầm lấy điện thoại diđộng cháu Lê đưa, bỏ vào túi áo rồi đi thẳng về nhà mình Sau khi lấy chiếc điện thoại diđộng trên từ cháu Lê, Anh mang về cất giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ của mình.Chị Lê Thị Anh Thư – sinh năm 1984 (là mẹ ruột cháu Lê) khi nghe Lê kể lại việc Anhlấy chiếc điện thoại di động thì có sang nhà Anh yêu cầu Anh trả lại nhưng Anh khôngthừa nhận việc đã lấy điện thoại di động từ cháu Lê Lúc 18 giờ cùng ngày, chị Thư đãđến công an phường B, thành phố E để trình báo sự việc trên Do lo sợ chị Thư đến công

an tố cáo nên sau khi chị Thư đi về, Anh đã đi khỏi nhà Trong khi đang đi lòng vòng trêncác tuyến đường của thành phố E thì Anh bị công an phường B phát hiện và mời về trụ sởlàm việc

Quá trình làm việc, Anh đã thừa nhận hành vi của mình

Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5S trên khi định giá tài sản có giá trị 3.500.000đồng Xác minh lý lịch, Anh có một tiền án về tội trộm cắp tài sản

Hỏi: Hành vi của Anh có phạm tội không? Nếu có thì vi phạm tội gì?

Hướng dẫn:

Trang 8

Nguyễn Hoàng Anh được cháu Lê đưa chiếc điện thoại di động nhờ mở khóa màn hìnhdùm Tuy nhiên, Anh không thực hiện mà có hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại trên vàmang về nhà cất giấu Khi chị Thư là mẹ cháu Lê có yêu cầu Anh trả lại tài sản nhưngAnh không thừa nhận việc đã chiếm đoạt chiếc điện thoại trên và không trả lại tài sản chochị Thư.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

- Về khách thể: hành vi của Anh đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của chịThư

- Về khách quan: Anh đã lợi dụng sự tin tưởng của cháu Lê khi được cháu Lê tự nguyệnđưa điện thoại di động nhờ mở khóa màn hình để chiếm đoạt tài sản và không thừa nhậnhành vi cũng như không đồng ý trả lại tài sản khi được chị Thư yêu cầu Giá trị tài sản tạithời điểm chiếm đoạt là 3.500.000 đồng

- Về chủ quan: Anh có hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản của chị Thư từ cháu Lê

- Về chủ thể: Anh sinh năm 1986, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có 01 tiền án về tộitrộm cắp tài sản

Qua phân tích trên, hành vi của Anh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015

BT

Khoảng 11h ngày 03/1/2017, Hà Văn V đi một mình đến địa phận bản Cò Quên, xã NongLay, huyện T.C, tỉnh S thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter, BKS26H-5008 (trị giá 16.200.000 đồng) của chị Lường Thị X dựng ở lề đường bên phải Quốc

lộ 6 Quan sát không thấy ai, V nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, V tiến lại gần, ngồilên xe mô tô, lấy từ trong túi quần ra một chiếc chìa khóa xe mô tô cắm vào ổ khóa điệncủa xe để mở Khi V đang mở khóa xe thì chị Lò Thị B nhìn thấy V đang mở khóa điện

xe nên đã chạy đi báo chị X (cách chỗ dựng xe 50m) Chị X chạy đến chỗ xe, thấy V vẫnđang ngồi trên xe mở khóa nên đã giật lấy chiếc chìa khóa đang cắm ở ổ khóa xe và hôhoán cho mọi người biết V bỏ chạy được 10m thì người dân đuổi theo bắt giữ, giao lạicho công an xã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang sau đó dẫn giải V về công anhuyện T.C xử lý theo quy định của pháp luật

Hỏi: A có phạm tội không ? phạm tội gì ? tại sao ? (20 điểm)

Hướng dẫn:

Trang 9

Hà Văn V có phạm tội

Hà Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt), quy định tạiKhoản 1 Điều 173 BLHS 2015

Hà Văn V phạm tội vì đã thực hiện hành vi ngồi trên xe mô tô, sử dụng chìa khóa xe sẵn

có trong người để mở khóa xe, mục đích chiếm đoạt chiếc xe máy nhưng do có ngườiphát hiện nên đã bỏ chạy và bị bắt giữ V đã thực hiện tội phạm, nhưng không thực hiệnđược đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội (bị B phát hiện,chị X và người dân ngăn cản), thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, quy định tại Điều 15BLHS năm 2015: “ Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiệnđược đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”

“Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt” Hành vicủa V đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt), quyđịnh tại Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015

Sau khi T hỏi tên, tuổi, địa chỉ của V, C, P thì L xông vào dùng tay, chân đấm đá vàongười C, còn N dùng tay đấm 02 phát vào đầu L, T cũng xông vào dùng tay tát vào mặt Vthì được P chạy vào can ngăn không cho đánh nhau Khi Hoàng Xuân T vào can ngăn thì

L đi ra ngoài cùng lúc đó Cao Văn T cầm 01 con dao bầu loại mũi nhọn đi từ phòng của

T sang tay phải cầm dao, tay trái cầm điện thoại đã bật sáng màn hình đến trước mặt V kềdao lên vai trái của N Qua ánh sáng của màn hình điện thoại L đứng ở bên cạnh nhìnthấy trên cổ N có đeo một sợi dây chuyền màu trắng, L nảy sinh ý định cướp tài sản nên

đã bỏ tay ra khỏi người của C và quát N “đưa dây chuyền cho tao” do sợ bị đánh tiếp nên

đã tháo sợi dây chuyền ra đưa cho L, L cầm dây chuyền cho vào túi quần đồng thời T bỏdao ra khỏi vai N Sau đó L, T, L, V, N cùng nhau ra về khi ra đến cổng cánh nhà trọkhoảng 20 mét do sợ nên L đã vứt sợi dây chuyền vừa cướp được vào bụi cây ven đường.Kết luận giám định của Viện khoa học hình sự xác định sợi dây chuyền màu trắng cókhối lượng là 19,31 gam có giá trị 178.472 đồng (một trăm bảy mươi tám nghìn bốn trămbảy mươi hai đồng)

Trang 10

Hỏi: Trong tình huống trên, anh/chị cho cho biết có những đối tượng nào phạm tội vàphạm tội gì? Tại sao?

Hướng dẫn:

- Bị cáo Lìu Văn L, Cao Văn T phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS năm2015

- Nùng Văn N, Thèn Văn V không phạm tội

Vì: Trong vụ án này mục đích của các bị cáo là rủ nhau đánh nhóm V, C, P trong quátrình đánh nhau L nhìn thấy trên cổ V có đeo một sợi dây chuyền và nảy sinh ý định cướptài sản Do sợ T tay cầm dao kề vào vai nên V đã tháo sợi dây chuyền đưa cho L Nhưvậy bị cáo L và T đã phạm tội cướp tài sản, còn các bị cáo khác là L, V, L đến khai mụcđích là đi đánh nhau không nhằm cướp tài sản, quá trình bị cáo L và T thực hiện hành vicướp dây chuyền các bị cáo L, V, L không tiếp thu ý chí của bị cáo L và T

BT:

Do thường xuyên bị mất trộm cây cảnh trong vườn trong nhà nên Nguyễn Thị N đã dùngcây kim loại trần mắc quanh vườn nhà mình và nối với điện sinh hoạt nhằm ngăn chặnngười vào trộm cây Mỗi góc vườn chị N đều treo biển cảnh báo nguy hiểm và thông báovới hàng xóm xung quanh Ngày 01/10/2017, chị Hoàng Thị M đi sang nhà hàng xómchơi, khi đi đến sát vườn nhà chị N thì bị điện giật chết do va chạm vào dây điện nhà chị

Trang 11

vậy, chị Hoàng Thị M bị điện giật chết thì Nguyễn Thị N phải chịu trách nhiệm về tộigiết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 với lỗi cố ý gián tiếp.

BT:

Nguyễn Văn B là chồng của Định Thị M Trong quá trình chung sống, B hay rượu chè vàlười lao động Ngày 14/5/2017, B đi uống rượu say về, do có mâu thuẫn từ trước nên đãlao vào dùng tay túm tóc và đấm chị M liên tục, chị M đánh lại nhưng do sức yếu nên bị

B ghì chặt dưới sân và bị B đấm đá liên tục vào người và vào mặt Chị M lấy hết sứcdùng chân đạp B ngã ra, sau đó lấy nồi nước sôi đang đun trên bếp hất vào người B Kếtquả giám định thương tích B bị tổn hại 55% sức khỏe

Hỏi: trong tình huông trên thì Định Thị M có phạm tội không, phạm tội gì, vì sao (20điểm)

B Hành vi chống ttrar của M nhằm trực tiếp vào B trứ không vào đối tượng nào khác.Tuy nhiên việc chống trả của M đối với sự tân công của B là quá mức cần thiết để nhằmngăn chặn hành vi tân công của B vì sau khi đạp B ngã ra, M có thể có các biện phápkhác để thoát khỏi sự tân công của B, túy nhiên M đã đung nồi nước đun sôi hất vàongười B gây thương thích 55% là không cần thiết để ngăn chặn hành vi tân công của B

Do vây hành vi chống trả của M là vượt quá mức cân thiết mà pháp luật cho phép để bảo

vệ mình

BT:

Khoảng 1 giờ ngày 12/8/2017, Dương Văn L đi lang thang trên địa bàn thành phố H, mụcđích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, L vào trú mưatại cây ATM Tại đây L nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong cây ATM Để trộm cắp tiềntrong cây ATM, L đã dùng tay, gạch và viên bê tông, cạy, đập, phá cây ATM Quá trình

L thực hiện hành vi trên đã làm hư hỏng 01 máy in hóa đơn; 01 máy in nhật ký; 01 đầuđọc thẻ; 01 camera; 01 Board điều khiển âm thanh; 01 bộ ray khoang kỹ thuật; 01 mặtnhựa khoang kỹ thuật; 01 bộ khóa kỹ thuật; 01 bộ dây nguồn và tín hiệu của cây ATM

Trang 12

với tổng trị giá thiệt hại là 209.114.400đ Khi L đang có hành vi cạy phá két của câyATM để lấy tiền thì bị bảo vệ phát hiện nên L đã bỏ chạy, Bảo vệ đuổi theo thì bắt giữđược L Kiểm tra thực tế tại thời điểm L thực hiện hành vi trộm cắp, số tiền có trong kétsắt ở cột ATM là 200.000.000đ.

Hỏi: L phạm tội gì?

Hướng dẫn:

L phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản và tội Trộm cắp tài sản, bởi: Hành vi trên của Lmặc dù nhằm mục đích trộm cắp tài sản nhưng đã cố ý cạy phá làm hư hỏng, mất giá trị

sử dụng của cây ATM với giá trị thiệt hại là 209.114.400đ nên phải chịu trách nhiệm hình

sự về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản L chưa trộm cắp được số tiền có trong cây ATM

là do bị phát hiện do đó L vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sảntrong trường hợp phạm tội chưa đạt với giá trị tài sản mà L hướng tới để chiếm đoạt là200.000.000đ

BT:

Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2016, Nguyễn Văn A không có giấy phép lái xe, không cóchứng chỉ điều khiển xe chuyên dùng, điều khiển xe trộn bê tông loại xe ba bánh tự chếkhông có đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, đi trên đường liên thôn có va chạm với xe mô tô

do Nguyễn Văn D điều khiển đi ngược chiều Hậu quả, anh D bị ngã ra đường được đưa

đi cấp cứu và chết Kết quả điều tra xác định anh D điều khiển xe mô tô đi lấn sang phầnđường của xe ngược chiều và đâm vào xe trộn bê tông do Nguyễn Văn A điều khiển.Hỏi: Với tình huống trên Nguyễn Văn A có phạm tội không? Tại sao?

Hướng dẫn:

Nguyễn Văn A không phạm tội

Vì: A điều khiển xe đi đúng phần đường bên phải Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tainạn giao thông là do anh D điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, đi lấn sang phầnđường dành cho phương tiện ngược chiều dẫn đến hậu quả gây tai nạn làm anh D chết

A điều khiển phương tiện tự chế, loại xe cấm lưu thông trên đường là vi phạm hànhchính, không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tại nạn giao thông nêu trên (việndẫn khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09 ngày 28/8/2013 của Bộ Công an-Bộ quốcphòng-Bộ tư pháp-Viện KSND tối cao- Tòa án nhân dân tối cao, Hướng dẫn một số quyđịnh tại chương XIX Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông) Vì

Trang 13

vậy, A không phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đườngbộ” quy định tại Điều 267 Bộ luật hình sự 2015.

BT:

Khoảng 10 giờ ngày 12/6/2017, Nguyễn Văn B đang ở nhà thì có Đỗ Trọng P, NguyễnVăn V, Phạm Văn D đến chơi sau đó rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng thìđược B đồng ý P, V, D đánh bạc một lúc thì có Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn M đếncùng tham gia đánh bạc Tổng số tiền đánh bạc của 5 đối tượng trên tại thời điểm này là3.200.000 đồng

Khoảng 14 giờ cùng ngày, D bị thua hết tiền nên đi về trước Sau khi D về thì NguyễnVăn N, Trần Văn Q đến đánh bạc (N đem theo 500.000 đồng, Q đem theo 1.000.000đồng đến đánh bạc) Một lúc sau do Q bị thua hết tiền nên đi về Khoảng 15 giờ cùngngày, P cũng bị thua hết tiền nên đi về Sau khi P về, Q tiếp tục mang theo 500.000 đồngquay lại đánh bạc Khoảng 17 giờ cùng ngày, Trần Văn S đến cùng tham gia đánh bạc (Smang theo 500.000 đồng để đánh bạc)

Khoảng 30 phút sau, V không chơi nữa ngồi ngoài xem (Lúc này V thắng bạc nên có1.700.000 đồng) Sau khi V không chơi thì Nguyễn Văn Đ vào cầm bài hộ M khoảng 3-4ván sau đó trả lại cho M rồi ra về Q, S, M, N, T đánh bạc đến 18 giờ cùng ngày thì bị bắtquả tang Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài, 4.000.000 đồng thu trên chiếu bạc và 1.700.000đồng thu trên người V

Cơ quan điều tra đã khởi tố B, Q, S, M, N, T và V về tội đánh bạc; P, Đ và D chưa bị kết

Thứ nhất: Các đối tượng Đ, P và D không đánh bạc liên tục với tất cả các đối tượng khi

bị bắt quả tang mà về trước (D không tham gia đánh bạc cùng với N, Q; P không thamgia đánh bạc cùng với S và Q lần 2; Đ cầm bài hộ M không tham gia đánh bạc cùng với

Trang 14

V) nên về nguyên tắc không thể buộc các đối tượng này cùng chịu trách nhiệm về số tiềndùng đánh bạc với các đối tượng khác đánh đến khi bị bắt (5 điểm).

Thứ hai: Số tiền mà Đ, P và D đánh bạc với các đối tượng khác trước khi ra về đều dưới5.000.000 đồng P, Đ và D chưa bị kết án về các tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc

gá bạc” Do vậy, P, Đ và D không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc (5điểm)

BT:

Khoảng 23h ngày 5/7/2016, A, B, C cùng sinh năm 1990 rủ nhau đến nhà chị H ở huyện

E, tỉnh F để trộm cắp tài sản thì bị chị H phát hiện A rút 1 con dao nhọn mang theo dívào cổ chị H, B yêu cầu chị H đưa tiền, C đứng trợn mắt nhìn chị H Chị H mở tủ đưacho A bọc tiền 15.000.000đ, lấy được tiền B và C đẩy chị H vào phòng rồi cùng A bỏchạy A, B và C ăn tiêu hết số tiền trên và đến ngày 15/7/2016 thì ra công an trình diện.CQCSĐT Công an huyện E ra lệnh bắt khẩn cấp đối với A, B, C, quyết định tạm giữ 3ngày từ 16h ngày 15/7/2016 đến 16h ngày 18/7/2016

Ngày 18/7/2016, Cơ quan Công an huyện E ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can,lệnh tạm giam 4 tháng đối với A, B, C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

VKSND huyện E sau khi nhận được đề nghị phê chuẩn của Cơ quan Công an huyện E,nghiên cứu thấy A, B, C không phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) mà phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1Điều 133 BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nên đã ra ban hành Quyết địnhhủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A, B, C về tội “Cưỡng đoạt tàisản” theo khoản 1 Điều 135 BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Hỏi: VKSND huyện E làm thế là đúng hay sai?

Hướng dẫn:

- CQCSĐT Công an huyện E ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là khôngchính xác theo Điều 81 BLTTHS năm 2003 Trường hợp này làm biên bản tiếp nhận A,

B, C ra đầu thú rồi áp dụng biện pháp tạm giữ

- A, B, C đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc (A dùng dao kề vào cổ chị H, Byêu cầu chị H đưa tiền, C đứng trợn mắt nhìn chị H ) làm cho chị H không thể chống cự

Trang 15

được, buộc phải mở tủ giao tiền Hành vi của A, B, C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướptài sản” theo khoản 1 Điều 133 BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Công anhuyện E ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh tạm giam 4 tháng đối với A, B,

C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sungnăm 2009) là không đúng tội danh

-Công an huyện E ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh tạm giam làsai thẩm quyền theo Điều 104 BLHS năm 2003

Căn cứ Điều 106, Điều 127 BLTTHS năm 2003 thì VKSND huyện E: Ra Quyết định hủy

bỏ các Quyết định khởi tố trái pháp luật, và yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện E racác Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với A, B, C vềtội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 BLHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) -Lệnh tạm giam 4 tháng không trừ thời gian tạm giữ là vi phạm Thông tư liên tịch số05/2005

BT:

Chị V quen biết với anh B sinh năm 1996, hiện ở Hà Nội nhưng không đăng ký tạm trú,qua zalo, rồi nảy sinh quan hệ tình cảm yêu đương Do V muốn biết quê quán và hoàncảnh gia đình của mình nên ngày 05/8/2016, B rủ V về quê chơi V đến chỗ ở của B vàđưa xe máy cho B điều khiển chở V về quê Trên đường đi, B không muốn V về nhà chơi

và muốn cắt đứt quan hệ với V đồng thời nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của V

B bảo V vào quán uống nước để tìm cơ hội, tại quán nước khi thấy V có điện thoại đi rachỗ khuất cách chỗ B ngồi khoảng 10m để nói chuyện Thấy vậy B đã nổ máy điều khiển

xe máy của V đi lên Hà Nội Sau đó B cắt đứt mọi liên lạc với V, chuyển chỗ ở khác V

đã nhắn tin, gọi điện thoại nhiều lần và đi tìm để đòi xe nhưng không được Khi B mang

xe đi bán thì bị Công an phát hiện bắt giữ Kết luận định giá tài sản trị giá chiếc xe máytrên là 19 triệu đồng Hỏi:

1 B phạm tội gì, theo điều khoản nào? Vì sao?

2 B có bị áp dụng biện pháp tạm giam không? Vì sao?

Hướng dẫn:

1 B phạm tội trộm cắp tài sản vì:

Trang 16

- Về hành vi khách quan: Mặc dù B nhận được tài sản của V và có sự quen biết tin tưởngkhi V giao xe cho B, nhưng sau khi có tài sản B không chiếm đoạt ngay, cũng khôngdùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản B lợi dụng sơ hở lúc V nghe điện thoại ở vịtrí khuất không quản lý được tài sản của mình nên lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạtchiếc xe máy của V Như vậy hành vi của B là lén lút, lợi dụng sự sơ hở của người có tàisản để chiếm đoạt tài sản Do đó hành vi của B thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tộitrộm cắp tài sản Tài sản B chiếm đoạt của V là 19 triệu nên B phạm tội trộm cắp tài sảntheo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015

- Về ý thức chủ quan: B cố ý chiếm đoạt tài sản của chị V

- Khách thể tội phạm: xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác - Về chủ thể: B đã

20 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm

do mình gây ra

2 Trong trường hợp này B bị áp dụng biện pháp tạm giam: vì mặc dù B phạm tội thuộctrường hợp ít nghiêm trọng mức hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, nhưng B không cónơi cư trú rõ ràng, tạm trú nhưng không đăng ký tạm trú, sau khi phạm tội có dấu hiệu bỏtrốn Vì vậy căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì

B có thể bị tạm giam

BT:

Khoảng 8 giờ tối ngày 12/9/2015 Nguyễn Văn A sinh năm 1978 rủ Nguyễn Văn B sinhnăm 1979, Nguyễn Văn C sinh năm 1980 và Bùi Băn D sinh ngày 12/8/ 2001 các đốitượng trên đều có HKTT: xã H huyện M tỉnh T đi trộm cắp gà nhà bác của A về để ănthịt, cả 4 người đều đồng ý đi, khi đi đến nhà bác của A để trộm gà thì chỉ có A,B,D vàotrộm cắp gà còn C vì say riệu nên ngồi ngoài gốc đa đầu làng nằm chờ nhưng vì say quánên ngủ mất ( gốc đa cách nhà bác của A khoảng 50 mét) khi A,B,D vào nhà bác của Atrộm cắp gà vì chó sủa nhiều nên không lấy được gà, sau đó cả 3 đi ra ngoài cổng nhìnsang nhà bên cạnh thấy chiếc xe máy cắm chìa khóa tại ổ khóa để ở ngoài sân, lúc đó Anẩy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy và bàn với B và D là A vào lấy xe máy còn B và

D ở ngoài cảnh giới, khi A dắt xe máy ra khỏi cổng nhà, vì xe không nổ máy được lên Adắt xe còn B và D đẩy sau xe máy ra gốc đa nơi mà C đang nằm chờ, lúc này cả 4 ngườiđẩy xe ra ngoài đường quốc lộ để mang đi tiêu thụ, trên đường đi tiêu thụ thì bị Công an

xã H bắt quả tang và đưa về Công an huyện M

Trang 17

Sau đó Công an huyện M khởi tố vụ án và bị can đối với A,B,D về tội trộm cắp tài sản C

về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Hỏi : Anh hay chị cho biết A và B phạm tội gì? C và D có phạm tội hay không, nếu cóthì phạm tội gì?

Hướng dẫn:

-Khi A rủ B,C,D đi trộm cắp gà nhà bác của A, nhưng khi vào trộm cắp gà nhà bác của

A thì chỉ có A,B.D đi trộm gà, còn C ở ngoài gốc đa đầu làng cách nhà bác của A là 50 mđợi ở đó vì say riêu nên đã ngủ, khi 3 người vào trộm gà nhưng vì chó sủa nhiều nênkhông lấy trộm được, sau đó đi ra ngoài cổng, nhìn sang nhà bên cạnh thấy có chiếc xemáy cắm ổ khóa để ngoài sân, lúc này A nẩy ý định và bàn với B,D trộm cắp xe máy và

cả 3 đồng ý, A vào lấy xe máy còn B,D ở ngoài cảnh giới , sau khi lấy được xe cả 3 đẩy

ra ngoài chỗ C đợi ở gốc đa, lúc này việc trộm cắp xe máy đã hoàn thành và C chỉ đượcbàn bạc đi trộm cắp gà, không biết việc trộm cắp xe máy lên C không phạm tội trộm cắp,còn D đứng ngoài cảnh giới để A vào lấy xe máy nhưng vì D chưa đủ 14 tuổi (điều 12BLHS quy định: 1 người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mội tộiphạm; 2.người từ đủ 14 tuổi chở lên Nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiệm trọng ) nênkhông khởi tố D về tội trộm cắp tài sản; Vậy C và D không Phạm tội trộm cắp

-Khi A,B,D trộm cắp chiếc xe máy nói trên cùng đẩy xe máy ra gốc đa chỗ C nằm đợisau đó A,B,D cùng C đẩy xe ra đường quốc lộ để đi tiêu thụ, trên đường đi tiêu thụ thì bịbắt quả tang, vậy việc đi tiêu thụ chiếc xe máy chưa hoàn thành do vậy C và D khôngPhạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Như vậy chỉ có A, B phạm tội trộm cắp tài sản còn C và D không phạm tội gì

BT:

Đêm mùng 04/6/2013, sau khi cùng nhóm bạn ăn ngô luộc tại nhà chị Lý Thị H tại xóm

B, xã TS, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì cả nhóm đi về Lý Văn H và Hà Văn Mcũng đi về nhà tại xóm B bằng xe mô tô theo hướng Hà Nội – Sơn La, M là người điềukhiển xe, H ngồi sau cầm túi ngô luộc Khi về đến đoạn đường trước nhà nghỉ HL tạixóm B, xã Tân Sơn, H làm rơi túi ngô nên bảo Minh dừng xe lại để nhặt, khi xuống xe đểnhặt ngô, H có nhặt một hòn đá và nói với M là tí nữa H sẽ ném xe ô tô, Minh nói với H

là “Ừ, kệ mày” rồi điều khiển xe đi tiếp, Hợp ngồi sau đặt hòn đá lên yên xe đoạn giữa

Trang 18

chỗ ngồi của H và M Đi được khoảng 100m, đến Km142+100 QL6, lúc đó vào khoảng

03 giờ ngày 05/6/2013, thì gặp xe ô tô khách biển kiểm soát 26K-7747 đi ngược chiều doanh Vũ Ngọc T điều khiển, H bảo M đi chậm lại để ném xe thì M điều khiển xe giảm tốc

độ, khi gần đến xe ô tô, H dùng tay trái cầm hòn đá ném vào phía sườn trái xe ô tô Khinghe tiếng va chạm, biết là đã ném trúng, H nói với M: “Tao ném trúng xe rồi chạy nhanhlên” Ngay lúc đó, M lấy bắp ngô kẹp ở giá đèo hàng giữa xe dùng tay trái cũng némthẳng vào xe ô tô đó rồi tăng tốc độ bỏ chạy Hậu quả thiệt hại đối với xe ô tô là15.000.000 đồng Các bị cáo đều trên 18 tuổi, đầu thú, thành khẩn khai báo và bồi thườngthiệt hại trong quá trình điều tra

Hỏi: H và M có phạm tội không? Xác định vai trò của từng người? Điều khoản áp dụngkhi truy tố và luận tội?

Hướng dẫn:

- Tội Cố ý làm hư hỏng tài sản H có vai trò chính, M phạm tội với vai trò đồng phạm

- Áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 178, Điều 17 (đồng phạm) BLHS 2015; áp dụngtình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”,

“Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩnkhai báo, ăn năn hối cải” và việc bị cáo đầu thú theo quy định tại các điểm b, i, s Khoản 1

và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015

BT:

Do có mâu thuẫn từ trước giữa gia đình P với gia đình Q nên 17 giờ 30 phút ngày05/8/2016, N (con trai Q) cùng một số bạn bè cầm theo gậy, dao đến nhà P gây sự chửibới lăng nhục thậm tệ và cầm gạch ném lên mái ngói làm nhiều viên ngói bị vỡ và némgạch đất cùng với phân, luyn và chất bẩn vào nhà P làm cho nhà P phải ngừng ăn cơm domùi hôi thối bốc ra và gây ức chế khó chịu M là con trai P sinh ngày 01/01/2001 lấythanh sắt nhọn (sắt phi 16) ở trong nhà cầm chạy ra đứng ở cửa Thấy M đi ra cửa thì Ntiếp tục dùng dao chém vào cửa và đe dọa đánh M và cả gia đình Do bực tức không thểkìm nén được M dùng thanh sắt nhọn đâm mạnh vào phía ngực trái N, N quay đầu chạyđược khoảng hơn 10 mét thì gục ngã và được mọi người đưa đi cấp cứu Hậu quả N bịđâm trúng tim, bị chết do mất máu cấp

Hãy phân tích và định tội danh, đường lối xử lý đối với hành vi của M? Nêu quy định cụthể của khoản 1, khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015?

Trang 19

Hướng dẫn:

Hành vi N cùng bạn bè mang dao, gậy đến nhà P gây sự chửi bới lăng nhục thậm tệ vàcầm gạch ném lên mái ngói làm nhiều viên ngói bị vỡ và ném gạch đất cùng với phân,luyn và chất bẩn vào nhà P trong lúc mọi người ở nhà P đang ăn cơm, dùng dao chémcánh cửa đe dọa đánh M và gia đình M là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng (5điểm)

Do bực tức không thể kìm nén được M dùng thanh sắt nhọn đâm mạnh vào ngực trái N,hậu quả làm N chết là hành vi phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh được quy định tại Khoản 1, Điều 125 Bộ luật hình sự 2015

Khi thực hiện hành vi M mới 15 tuổi 7 tháng 4 ngày, đối chiếu với quy định tại khoản 2Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 thì M không phải chịu trách nhiệm hình sự, vì M chưa đủ

16 tuổi, tội phạm mà M đã thực hiện là tội ít nghiêm trọng và không thuộc các loại tộingười chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, do đó không khởi tố xử lý về hình

sự đối với M (5 điểm)

- Quy định cụ thể tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015

BT:

A, B và C (đều trên 18 tuổi) cùng rủ nhau trộm cắp tài sản nhà chị D Đến ngày15/6/2017, A,B trèo tường vào nhà chị D với mục đích trộm cắp tài sản còn C đứng ngoàicảnh giới Khi vào trong nhà, A và B trộm cắp được số tiền 18 triệu của chị D, khi A tiếptục cậy tủ thì bị chị D phát hiện B hoảng sợ chạy ra khỏi nhà còn A chạy xuống bếp cầm

01 con dao gọt hoa quả chạy lên đâm chị D 02 nhát vào vùng cổ Hậu quả chị D tử vongtại hiện trường

Hỏi: A, B và C phạm tội gì ? Tại sao ?

Hướng dẫn:

B, C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS 2015 với trịgiá chiếm đoạt là 18 triệu đồng Riêng A phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản” theoquy định tại điều 123, điều 168 BLHS Bởi lẽ, trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tàisản thì A, B và C đã thỏa thuận, thống nhất với nhau sẽ trộm cắp tài sản nhà chị D và trênthực tế A, B vào nhà chị D trộm cắp tài sản còn C ở ngoài cảnh giới, A, B đã trộm cắpđược số tiền 18 triệu đồng của chị D (lúc này tội trộm cắp tài sản) đã hoàn thành Tuy

Trang 20

nhiên sau đó A tiếp tục cậy cửa tủ để lục tìm tài sản, do chị D phát hiện, A đã dùng daođâm vào vũ cổ chị D (dùng vũ lực) dẫn tới chị D tử vong Do vậy đây là hành vi dùngngay tức khắc vũ lục để chiếm đoạt tài sản nên A phạm tội “Giết người” và “Cướp tàisản” theo quy định tại Điều 123,168 BLHS năm 2015

Trong vụ án này mặc dù A, B, C có sự thống nhất từ trước song trong vụ án này việc Adùng dao nhọn đâm chị D là hành vi thái quá của chế định đồng phạm nên A phải chịutrách nhiệm độc lập về tội “Giết người ” và “Cướp tài sản”

BT:

Khoảng 16 giờ ngày 20/8/2017, anh Nguyễn Văn H đang ngồi ở vỉa hè đếm tiền thì TrầnVăn T (19 tuổi) đi đến giật tiền của anh H cho vào túi quần rồi bỏ đi Anh H đi theo T xinlại tiền thì T bảo đây là tiền của tao và không trả cho anh H Anh H tức nên cầm đoạn gậynhặt dưới chân ném về phía T nhưng không trúng T lập tức nhặt đoạn gậy lên vụt 01nhát vào vai anh H rồi bỏ chạy

Hỏi: T phạm tội gì, tại sao

Hướng dẫn:

Trần văn T phạm tội "Cướp tài sản" theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm2015

Bởi lẽ, hành vi ban đầu của Trần Văn T giật tiền trên tay của anh Nguyễn Văn H rồi bỏ

đi có dấu hiệu của tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản" vì sau khi lấy tiền của anh H, Tkhông bỏ chạy, chứng tỏ T không sợ anh H hoặc người khác bắt giữ Sau đó anh H đitheo T và xin lại tiền nhưng T không trả nên anh H đã nhặt đoạn gậy ném T Ngay lập tức

T nhặt đoạn gậy đó tấn công anh H nhằm chiếm đoạt số tiền đã lấy của anh H Như vậy,

T đã sử dụng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tiền của anh H nên hành vi của T đã đủyếu tố cấu thành tội "Cướp tài sản" quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự

BT:

Ngô Thanh H quen Đặng Ngọc T vào khoảng tháng 8/2017 Qua trao đổi T biết H là chủcửa hàng kinh doanh tạp hóa tại huyện TX nên T đã giới thiệu có các loại mỳ chính sangbao bán với giá thấp hơn 17.000đ/1 Kg so với các loại mì chính cùng nhãn hiệu bán trênthị trường Đến ngày 25/12/2017, có 05 người đàn ông ( H không biết tên và địa chỉ) đếncửa hàng của H đặt tiền mua các loại mì chính AJINOMOTO, MIWON, SAJI với tổng

Trang 21

khối lượng là 600 kg Từ đó H đã gọi điện cho T và T đã chuyển 600 kg mì chính các loạinêu trên cho H H đã thanh toán cho T với tổng số tiền là 24.000.000đ( Hai bốn triệuđồng) Khi H đang đợi khách hàng đến lấy thì bị cơ quan chức năng kiểm tra bắt giữ sốhàng 600 kg nêu trên Ngoài ra sau khi CQĐT khám nhà T thu được 30 kg mì chính giảcác các nhãn hiệu mì chính AJINOMOTO, MIWON, SAJI và 01 cân đồng hồ nhãn hiệuNhơn Hòa loại 02 kg; 01 kéo inox; muỗng nhôm; chậu nhựa; 01 máy bàn ép miệng túinilon nhãn hiệu Tân Thanh và khoảng hơn 1000 vỏ bao mang nhãn hiệu mì chínhAJINOMOTO, MIWON, SAJI để dùng sang bao, đóng gói mì chính giả.

Qua đấu tranh, Đặng Ngọc T đã khai nhận: T mua máy bàn ép mép túi nilon, vỏ túi nolon mang các nhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI và mì chính bao nhãn hiệu TânThanh tại chợ trời, TP HN ( T không biết tên, địa chỉ của người bán); Nguyên liệu mìchính là mì chính do Trung Quốc sản xuất, loại 25 kg/bao với giá 880.000/bao và vỏ bao

bì mang nhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI, T mua của người đàn ông đi ô tô bántải đến bán cho T tại cửa hàng của T ( T không biết tên, địa chỉ cụ thể và BKS xe ô tô).Sau đó, T trực tiếp sang bao, đóng gói mì chính giả các nhãn hiệu AJINOMOTO loại1kg/gói, AJINOMOTO loại 400g/gói MIWON loại 350 g/gói và SAJI loại 500g/gói.Ngày 26/12/2017, T bán cho H các loại mì chính AJINOMOTO, MIWON, SAJI với tổngtrọng lượng 600 kg với giá 40.000đ/kg và H đã thanh toán cho T với tổng số tiền24.000.000 đồng

Ngày 03/01/2018, Cơ quan CSĐT – công an tỉnh T.H đã ra Quyết định trưng cầu giámđịnh, giám định các mẫu vật mì chính tang vật thu giữ tại nhà Ngô Thanh H và ĐặngNgọc T Tại kết quả giám định) của Viện khoa học hình sự – Bộ Công an ngày24/01/2018 kết luận: Tất cả các mẫu mì chính thu tại nhà Ngô Thanh H và Đặng Ngọc Tđều là mì chính không cùng loại với chất lượng và vỏ bao bì của mẫu mì chính chínhhãng do các công ty AJINOMOTO, MIWON, SAJI sản xuất

Ngày 06/03/2018 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ra quyết định trưng cầu định giá tài sảnkết quả: 600 kg Mỳ chính giả mang tên các nhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI thutại nhà H có tổng giá trị tương đương với mỳ chính chính hãng là 36.874.000đ; 30 kg mìchính giả thu tại nhà T mang các nhãn hiệu mì chính AJINOMOTO, MIWON, SAJI cótổng giá trị tương đương với mỳ chính chính hãng là: 1.351.000đ

Cơ quan CSĐT Công tỉnh TH đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ĐặngNgọc T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” quy định tại điều 192 Bộ luật hình sự 2015

Trang 22

Ngô Thanh H về tội: “Buôn bán hàng giả” quy định tại điều 192 BLHS và tiền hànhđiều tra theo quy định của pháp luật.

Hỏi: 1) Anh (chị) cho biết quan điểm của mình về quyết định khởi tố vụ án, bị can nêutrên ? giải thích ?

Hướng dẫn:

Cơ quan CSĐT Công tỉnh TH đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ĐặngNgọc T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”, quy định tại Điều 192 Bộ luật hình sự NgôThanh H về tội: “Buôn bán hàng giả”, quy định tại Điều 192 BLHS Là Đúng người,đúng tội vì:

Ngô Thanh H phạm tội: “Buôn bán hàng giả”, quy định tại Điều 192 BLHS Vì theo quyđịnh tại Điều 192 quy định “ Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với sốlượng hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới một trăm rưỡi triệu đồng ” NgôThanh H đã 2 lần mua mì chính của T: lần 1 là 60 kg mì chính thành phẩm mang tên cácnhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI với giá 40.000đ/kg Lần hai 600 kg mì chínhthành phẩm mang tên các nhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI với giá 24.000đ/kg ,khi mua H biết đó là mì chính T sang bao đóng gói giả nhãn hàng thật nhưng vẫn mua (vìham rẻ) để bán giá cao hơn kiếm lời Khi chưa kịp bán thì bị bắt số hàng 600 kg Quađịnh giá 600 kg mỳ chính giả mang tên các nhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI thutại nhà H có tổng giá trị tương đương với mỳ chính chính hãng là 36.874.000đ Như vậyhành vi của H phạm tội “Buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 192 BLHS

T phạm tội: “Sản xuất, buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 192 BLHS Vì: Điều 192quy định “Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng hàng thật cógiá trị từ 30 triệu đồng đến dưới một trăm rưỡi triệu đồng ” Đặng Ngọc T đã mua muamáy bàn ép mép túi nilon, vỏ túi nilon vỏ túi ni lon mang các nhãn hiệu AJINOMOTO,MIWON, SAJI và mì chính bao nhãn hiệu Tân Thanh tại chợ trời, TP HN sau đó vềsang bao, đóng gói và bán với giá cao hơn kiếm lời như vậy T đã giả nhãn mác, giả chấtlượng mì chính thật đem bán Ở đây T vừa sản xuất lại vừa bán 600 kg mỳ chính giảmang tên các nhãn hiệu AJINOMOTO, MIWON, SAJI cho H Ngoài ra CQĐT còn thutại nhà T 30 kg mì chính giả mang các nhãn hiệu mì chính AJINOMOTO, MIWON, SAJI

có tổng giá trị tương đương với mỳ chính chính hãng là: 1.351.000đ như vậy T phạm tội

“Sản xuất, buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 192 BLHS;

Trang 23

đã trộm cắp được Ngày 27/11/2017, sau khi biết chiếc xe do H trộm cắp của người khác,

T đã đem chiếc xe đi giao nộp Công an Giá trị chiếc xe sau khi giám định có giá trị19.000.000

- C, H có bị coi là đồng phạm tội trộm cắp tài sản không?

- C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không?

- Trong trường hợp khi đến gửi xe tại phòng trọ của T, H có nói cho T biết đây là xe vừatrộm cắp được, T cho H gửi xe thì T có bị coi là đồng phạm về tội trộm cắp tài sản vớivai trò là người giúp sức không?

Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố

ý Vấn đề đồng phạm chỉ được đặt ra khi tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Như vậy,

ở trong tình huống này, hành vi trộm cắp của C và H được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếpvới mục đích vụ lợi Cả 2 đã cố ý cùng thực hiện việc ăn trộm tài sản là chiếc xe máy

Trang 24

Jupiter trị giá 19.000.000 đồng Dù biết rõ hành vi của mình là xâm phạm tới quyền sởhữu đối với tài sản của người khác nhưng hai người vẫn cố tình thực hiện.

Từ sự phân tích trên cho thấy: C và H bị coi là đồng phạm tội trộm cắp tài sản

- C không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự ý mình không thực hiện hành vi phạm tộiđến cùng tuy không có gì ngăn cản

Trong trường hợp của C thì C chỉ thỏa mãn được yếu tố một của tự ý nửa chừng chấmdứt việc phạm tội C đã phóng xe máy đi trong khi H vào nhà anh D dùng tuốc nơ vít phákhóa chiếc xe Jupiter Tức là C đã thôi không thực hiện trộm cắp tài sản (với vai trò làngười giúp sức) khi tội phạm trộm cắp tài sản đang ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành.Như vậy đã thỏa mãn được một điều kiện

Ở điều kiện thứ hai nguyên nhân mà C bỏ đi chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm.Tình huống có nói rõ rằng: “Thấy có người lại gần, sợ bị phát hiện bắt giữ nên phóng xe

đi trước” Vì vậy, nguyên nhân khiến C không thực hiện tiếp hành vi phạm tội của mình

là do nguyên nhân khách quan chứ không phải do bản thân C

Do C không phải người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ đóng vai trò là ngườigiúp sức, hơn nữa hành động phóng xe đi trước của C xảy ra sau khi H bắt tay vào việcthực hiện tội phạm; hơn nữa C cũng không có hành động để ngăn ngừa tội phạm xảy ranên C không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội

- H không bị coi là đồng phạm với vai trò người giúp sức: Người giúp sức có thể là giúpsức về vật chất hoặc giúp sức về tinh thần Giúp sức về vật chất là những hành vi cungcấp công cụ, phương tiện hoặc khắc phục những trở ngại… để tạo điều kiện cho ngườithực hành thực hiện tội phạm thuận lợi hơn Giúp sức về tinh thần là những hành vikhông cung cấp vật chất nhưng tạo cho người thực hành thực hiện tội phạm có nhữngđiều kiện dễ dàng hơn như chỉ dẫn, góp ý kiến Áp dụng vào tình huống này, nếu khiđến gửi xe tại phòng trọ của T, H có nói cho T biết đây là xe vừa trộm cắp được, T cho Hgửi xe thì thì T không bị coi là đồng phạm về tội trộm cắp tài sản với vai trò là ngườigiúp sức Bởi lẽ, hành vi giúp sức thực chất là việc tạo thêm điều kiện thuận lợi chongười khác vốn đã có ý định phạm tội hoặc làm cho người đó yên tâm thực hiện tộiphạm Vì vậy mà hành vi giúp sức chỉ có thể được thực hiện trước khi người thực hànhbắt tay vào hành động hoặc khi tội phạm đang tiến hành Trong khi đó, chỉ khi đến phòng

Trang 25

trọ của T thì H mới cho T biết đây là chiếc xe máy vừa trộm cắp được Trước đó T khôngbiết gì về việc phạm tội của H Lúc đến phòng trọ của T, H đã thực hiện xong tội phạm.

Rõ ràng T không hề có một hành vi nào giúp sức về vật chất hay tinh thần cho H

BT:

P là thợ sơn được thuê hoàn thiện nhà riêng cho một gia đình Trong thời gian làm việc P

để ý thấy gia đình đối diện không làm lưới bảo hiểm ban công, trong khi khoảng cáchgiữa hai nhà khá gần Một đêm thấy nhà đối diện quên đóng cửa ban công P đã trèo sang

và vào nhà lấy một chiếc túi xách có chứa điện thoại di động, tiền Trong lúc lục tìm thêmtài sản, P gây ra tiếng động và bị G (chủ nhà) phát hiện, G giật lại chiếc túi của mình sau

đó P đạp mạnh vào bụng G làm G bị ngất rồi cầm chiếc túi xách bỏ trốn.Tổng giá trị tàisản bị chiếm đoạt là 20 triệu đồng

Hỏi:

a P phạm tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “Hành hung để tẩuthoát” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS hay phạm tội cướp tài sản quy địnhtại Điều 168 BLHS? Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm trong tình huống này?

b Nếu G sau đó được người nhà phát hiện đưa đi cấp cứu và bị tổn hại sức khỏe 25% thìtội danh của P có gì thay đổi không?

Hướng dẫn:

- P phạm tội cướp tài sản theo quy định tại điều 168 BLHS 2015 chứ không phải tội trộmcắp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “Hành hung để tẩu thoát” quy định tạiđiểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS 2015:

Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tộichưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bịbắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặcngười bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã nhằm tẩu thoát

Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản,nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũlực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằmchiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát"

mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản

Ngày đăng: 17/12/2017, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w