1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn

67 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Vĩ Mô 2 Có Hướng Dẫn
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 439,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tối đa hóa lợi nhuận mỗi hãng lựa chọn quyết định sản xuất trên cơ sở 2 hãng này cạnh tranh bằng cách định giá đồng thời: toàn bộ thị trường => động cơ sẽ là cắt giảm giá, nhưng sẽ bị

Trang 1

Bài tập 1: Mô hình Cournot

Có nhà độc quyền 2 hãng cạnh tranh với nhau, sản xuất sản phẩm giốngnhau và biết đường cầu thị trường là P = 45 – Q Trong đó Q tổng sản lượngcủa 2 hãng( Q = Q1 + Q2), giả sử 2 hãng có hàm chi phí cận biên bằngkhông

a Tìm hàm phản ứng của mỗi hãng để tối đa hóa lợi nhuận?

b Mỗi hãng sản xuất bao nhiêu khi đó giá thị trường là bao nhiêu?

c Giả định 2 hãng có thể cấu kết với nhau và chấp nhận lợi nhuận nhưnhau, khi đó sản lượng mỗi hãng đạt được bao nhiêu?

Trang 2

Bài tập 2: Mô hình Stackelberg

Đường cầu thị trường được cho bởi P = 45 – Q Trong đó Q là tổng sảnlượng của cả hai hãng(Q = Q1 + Q2), giả định hãng 1 đặt sản lượng trước vàgiả định có chi phí cận biên của hãng bằng không

a Tìm hàm phản ứng của hãng 2 để tối đa hóa lợi nhuận?

b Mỗi hãng sản xuất bao nhiêu khi đó giá thị trường là bao nhiêu?

c Vẽ đồ thị minh họa

Lời giải:

a. Hãng 1 đặt sản lượng trước, hãng 2 quan sát sản lượng của hãng 1 để raquyết định, hãng 2 ra quyết định sau hãng 1 coi sản lượng hãng 1 là cố định,

đường phản ứng Cournot của hãng 2: Q2 = 22,5 – 0,5Q1

Đường phản ứngcủa hãng 1

Cân bằng CournotĐường hợp đồng

0 11,25 15 22,5 45 Q2

Trang 3

Bài tập tổng hợp cournot + Stackelberg: tự làm

Một nhà độc quyền bị 2 hãng chi phối Giả sử 2 hãng này có chi phí trungbình giống nhau là AC1 = AC2 =4 Cầu thị trường là P = 90 – Q

a Viết phương trình đường phản ứng cho mỗi hãng?

b Tìm cân bằng cournot ở cân bằng lợi nhuận của mỗi hãng là bao nhiêu?

c Nếu hãng 1 là người đi trước, hãng 2 là người đi sau thì sản lượng và lợinhuận như của mỗi hãng là bao nhiêu?

e Vẽ đồ thị minh họa các kết quả trên

Bài tập 3: Mô hình Bertrand( cạnh tranh giá khi sản phẩm đồng nhất)

Nhà lưỡng độc quyền có hàm cầu thị trường là: P = 45 – Q Trong đó Q làtổng sản lượng của cả hai hãng( Q = Q1 + Q2), giả định mỗi hãng cung 1 nửathị trường và giả sử có chi phí cận biên: MC1 = MC2 = 4,5

a. Mỗi hãng sẽ đặt giá và sản lượng là bao nhiêu để tối đa hoá lợi nhuận?

0 11,25 22,5 Q2

Trang 4

b Vẽ đồ thị minh họa

Lời giải:

a. Để tối đa hóa lợi nhuận mỗi hãng lựa chọn quyết định sản xuất trên cơ

sở 2 hãng này cạnh tranh bằng cách định giá đồng thời:

toàn bộ thị trường => động cơ sẽ là cắt giảm giá, nhưng sẽ bị thiệt hơn dogiá giảm, vì thế nên cân bằng Nash là thể hiện sự cạnh tranh cho đến khi:

Bài tập 4: Cạnh tranh giá khi sản phẩm có sự khác biệt

( cân bằng Nash về giá)

Nhà lượng độc quyền có chi phí cố định bằng 12,1875$, chi phí biến đổibằng không, với các hàm cầu sau:

Trang 5

trong đó P1 và P2 là giá mà các hãng 1 và 2 đặt

Q1 và Q2 là số lượng của hai hãng bán được

a Dựa vào mô hình Cournot, tìm hàm phản ứng của mỗi hãng để tối đa hoálợi nhuận?

d Giả sử 2 hãng cấu kết với nhau cùng định giá chung để tối đa hoá lợinhuận Hãy xác định mức giá chung đó và hãy tính lợi nhuận của mỗi hãng

Lời giải:

a Nếu cả 2 hãng đặt giá cùng một lúc thì có thể sử dụng mô hình cournot

để xác định hàm phản ứng của mỗi hãng, mỗi hãng sẽ chọn giá của mình vàcoi giá của đối thủ là cố định

Tổng doanh thu của hãng 1: TR1 = P1 Q1 = P1(18 – 3P1 + 1,2P2)

= 18P1 – 3P12 + 1,2P1 P2

 Doanh thu biên của hãng 1: MR1 = 18 – 6P1 + 1,2P2

Hãng tối đa hoá lợi nhuận tại MR = MC

c Lợi nhuận thu được từ mỗi hãng: П1 = П2 = P.Q – TC

Trang 6

nhà độc quyền sử dụng tối ưu nhà máy của mình.

b Mức sản lượng và giá bán tối ưu của cả tập đoàn(cartel) bằng bao nhiêu?

c Để tối thiểu hóa chi phí của cả tập đoàn thì sản lượng của mỗi hãng nhỏ

Đường phản ứngcủa hãng 1

Cân bằng NashCân bằng cấu kết

0 3,75 5 P2

Trang 7

e Minh họa các kết quả trên cùng một đồ thị.

Trang 8

Bài tập tự làm

Một Cartel có 2 thành viên với các đường chi phí cận biên tương ứng là:

MC1 = 15 + Q1, MC2 = 20 + Q2

Cầu về sản phẩm của cartel là P = 150 – Q

a Tìm đường chi phí cận biên tổng cộng cho cartel

b Tìm mức sản lượng và giá bán tối đa hóa lợi nhuận cho cartel

c Để tối thiểu hóa chi phí cho mức sản lượng trên, cartel phải phân chia sảnlượng cho các thành viên như thế nào?

d Minh họa các kết quả trên

Bài tập 6: Mô hình chỉ đạo giá

giữ vai trò chỉ đạo giá với hàm TCL = 10Q + 0,5Q2 và nhiều doanh nghiệpnhỏ với đường cung tương ứng: P = 0,25QN

bao nhiêu?

0 0,5 1,5 2 3,5 6 12 Q

MC1=2+2Q1

MC2=1+2Q2

MCT = 1+2Q (Q≤0,5) 1,5+Q (Q>0,5)

D MR

Trang 9

Lời giải:

a Xác định đường cầu của hãng lớn DL

Điểm chặn trên đường cầu của hãng lớn DL được xác định tại MCN = P

Trang 10

Bài tập 7: Mô hình chỉ đạo giá( Đường cầu của hãng lớn gẫy khúc)

Thị trường sản phẩm M có đường cầu D: Q = 200 – 10P bao gåm 1 hãng

nhỏ với đường cung tương ứng SN : MCF = 3,5 + 0,1QN

a Hãy xác định đường cầu của hãng lớn

b Tính giá bán, sản lượng của hãng lớn?

c Hãng nhỏ đảm nhận mức sản lượng là bao nhiêu nếu hãng lớn giữ vai tròchỉ đạo giá?

d Minh họa các kết quả trên bằng đồ thị

Lời giải:

a Xác định điểm gẫy

MCN = 3,5 + 0,1Q  Q = 0 => MCN = 3,5 => PG = 3,5

=> QT = 200 – 10P  Q = 200 – 10.3,5 = 165  QG = 165

Xác định đường cầu của hãng lớn DL

Điểm chặn trên đường cầu của hãng lớn DL

MC N

D L

DT

Trang 12

Bài tập 8: Bài tập tổng hợp

Một nhà độc quyền có tổng chi phí là TC = 5 + 25Q Cầu về sản phẩm củanhà độc quyền này là P = 125 – Q Trong đó giá và chi phí tính bằng trămnghìn đồng, sản lượng tính bằng nghìn đơn vị

a Giá và sản lượng để nhà độc quyền tối đa hoá lợi nhuận là bao nhiêu?Tính lợi nhuận tối đa mà hãng này thu được?

b Giả sử thị trường sản phẩm này xuất hiện thêm một hãng thứ 2 hoàn toàngiống hãng 1 tham gia vào thị trường và cạnh tranh với nhau thì giá, sảnlượng của thị trường là bao nhiêu? mỗi hãng sẽ thu được lợi nhuận là baonhiêu?

c Nếu các hãng hành động theo lối không hợp tác thì ở cân bằng Cournotgiá sẽ là bao nhiêu? Lợi nhuận của mỗi hãng là bao nhiêu?

MRL

200 Q

123,125

165

Trang 13

d Giả sử hãng thứ nhất là người đi trước, theo mô hình Stackelberg tìm sảnlượng của mỗi hãng, giá thị trường và lợi nhuận của mỗi hãng.

e Vẽ đồ thị minh họa ở tất cả các câu

MR

Trang 14

Cân bằng thị trường tại kết hợp 2 hàm phản ứng (1) và (2)

giải hệ phương trình 2 hàm phản ứng này

Đường phản ứngcủa hãng 1

Trang 15

0 25 50 Q2

Đường phản ứngcủa hãng 2

Trang 16

BÀI TẬP TÓM TẮT SÁCH

Tên sách: Tư duy nhanh và chậm

Tác giả: Daniel Kahneman

Mở đầu, Daniel Kahneman nói về cơ chế tư duy nhanh Sự hình thành hai hệthống tư duy là Hệ thống 1 và Hệ thống 2

Hệ thống 1: Hoạt động theo cơ chế tự động và mau lẹ, với rất ít hoặc hầunhư không cần cố gắng và không tự động kiểm soát

Hệ thống 2: Tập trung chú ý đối với những hoạt động tư duy đòi hỏi sự nỗlực, bao gồm những phép tính phức tạp Có thể hiểu rằng, hệ thống 2 đảmnhiệm phần tự chủ trong mỗi chúng ta

Chúng ta sẽ không thể vừa lái xe rẻ trái vừa thực hiện một phép tính nhân vớinhiều con số

Hãy xem hai đoạn thẳng a b bên dưới, theo bạn đoạn nào sẽ dài hơn?

a

b

Đúng như tác giả kỳ vọng, thoạt nhìn mọi người đều cho rằng a<b và đó làkết luận từ hệ thống 1 của bạn Nếu đo đạc cẩn thận thì 2 đoạn này có độ dàinhư nhau

Câu trả lời đầu tiên bạn đưa ra không đòi hỏi sự cố gắng và đồng tử trongmắt bạn không giãn ra, nhưng khi đo đạc cẩn thận và so sánh thì bạn phải tậptrung khiến đồng tử gian ra và co lại khi kết thúc đo đạc

Quy luật phổ biến về việc “huy động ít sự nỗ lực” áp dụng được trong cảlĩnh vực nhận thức lẫn thể chất là nếu có nhiều cách để đạt được mục tiêu conngười ta sẽ chọn thực Chỉ có Hệ thống 2 mới hoạt động tuân theo các nguyêntắc, so sánh các đối tượng trên vài tiêu chí khác nhau và đưa ra những lựa chọnhợp lý nhất giữa các phương án Hệ thống 1 nó chỉ đơn giản là phát hiện ra cácmối liên hệ và nổi trội hơn ở khoảng phân tích thông tin về một vấn đề, nhưngkhông thể xử lý nhiều chủ đề cùng một lúc

Để duy trì một hoạt động liên tục đòi hỏi sự nỗ lực tự chủ hơn nhiều so vớikhả năng tự nguyện tập trung Một khái niệm khác đặc sắc trong chương 3 này-dòng chảy Ở trong dòng chảy ta tập trung cao độ không biết mệt mỏi khiến họ

Trang 17

đánh mất cảm giác về thời gian, về bản thân, về cả rắc rối cá nhân Ta sẽ cảmthấy vui sướng khi ở trong tình trạng ấy Rất nhiều hoạt động có thể tạo ra cảmgiác dòng chảy như : vẽ tranh, đua mô tô hay viết sách,

Thường mọi người tự tin thái quá, đặt quá nhiều lòng tin vào trực giác củabản thân Hệ thống 2 khá “lười biếng” rõ ràng chúng ta có thể nỗ lực tư duy,

dù ở mức độ tối thiểu, nhưng chúng ta lại khó chịu với việc tư duy và cốtránh đụng độ với nó càng ít càng tốt

Hệ thống 1 thì bốc đồng và trực giác; Hệ thống 2 thì có khả năng lý trí và rấtthận trọng Những người có khả năng kiềm chế bản thân, tập trung tốt hơn

về cơ bản sẽ đạt được những thành tích cao hơn trong các bài kiểm tra trítuệ

Sự kích hoạt liên tưởng: ý tưởng này là điểm khởi phát cho rất nhiều ýtưởng khác, chúng xuất hiện ào ạt như thác đổ trong trí não của chúng ta Banguyên tắc của sự liên tưởng: sự tương đồng, sự liên tưởng về mặt thời gian,địa điểm và tính hệ quả Thật chất “bạn hiểu về bản thân ít hơn nhiều so vớibạn tưởng”

Ví dụ: Khi nói đến cụ già chúng ta có thể đi chậm hơn sau đó-hiệu

ứng mồi Hiệu ứng mồi rất kì diệu, khi nghe “ dù có thế nào cũng

hãy cố gắng cư xử bình tĩnh và hòa nhã” ta dường như được đền

đáp bằng cảm giác bình tĩnh và hòa nhã vậy.

Thả lỏng là dấu hiệu cho thấy mọi thứ đang diễn ra bình thường Căngthẳng là dấu hiệu cho thấy có vấn đề xuất hiện, đòi hỏi hệ thống 2 phải tăngcường cảnh giác Căng thẳng và nỗ lực: người ta nhận thấy sự xuất hiện củanhận thức căng khi bộ máy nỗ lực của hệ thống 2 tham gia vào quá trìnhnhận thức Khi con người cảm thấy căng thẳng, bộ não có xu hướng khởiđộng hệ thống 2, biến đổi cách tiếp cận của cá thể từ chế độ bản năng thôngthường sang chế độ bản năng phân tích cẩn thận hơn

Thả lỏng, tâm trạng và trực giác: Tâm trạng có ảnh hưởng đến hệ thống 1;khi chúng ta cảm thấy không thỏa mái, không vui chúng ta đánh mất sự nhạycảm của trực giác

từ khi sinh ra chúng ta đã có ấn tượng về quan hệ nhân quả, mà không phụthuộc vào ý thức về sự tồn tại của nó Chúng ta thường không chấp nhận

Trang 18

được sự thật đơn giản-thiếu may mắn, ta luôn cần một nguyên nhân cụ thể lígiải cho sự thật đó.

Một quyết định rõ ràng đã được đưa ra nhưng ta không hề biết Hệ thống

1 không có những phương án thay thế, thậm chí nó còn không nhận thứcđược thực ra còn có những phương án khác Ý thức về hoài nghi vốn không

có trong danh mục của Hệ thống 1; Sự mơ hồ và hoài nghi thuộc về chứcphận của Hệ thống 2

Sai lệch trong niềm tin và khẳng định:

Khi Hệ thống 2 đang bận rộn với một nhiệm vụ nào đó, chúng ta sẽ tintưởng hầu hết mọi thứ Hệ thống 1 vốn có xu hướng cả tin vào những sailệch mang tính hệ thống, còn Hệ thống 2 thì đảm nhận vai trò hoài nghi vàngờ vực, nhưng đôi khi Hệ thống 2 bị bận rộn và thường xuyên lười biếng.Thực vậy, thực tế con người dường như bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi nhữngthông điệp vô nghĩa, như các quảng cáo thương mại, nhất là khi họ đang mệtmỏi và kiệt sức

Hệ thống 2 chịu trách nhiệm, với khả năng phản kháng lại những đề xuất

từ Hệ thống 1, chậm rãi xử lý mọi thứ và áp đặt những phân tích logic Suynghiệm là một trong những chức năng của Hệ thống 2 Trong những hoàncảnh nhất định, Hệ thống 2 giống nhà biện hộ cho xúc cảm của Hệ thống 1hơn là một nhà chỉ trích những cảm xúc ấy và nó giống một nhà bảo lãnhhơn là một người thúc ép

Hệ thống 1 vô cùng quen thuộc với một dạng thức tư duy được nhận diệnmột cách tự động và dễ dàng liên kết nhân quả giữa các biến cố Chúng ta

có thể thất bại trong việc kiểm định một giả thuyết mà trong thực tế giảthuyết này đúng Việc sử dụng một lượng mẫu đủ lớn là cách duy nhất nhằmgiảm thiểu rủi ro này Hệ thống 1 chạy trước thực tế trong hoạt động tạo lậpmột hình ảnh sống động dựa trên sự phiên giải của những dấu hiệu rời rạc.Một cách vô thức đối với việc đi tới các kết luận sẽ diễn ra như thể nó đã tinvào quy luật số nhỏ

Có hai cơ chế khác nhau tạo ra hiệu ứng mỏ neo-mỗi cơ chế dành chomột hệ thống Một dạng thức của mỏ neo diễn ra trong quá trình điều chỉnhthận trọng, hoạt động của hệ thống 2 và có một loại neo đậu xảy ra bởi mộthiệu ứng mồi, một biểu hiện tự động của hệ thống 1 Mỏ neo để điều chỉnh:

nó bao hàm sự điều chỉnh hệ thống 2 có chủ đích trong sự định hướng trên lýthuyết từ một điểm mỏ neo Mỏ neo tạo hiệu ứng mồi: Sự gợi ý và neo đậucùng được lý giải bởi cùng một sự vận hành tự động của hệ thống 1

Cho tới thời điểm này, bạn có thể được cam đoan rằng các hiệu ứng mỏneo đôi lúc do hoạt động mồi (gợi ý), đôi lúc do sự điều chỉnh không đủ có ởkhắp nơi sinh ra Các vận hành về mặt tâm lý này sản sinh ra sự mỏ neo,khiến chúng ta dễ bị ảnh hưởng nhiều hơn những gì phần lớn chúng ta mong

Trang 19

muốn Và dĩ nhiên chỉ có số ít người có khả năng và thích thú khai thác sự

cả tin của chúng ta

Chúng tôi đã thấy trong thảo luận về “quy luật số nhỏ” rằng một thôngđiệp, trừ khi nó bị loại bỏ ngay lập tức như thể một lời nói dối, sẽ có cùngmột tác động lên hệ thống liên tưởng bất chấp độ tin cậy của chúng Tuynhiên, bạn nên thừa nhận rằng bất cứ con số nào xuất hiện trên bàn đàmphán đều có một hiệu ứng neo đậu lên bạn và nếu những tỷ lệ ấy quá cao bạnnên vận động bản thân (Hệ thống 2 của bạn) chiến đấu với hiệu ứng ấy Quátrình dẫn tới phán quyết thông qua tính sẵn có dường như có liên quan tớimột chuỗi lập luận phức hợp Các chủ thể có được một sự trải nghiệm vềtính liền mạch giảm dần khi họ sản sinh ra các tình huống Họ hiển nhiên cónhững kỳ vọng về thang điểm mà tại đó tính liền mạch bị suy giảm, vànhững kỳ vọng này là sai: Nỗi khó khăn của việc bắt kịp với những tìnhhuống mới gia tăng nhanh chóng hơn họ dự tính Đó là tính liền mạch thấpbất ngờ khiến cho những người đã được yêu cầu liệt kê mười hai tình huống

để mô tả bản thân mình như là kém quyết đoán Khi điều bất ngờ được loại

bỏ, tính liền mạch thấp không còn ảnh hưởng tới sự xét định Quy trình này

có vẻ như bao hàm một chuỗi các kết luận phức tạp Liệu Hệ thống 1 tựđộng có đủ khả năng? Câu trả lời đó là trong thực tế không có bất cứ lậpluận phức hợp nào được dùng đến Đặc trưng cơ bản của Hệ thống 1 là cókhả năng thiết lập ra các kỳ vọng và bị làm cho ngạc nhiên khi những kỳvọng này bị xâm phạm Cơ chế này cũng tìm ra các lý do có thể đối với mộtđiều ngạc nhiên Hơn thế nữa, Hệ thống 2 có thể điều chỉnh nhanh chóngnhững kỳ vọng của Hệ thống 1, bởi vậy một biến cố mà thông thường đã cóthể gây ngạc nhiên thì giờ đây gần như là rất đỗi bình thường

Những phương pháp suy nghiệm dựa trên giá trị sẵn có và tác động nódẫn dụ niềm tin của công chúng và những quan điểm ấy chắc hẳn bị sai lệch,ngay cả khi họ thường được chỉ đúng đường Tâm lý học nên cảnh báo về ýđịnh của các chính sách rủi ro vốn được kết hợp từ sự am tường của cácchuyên gia với các cảm xúc và khả năng trực giác của công chúng Đây làmột tầng (thác) giá trị sẵn có: một điều trái với dự đoán, nó bị thổi phồng bởigiới truyền thông và công luận cho tới khi nó tràn ngập trên màn hình TVcủa chúng ta và trở thành vấn đề bàn luận của tất thảy mọi người

Khi một phân tích không chính xác thuộc về trực giác được tạo ra, Hệthống 1 và Hệ thống 2 đều nên bị quy kết Hệ thống 1 đã gợi ra trực giáckhông chính xác và Hệ thống 2 đã tán thành theo nó và đã thể hiện nó trênmột phân tích Tuy nhiên, ở đây có hai lý do giải thích hợp lý cho sự thất bạicủa Hệ thống 2, đó là do vấn đề này nằm ngoài khả năng của nó hoặc do nólười biếng không chịu vận động

Trang 20

Để ngăn chặn phản đối tiềm tàng mà sự liên tưởng ngụy biện cũng có thể

là do một sự hiểu sai về xác suất, chúng tôi đã dựng nên một luận đề đòi hỏi

có những phân tích về xác suất, nhưng tại đó các biến cố đã không đượcmiêu tả bằng lời và thuật ngữ xác suất đã không hề xuất hiện Cho thấy, cái

ít hơn là cái giá trị hơn, đôi lúc ngay cả trong sự đánh giá chung

Trong hầu hết các tình huống, một sự so sánh trực tiếp khiến người ta cẩntrọng hơn và logic hơn Nhưng không phải luôn luôn vậy Đôi lúc khả năngtrực giác đánh bại tính logic ngay cả khi câu trả lời đúng đã hiện rõ trướcmắt bạn

Nói về quan hệ nhân quả lấn át thống kê:

Có hai dạng hệ số gốc: Hệ số gốc thống kê là những hiện thực về độ phổbiến nói chung của một đối tượng, nhưng không thích hợp để miêu tả về mộttrường hợp cá biệt, ít được coi trọng; Hệ số gốc nhân quả thay đổi quanđiểm của bạn về một tình huống cá biệt nảy sinh như thế nào?

Về mặt đạo đức, khi đánh giá về một nhóm, nên tính đến các hệ số gốcnhư những thực tế mang tính thống kê, thay vì dựa trên những thực tế giảđịnh về một số cá nhân Nói cách khác là sự phản đối các hệ số gốc nhânquả Hệ thống 1 dàn xếp với những câu chuyện tại đó các yếu tố được liênkết với nhau theo quan hệ nhân quả, nhưng lại yếu thế trong lập luận thống

kê Hệ số gốc nhân quả được vận dụng; các hiện thực thống kê bị bỏ qua.Người ta sẽ không đưa ra một kết luận dựa trên hệ số gốc mà nó lại bị mâuthuẫn với những niềm tin khác Qua đó các chủ thể miễn cưỡng rút ra kếtluận về một trường hợp cụ thể từ tổng thể nhưng lại sẵn lòng suy ra vấn đềtổng thể từ một trường hợp cụ thể

Tiếp nối một màn trình diễn kém thương là một màn trình diễn tiến bộ vàngược lại, kết quả đó chẳng liên quan đến thưởng phạt Đó là hồi quy vềmức trung bình

Thành công = may mắn + tài năng.

Bạn quan sát thấy sự hồi quy khi bạn dự đoán một biến cố trước đó và từmột biến cố sau đó sẽ có thể thuyết phục rằng sự hồi quy không phải là lờigiải thích cho nguyên nhân

Các lí giải mang tính nhân quả sẽ lộ diện khi sự hồi quy bị phát hiện Hệthống 2 khó để hiểu và lĩnh hội mối quan hệ giữa hệ số tương quan và sự hồiquy bởi sự lí giải nhân quả của hệ thống 1 Nhiều phán đoán được chi phốibởi sự kết hợp giữa các phân tích và trực giác Hệ thống 1 gây ra sự hoán đổigiữa việc đưa ra dự đoán và đánh giá Quá trình này đảm bảo sinh ra những

dự đoán sai lệch mang tính hệ thống, chúng phớt lờ quy luật hồi quy về mức

Trang 21

trung bình Phương pháp điều chỉnh trực giác khi dự đoán sẽ xây dựng dựatrên trực giác của bạn nhưng nó tiết chế và chuyển dịch về mức trung bình Nếu dự đoán của bạn không sai lệch, bạn sẽ không bao giờ có được trảinghiệm thỏa mãn hoàn toàn khi đưa ra dự đoán cực đoan mà hoàn toànchính xác Các dự đoán cực đoan và sự sẵn sàng dự đoán các biến cố hiếm

từ bằng chứng kém xác thực là biểu hiện của hệ thống 1 Hệ thống 2 cần có

sự tôi luyện đặc biệt về sự hồi quy

Đối với ảo tưởng về sự hiểu biết:

Taleb cho rằng chính loài người tự lừa dối bản thân bằng cách tạo dựngcho quá khứ những giá trị mơ hồ và tin tưởng rằng đó là sự thật Hiệu ứnghào quang giải thích việc bạn không xử lí được với lượng thông tin giới hạn

và bạn xây dựng một câu chuyện khả thi, đơn giản dễ hiểu, mạch lạc Chúng

ta tự an ủi rằng mọi thứ có nghĩa xuất phát từ sự tìm kiếm an toàn: chúng ta

vô tri trước sự vô tri của chính chúng ta

Hệ quả của việc không thể khôi phục hoàn toàn niềm tin cũ là bạn sẽ đánhgiá thấp những biến cố từng khiến bạn ngạc nhiên trong quá khứ Sai lệchnhận thức muộn khiến những nhà quan sát đánh giá chất lượng của mộtquyết định không dựa trên quá trình mà dựa trên kết quả Chúng ta lên ánnhững người ra quyết định vì những lí do chính đáng nhưng kết quả khôngnhư mong muốn và ít ghi nhận cho những nước cờ thành công Đó là sailệch vị kết quả

Mọi người luôn phóng đại tầm ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo lên kết quảcủa các doanh nghiệp Đứng trước vòng quay may mắn và sự hồi quy, các

mô hình thành công có thể chỉ là những ảo tưởng Ta biết các dự đoán chỉkhá hơn những phỏng đoán ngẫu nhiên một chút nhưng vẫn tiếp tục tintưởng và hành động như thể nó là đúng Đó là ảo tưởng về tính xác thực Lĩnh vực chứng khoán (CK) được xây dựng phần lớn dựa trên một ảotưởng kĩ năng Rất ít trong số những tay chơi CK hiểu được họ đang chơi tròmay rủi Các nghiên cứu thống kê hành vi cung cấp thông tin cơ bản màngười ta thường lờ đi khi chúng xung đột với những ấn tượng có được từ sựtrải nghiệm của cá nhân họ Những lí do hổ trợ cho ảo tưởng là: những nhà

tư vấn CK đang thực hành những kỹ năng cấp cao nhưng điều đó là chưa đủ

để thành công và văn hóa nghề nghiệp

Không thể tránh khỏi sai lầm trong dự báo vì thế giới quá khó lường,không thể coi sự chắc chắn mang tính chủ quan là một dụng cụ đo lường

Trang 22

chính xác Không trông đợi các dự đoán dài hạn của các học giả, dù các dựđoán ngắn hạn của họ có giá trị.

Trong “Môi trường có độ chắc chắn thấp”, độ chính xác của các chuyêngia chỉ bằng hoặc kém hơn kết quả do thuật toán đưa ra Lí do là: suy nghĩphức tạp của các chuyên gia có lẽ hiệu quả trong trường hợp riêng lẻ, nhưnglàm giảm đi sự chắc chắn; sự mâu thuẫn khi phải đưa ra các ý kiến tức thờitrước những thông tin phức tạp Trong môi trường có độ chắc chắn thấp, cácquyết định nên đặt vào công thức Sự thiên vị đối với tự nhiên và sự truy xétnguyên nhân gây ra các dự đoán sai là những lí do con người ác cảm vớithuật toán Không nên tin tưởng dễ dàng vào thuật toán nhưng cũng khôngđược bỏ qua nó

Mô hình “Quyết định nhận thức Mồi” gồm hai giai đoạn: 1 phương phápchưa chắc chắn ập đến bởi chức năng của bộ nhớ liên tưởng-hệ thống 1; giảđịnh trong đầu xem phương án có hiệu quả hay không-hệ thống 2 Trực giáckhông phải cái gì khác mà là nhân thức Biết mà không biết là phẩm chất củatrực giác, là 1 phạm trù bình thường

Một số trực giác có thể tôi luyện và đạt được nhờ khả năng lĩnh hội của sợhãi: gán 1 trực giác cho cảm giác nếu nó gắn với trải nghiêm xấu và nhờ vàongôn từ

Hai điều kiện hình thành kỹ năng: môi trường có đủ quy luật để đưa ra dựbáo, cơ hội để học hỏi những quy luật thông qua luyện tập Cơ hội để bồiđắp trực giác phụ thuộc vào chất lượng, tốc độ phản hồi, tình huống thíchđáng để thực hành Không biết giới hạn bản thân lí giải tại sao các chuyêngia thường quá tự tin ở bản thân

Cái nhìn từ bên trong của Daniel Kahneman và Amos nói đến đó là sựquyết định của họ, tự nguyện, ‘chấp thuận nhận định về tương lai của dự án

mà chúng tôi theo đuổi’ Ngoại suy là một sai lầm, họ đã dự báo dựa trênthông tin trước mắt: sách - vài chương đã được soạn trước đó nhưng chúng

dễ hơn những chương sau, tinh thần và trách nhiệm, sự tận tâm đối với dự án

ở đỉnh cao và từ đó dẫn đến sai lầm trong suy nghĩ ‘không có cách nào đểchúng tôi có thể đoán trước được dự án phải kéo dài quá lâu vì có nhữngbiến cố xuất hiện (ví dụ :ly hôn, ốm đau, thủ tục hành chính ) khi đối diệnvới cái nhìn từ bên ngoài và cái nhìn bên trong thì cái nhìn từ bên ngoài luôn

bị phớt lờ hoặc được chú ý nhưng ở vị trí yếu thế, có thể nói là không chút

cơ hội để cái nhìn bên ngoài có thể giành chiến thắng

Trang 23

Mọi người đã đưa ra quyết định của mình dựa trên sự lạc quan ảo tưởnghơn là cân nhắc lý trí về lợi ích có được khi thành công và tổn thất ( cái giáphải trả) cho sự thất bại và khả năng xảy ra của từng trường hợp Có lẽ là tất

cả mọi người đều ước tính rất cao về lợi ích và đánh giá rất thấp về chi phí

mà họ phải trả, chỉ nghĩ đến thành công mà không nghĩ sẽ thất bại và bỏ quarất rất nhiều sai sót tiềm ẩn hiện tại và tương lai và đén cuối cùng dẫn đến sựsai lầm

Con người luôn thực hiện những hành động và ra quyết định quá chủquan Chỉ dựa vào những thông tin trước mắt mà không nhìn đến nhữngnguồi thông tin khác đã có quyết định chủ quan dựa trên sự lạc quan quámức Họ luôn đặt mình vào những trường hợp không chắc phần thắng với sựngoan cố, chỉ nghĩ đến thắng mà không nghĩ đến thua Đó là biểu hiện của

sự ‘Quá liều lĩnh’ Khi đặt chân vào thị trường, mọi người điều chăm chútđến sự sinh lợi,tồn tại và làm sao phát triển cái mà mình đang thực hiệnnhưng lại quên mất rằng xung quanh họ cũng không ít người cũng muốnđiều tương tự con người luôn đặt sự liều lĩnh của mình lên hàng đầu và luônnghĩ ‘ số mệnh của họ gần như nằm trong tay họ’ điều họ nghĩ là đúngnhưng họ hầu hết điều không nhìn, nghĩ đến việc mình có bao nhiêu đối thủngoài kia và họ mạnh hay yếu hơn mình, sự cạnh tranh có gọi là công bằngvới họ ??? Đó gọi là sự sao nhãng cạnh tranh- là yếu tố làm nên việc ‘số

mệnh của họ gần như nằm trong tay họ’ Họ quên đi việc mình phải cạnh

tranh và sao nhãng nó có thể làm bạn mất đi tất cả và dẫn đến thất bại

Xem ví dụ của Bernoulli :

‘Tài sản hôm nay của Jack và Jill là 5 triệu như nhau.

Ngày hôm qua, Jack có 1 triệu và Jill có 9 triệu

Câu hỏi là ‘ mức thỏa mãn của họ có như nhau ?’

Theo học thuyết của Bernoulli giả thiết rằng thỏa dụng của khối tài sản lànhững gì khiến người ta thỏa mãn hơn hoặc ít thỏa mãn hơn thì ở trường hợpnày cả Jack và Jill đều có thỏa mãn như nhau, đúng như vậy không? Tấtnhiên là không vì Jill của ngày hôm nay không vui, thấy chán nản vì hụt 4triệu và Jack vui khi có thêm 4 triệu Có ai cảm thấy vui khi tài sản hao hụt,thất thoát? có thể học thuyết Bernoulli sai trong trường hợp này Thử ví dụkhác:

‘Hiện tại Anthony và Betty có lượng tài sản lần lượt là 1 và 4

triệu.

Họ sẽ từ bỏ tài sản hiện tại để nhận lấy một lựa chọn trong hai

rằng : nếu không tham gia may rủi thì sẽ nhận giá trị chắc chắn

Trang 24

là 2 triệu và nếu tham gia may rủi thì với tỷ lệ 50/50 họ sẽ nhận 1

trong 2 giá trị là 1 triệu với 4 triệu.’

Ở trường hợp này bạn có nghĩ Betty sẽ tham gia lựa chọn không trong khitài sản sẽ bị mất ? Betty sẽ mất 2 triệu nếu chọn giá trị chắc chắn và có thểmất 3 triệu hoặc tài sản giữ nguyên nếu tham gia may rủi Betty sẽ khôngtham gia lựa chọn trong tình huống này Còn Anthony thì chắc chắn có vì cơhội nhận thêm tài sản là chắc chắn Nếu lựa chọn may rủi thì Anthony khôngmất tiền mà có 50% tăng thêm 3 triệu nếu Anthony nhận giá trị chắc chắnthì lượng tài sản cũng tăng thêm 1 triệu đứng trên lập trường của mỗi ngườithì với Anthony sẽ nghĩ giá trị mình đạt được và Betty sẽ nghĩ mình bị mấtbao nhiêu Từ đó ta thấy được cùng ở trạng thái tài sản như nhau nhưng tâm

lý là khác nhau Học thuyết Bernoulli vẫn thiếu sót

Bàn về lý thuyết triển vọng:

Lý thuyết triển vọng phức tạp hơn học thuyết thoả dụng Thuyết triển vọnggiữ một vai trò thiết thực khi đánh giá về những kết quả tài chính và trở nênphổ biến đối với rất nhiều quy trình tự động về nhận thức, phán quyết vàcảm xúc Các đặc điểm vận hành: Sự đánh giá có liên quan đến một điểmtham chiếu trung lập, đôi khi được biết đến như là một " mức thích nghi".Nguyên lý về việc làm giảm độ nhạy được áp dụng trong cả khía cạnh cảmgiác lẫn sự đánh giá về khả năng thay đổi tổng tài sản Tâm lý sợ sự mấtmát, bao giờ con người cũng cảm thấy cái mất đi luôn lớn hơn cái được.Đứng trước mọi sự việc, con người luôn có phản ứng rất mạnh mẽ với sựthất bại hơn là phản ứng với sự thành công, lợi ích có được

Con người luôn có tâm lý sợ sự mất mát là do sự tổn thất, mất đi trong sựviệc luôn hiện hình rõ hơn những lợi ích mà ta thu được Ví dụ: Trò chơimay rủi với 50% mất 100$ và 50% có được 200$ Con người sẽ không thamgia Hay ví dụ khác là 50% mất 200$ và 50% nhận 20.000$ thì trường hợpnày lại khác, con người sẽ không bỏ qua trò chơi này vì giá trị nhận đượchiện thị rất rõ và lôi cuốn sự nhiệt huyết trong con người để tham gia

Khi trong tay của mỗi người sở hữu một thứ gì đó mà đối với họ có giá trị

và được xem là quan trọng với họ nhưng có người lại đề nghị trao đổi hoặcmua bán lại với thứ khác mã bạn cũng cần hay giá trị cao hơn thì nay lúc nàycon người xuất hiện trạng thái phân vân, cân đo đong đếm để ra quyết địnhnhưng khi quyết định thì tâm trạng rất miễn cưỡng với cuộc trao đổi haymua bán vì tâm lý sợ sự mấy mát vẫn hiện hữu trong họ

Một thương gia, góc nhìn của họ luôn hướng về lợi nhuận tối đa mà họđược nhận Họ chỉ thực hiện giao dịch, cuộc trao đổi khi họ cảm thấy họ cólợi còn đối với sự mất mát của họ, họ luôn cân nhắc rất kỹ để quyết định của

họ không gây thổn thất cho họ Không chỉ những thương gia mới có suynghĩ đó mà bất kì ai cũng có suy nghĩ như thế, không ai muốn mình bị thổn

Trang 25

thất, mất mát Thực tế thì vẫn có những người ra quyết định đều phải nhậnlấy tổn thất vì chi phí của họ bỏ ra lúc nào cũng là tổn thất nên những việcchọn lấy hay từ bỏ cũng là tổn thất cho dù cái họ suy nghĩ là lợi ích nhưnhững thương gia, họ là những người nghèo.

Chúng ta luôn bị thôi thúc mạnh mẽ để tránh những tổn thất hơn là để đạtđược mục tiêu, những lợi ích Điểm tham chiếu là điểm thể hiện ranh giớicủa sự mất mát và những lợi ích Con người thường bị sự sợ hãi với tổn thất,

họ luôn hướng đến điểm tham chiếu bằng cách làm thế nào để tránh được sựtổn hại còn hơn là duy nghĩ làm sao để đạt được mục tiêu và những lợi ích Đối với mỗi người sẽ đối mặt với những lựa chọn mà trong đó sự tổn thấtkhông hề giống nhau, những con người vẫn phải chấp nhận những sự tổnthất đó trong một số trường hợp bắt buộc bởi do có sự bảo vệ của pháp luậtcũng như sự tác động ngược lại từ những hành vi đó của con người đến phápluật hiện hành

Con người sẽ không bao giờ chấp nhận đầu hàng khi còn chút cơ hội để lậtngược tình thế Đó là tâm lý muốn thay đổi, tìm kiếm vận may khi đối mặtvới sự mất mát Mô hình bốn phần là một mô hình thể hiện các hướng màcon người có thể đưa ra lựa chọn, dựa trên tâm lý trốn tránh, tránh né sự tổnthất và muốn đạt được những lợi ích hay các mục tiêu đã đưa ra Con người

bị ám ảnh với sự mất mát và sự được hơn là tài sản, họ đánh giá kết quả theocác trọng số không đồng nhất với xác suất

Việc đặt trọng số quá mức lên nguy cơ nhỏ của một vụ thua kiện lớn thiên

về sự ác cảm rủi ro và sự dàn xếp một khoản tiền vừa phải tương đương vớiviệc mua bảo hiểm nhằm đối phó với biến cố không chắc xảy ra là một phánquyết bất lợi Phép phân tích tương tự được ứng dụng vào từng ô trong môhình bốn phần: Những sai lệch có hệ thống với giá trị dự tính thật tốn kémtrong thời gian dài và quy tắc này ứng dụng cho cả sự ác cảm rủi ro lẫn tìmkiếm rủi ro Việc đặt trọng số quá mức một cách kiên định vào những kếtquả không chắc, một đặc thù của hoạt động ra quyết định theo trực giác kếtcục là dẫn tới những kết quả bi đát

Gần đây, Isarel hay xảy ra các vụ đánh bom trên xe buýt, có khảng 1.3triệu người đi xe buýt nên nguy cơ đánh bom là rất cao Và như vậy tác giảphải lái xe và đi né những chiếc xe buýt mỗi khi gặp đèn đỏ Đây là sự đánhgiá cao và trọng số vượt mức về vụ tai nạn có thể xảy ra trên xe buýt Bêncạnh đó, Các xác suất sinh động như đặt ra hai phần thưởng A lọ có 10 viên

bi và trong đó 1 viên bi màu đỏ chiếm 0.1%, lọ có 100 viên bi trong đó có 8viên bi màu đỏ chiếm 0.08% Như trường hợp này người ta thường chọn lọchứa 100 viên bi vì có nhiều kết quả thắng hơn

Góc nhìn bó hẹp và bao quát trong một trò chơi tung con xúc sắc, nếu bạnthắng bạn có $200 và nếu bạn thua bạn mất $100 Đa số mọi người đều

Trang 26

không thích rủi ro và tất nhiên thõa mãn từ việc nhận $200 sẽ nhỏ hơn so vớiviệc mất đi $100 với 50% thắng 50% thua Tuy nhiên, ở góc nhìn bao quát,khi tung đồng xu lên 2 lần 3, lần thì tại lần 3 kết quả 12.5% thua 300 -37.5% hòa - 37.5 thắng $300 - 12.5% thắng 600 Kết quả đã khả quả hơn.Đây là góc nhìn bao quát Khi tung càng nhiều lần thì rủi ro thua cuộc sẽcàng thấp dần.

Có 2 người bạn đều hâm mộ thể thao, một người bỏ $200 để mua một véxem trận chung kết bóng rổ một người bạn còn lại được người quen tặng chomột vé xem trận chung kết bóng rổ Hôm đó trời bão tuyết lớn, để xem đượctrận bóng rổ thì cả hai phải vượt qua quãng đường 40 dặm Như vậy theobạn ai sẽ là người đi? Tất nhiên người bạn trả tiền cho tấm vé chung kết sẽquyết tâm đi và anh ta đã bỏ qua nguy hiểm liên quan đến tính mạng khivượt qua cơn bão tuyết vì $200 và đây là chi phí anh ta đã bỏ ra trước đóđược xem như là chi phí chìm Theo các nhà kinh tế, các gì đã qua đừng nênnhắc đến Như vậy, anh ta có thêm xem trận chung kết lần sau và không nênđối diện với nguy hiểm từ chi phí chìm của tấm vé $200

Khi xem xét hai tình huống một cách riêng lẻ (1) một em bé bị bỏng ởmức độ vừa phải do bộ quần áo bắt lửa trong lúc em ấy nghịch diêm Công

ty sản xuất đồ ngủ đã không làm ra những bộ đồ chống lửa một cách thõađáng (2) những giao dịch lừa đảo của ngân hàng gây tổn thất cho một ngânhàng khác là 10 triệu đô la

Với sự đánh giá đơn lẻ, các thành viên bồi thẩm đoàn đã quyết định mứcbồi thường cho ngân hàng bị lừa đảo với mức phạt cao hơn so với đứa trẻ.Nhưng khi xem xét cùng lúc, sự đồng cảm cho nạn nhân bị chấn thương vềthể chất chiếm ưu thế hơn và gấp đôi so với đánh giá đơn lẻ, như vậy khibạn đánh giá một cách riêng lẻ sẽ dễ bị dẫn dắt bởi phản ứng xúc cảm của hệthống 1

Adam chuyển từ một xe ngốn nhiên liệu 12mpg sang một chiếc xe ít ngốnhơn ở mức 14 dặm/ga-lông và Beth người có ý thức bảo vệ môi trường,chuyển từ một chiếc xe chạy 30 dặm/ga-lông ssng một chiếc xe với 40 dặm/ga-lông Giả định 2 bác tài chạy quãng đường như nhau Người nào sẽ tiếtkiệm nhiều nhiên liệu hơn khi chuyển đổi Bằng trực giác hệ thống 1 bạnthấy Adam giảm được 1/6 nhiên liệu và còn Beth giảm được 1/3 nhiên liệucủa mình Vì vậy, bạn nghĩ là Beth sẽ tiết kiệm nhiều hơn Bây giờ, với hệthống 2, với quãng đường 1 năm là 10 000 dặm Adam sẽ tiết kiệm được 119ga-lông xăng, Beth tiết kiệm được 83 ga-lông Như vậy, Adam là người tiếtkiệm được nhiều hơn Beth

Hai phác đồ điều trị hiệu quả như nhau nhưng thời gian mỗi phác đồ sẽkhác Nếu mục tiêu là giảm thiểu ký ức của bệnh nhân về sự đau đơn sẽ kéodài thời gian, sự đau đớn sẽ dừng lại ở điểm nhỏ khi kết thúc Nếu mục đích

Trang 27

là giảm thiểu tổng lượng đau đớn thì sẽ tiến hành nhanh gọn Nhưng sự đauđớn sẽ dừng lại ở đỉnh điểm khi kết thúc Khi kết thúc phác đồ điều trị,người bệnh nhân kết thúc sự đau đớn điểm nhỏ sẽ thấy ca phẫu thuật vừa rồi

dễ chịu Nhưng còn người bệnh nhân còn lại sẽ thấy ca phẫu thuật này thật

sự rất đau đớn và không muốn quay lại sử dụng phác đồ điều trị đó nữa Một vở kịch người một cô gái phải giả vờ từ bỏ người mình yêu để theo

sự sắp đặt của cha mẹ, nàng sống trong buồn bã và dẫn đến bệnh nặng Mộtngày, chàng trai người yêu cũ đã nghe tin và trở về tìm nàng Trong mườiphút ngắn ngủi họ bên nhau, cô gái đã thấy những hy vọng sự hạnh phúctình yêu cô vui vẻ tuyệt đỉnh trong mười phút cuối ấy cùng người mình yêu

Dù bắt đầu câu chuyện có bi thảm buồn rầu, nhưng đoạn cuối câu chuyện đãlàm cho người xem với nhiều cung bật cảm xúc và khó quên nhất, như vậynếu cô ấy chết đi và không được gặp người yêu như một cuộc sống bình dịthì sẽ không có gì để nói sau đó Chúng tôi gọi tỷ lệ phần trăm mà một cánhân ở trạng thái khó chịu Nếu một người có 4 giờ đồng hồ trải qua trạngthái khó chịu so tổng giờ hoạt động liên tục trong một ngày là 16 giờ , thì sẽ

có chỉ số U là 25% Ngoài ra chỉ số U này còn cho các hoạt động khác

Ví dụ, khảo sát 1 000 phụ nữ Mỹ thì chỉ số U lfa 29% cho việc đi lại buổisáng, 27% cho công việc, 24% cho việc trông trẻ, 18% cho việc nội trợ, 12%cho việc giao tiếp xã hội và 5% cho việc tình dục Đối với ngày nghỉ thì chỉ

số U cao hơn khoảng 6%

Thu nhập cao không phản ánh được mức thõa mãn cao Vì chúng ta đã bỏqua dần những niềm vui nhỏ hơn của cuộc sống bình dị Tình yêu đến hônnhân, sẽ có được bao nhiêu người cảm thấy hạnh phúc sau hôn nhân và baonhiêu người cảm thấy hôn nhân là một sai lầm Sinh viên ngay từ giảngđường đại học đã có nhiều tham vọng về làm giàu, tự do tài chính, sau 20năm ra trường bao nhiêu người trong số đạt được mục tiêu tự do tài chính,những người không đạt được mục tiêu của mình thì họ có cảm thấy hài lòngvới thu nhập và của cải hiện tại của họ Liệu rằng họ có cảm thấy hạnh phúccho 20 năm sau dù đạt và không đạt được những kết quả, mục tiêu mà họmong muốn Hạnh phúc không mang lại một ý nghĩa giản đơn và nó khôngnên được dùng với ý nghĩa mà mọi người vẫn dùng Đôi khi tiến bộ khoahọc khiến cho chúng ta bối rối hơn

Trên đây là bài tóm tắt của nhóm chúng em, chắc chắn sẽ có nhiều sai sót.Mong thầy ghi nhận sự cố gắng của chúng em Chúng em chân thành cảmơn!

Trang 28

MACRO_2_P3_1: Công đoàn có xu hướng làm tăng chênh lệch tiền lươnggiữa người trong cuộc và người ngoài cuộc do làm:

● Tăng tiền lương trong khu vực có công đoàn, điều có thể dẫn tới hiệntượng tăng cung về lao động trong khu vực không có công đoàn

○ Tăng tiền lương trong khu vực có công đoàn, điều có thể dẫn tới hiệntượng giảm cung về lao động trong khu vực không có công đoàn

○ Giảm cầu về công nhân trong khu vực có công đoàn

○ Tăng cầu về công nhân trong khu vực có công đoàn

MACRO_2_P3_2: Nhận định nào sau đây về lý thuyết tiền lương hiệu quả

● Việc trả tiền lương theo mức cân bằng thị trường có thể cải thiện sức khoẻ,giảm bớt tốc độ thay thế, nâng cao chất lượng và nỗ lực của công nhân.MACRO_2_P3_3: Chính sách nào sau đây của chính phủ không thể giảmđược tỉ lệ thất nghiệp?

○ Thành lập các trung tâm giới thiệu việc làm

○ Hỗ trợ kinh phí cho các chương trình đào tạo lại các công nhân bị thấtnghiệp

○ Giảm tiền lương tối thiểu

○ Giảm tiền lương tối thiểu

○ Phổ biến rộng rãi thông tin về các công việc cần tuyển người làm

MACRO_2_P3_5: Thất nghiệp tạm thời không phát sinh trong trường hợpnào dưới đây?

○ Sinh viên mới tốt nghiệp đi tìm việc làm

○ Một số doanh nghiệp bị phá sản

○ Một số công nhân từ bỏ công việc hiện tại để tìm việc làm mới

● Các công nhân từ bỏ các công việc hiện tại và thôi không tìm việc nữa.MACRO_2_P3_6: Thất nghiệp theo lí thuyết cổ điển xuất hiện khi:

○ Tiền lương hoàn toàn linh hoạt

Trang 29

● Các công việc chỉ có hạn.

○ Cầu về lao động vượt quá cung về lao động tại mức lương hiện hành

○ Thị trường lao động là cạnh tranh hoàn hảo

MACRO_2_P3_7: Các nhà kinh tế tin rằng sự cứng nhắc của tiền lương cóthể là do:

○ Công đoàn

○ Luật về tiền lương tối thiểu

○ Tiền lương hiệu quả

● Tất cả các câu trên đều đúng

MACRO_2_P3_8: Theo lý thuyết về tiền lương hiệu quả, điều nào dưới đâykhông phải là nguyên nhân làm cho năng suất cao hơn đi cùng với tiềnlương cao hơn?

○ Tiền lương cao hơn cho phép công nhân mua được thức ăn giàu dinhdưỡng hơn

○ Tiền lương cao hơn thu hút được các công nhân có chất lượng cao hơn

○ Tiền lương cao hơn có thể làm tăng nỗ lực của công nhân do làm tăng chiphí mất việc

● Tiền lương cao hơn chuyển công nhân vào các thang thuế cao hơn, do đó

họ cần làm việc tích cực hơn để duy trì mức thu nhập sau thuế như cũ

MACRO_2_P3_9: Trong mô hình AS-AD, đường tổng cầu phản ánh mốiquan hệ giữa:

○ Tổng chi tiêu thực tế và GDP thực tế

○ Thu nhập thực tế và GDP thực tế

● Mức giá chung và tổng lượng cầu

○ Mức giá chung và GDP danh nghĩa

MACRO_2_P3_10: Trong mô hình AS-AD, đường tổng cung phản ánh mốiquan hệ giữa:

○ Tổng chi tiêu thực tế và GDP thực tế

○ Thu nhập thực tế và GDP thực tế

● Mức giá chung và tổng lượng cung

○ Mức giá chung và GDP danh nghĩa

MACRO_2_P3_11: Biến nào sau đây có thể thay đổi mà không làm dịchchuyển đường tổng cầu:

Trang 30

○ Đường tổng cầu dịch trái.

○ Đường tổng cầu dịch phải

○ Sẽ có sự di chuyển xuống phía dưới dọc một đường tổng cầu

● Sẽ có sự di chuyển lênp hía trên dọc một đường tổng cầu

MACRO_2_P3_14: Mọi thứ khác không đổi, sự cắt giảm mức giá có nghĩalà:

○ Đường tổng cầu dịch phải

○ Đường tổng cầu dịch trái

● Sẽ có sự di chuyển xuống phía dưới dọc một đường tổng cầu

○ Sẽ có sự di chuyển lên phía trên dọc một đường tổng cầu

MACRO_2_P3_15: Mọi thứ khác không đổi, sự tăng lên của mức giácónghĩa là:

○ Đường tổng cung dịch phải

○ Đường tổng cung dịch trái

○ Sẽ có sự di chuyển xuống phía dưới dọc một đường tổng cung

● Sẽ có sự di chuyển lên phía trên dọc một đường tổng cung

MACRO_2_P3_16: Mọi thứ khác không đổi, sự cắt giảm mức giá có nghĩalà:

○ Đường tổng cung dịch phải

○ Đường tổng cung dịch trái

● Sẽ có sự di chuyển xuống phía dưới dọc một đường tổng cung

○ Sẽ có sự di chuyển lên phía trên dọc một đường tổng cung

MACRO_2_P3_17: Mọi thứ khác không đổi, sự tăng lên của cung tiền danhnghĩa có nghĩa là:

● Đường tổng cầu dịch phải

○ Đường tổng cầu dịch trái

○ Sẽ có sự di chuyển xuống phía dưới dọc một đường tổng cầu

○ Sẽ có sự di chuyển xuống lên phía trên dọc một đường tổng cầu

MACRO_2_P3_18: Mọi thứ khác không đổi, sự cắt giảm cung tiền danhnghĩa có nghĩa là:

○ Đường tổng cầu dịch phải

● Đường tổng cầu dịch trái

○ Sẽ có sự di chuyển xuống phía dưới dọc một đường tổng cầu

○ Sẽ có sự di chuyển xuống lên phía trên dọc một đường tổng cầu

MACRO_2_P3_19: Chính sách tài khoá và tiền tệ thắt chặt sẽ làm cho:

Trang 31

○ Đường tổng cầu dịch chuyển sang phải.

○ Đường tổng cung dịch chuyển sang trái

● Đường tổng cầu dịch chuyển sang trái

○ Đường tổng cung dịch chuyển sang phải

MACRO_2_P3_20: Chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng sẽ làm cho:

● Đường tổng cầu dịch chuyển sang phải

○ Đường tổng cung dịch chuyển sang trái

○ Đường tổng cầu dịch chuyển sang trái

○ Đường tổng cung dịch chuyển sang phải

MACRO_2_P3_21: Các nhà hoạch định chính sách được gọi là đã “thíchứng” với một cú sốc cung bất lợi nếu họ:

● Tăng tổng cầu và làm giá tăng hơn nữa

○ Làm giảm tổng cầu và làm giá giảm

○ Làm giảm tổng cung ngắn hạn

○ Để nền kinh tế tự điều chỉnh

MACRO_2_P3_22: Cú sốc cung có lợi là những thay đổi trong nền kinh tế:

○ Làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang trái kéo theo hiện tượnglạm phát đi kèm suy thoái

○ Làm đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải đồng thời làm tăng

tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế

● Làm đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải đồng thời làmgiảm tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế

○ Làm đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải đồng thời làm tăng

tỉ lệ lạm phát trong nền kinh tế

MACRO_2_P3_23: Cú sốc cung bất lợi là những thay đổi trong nền kinh tế:

● Làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang trái kéo theo hiện tượnglạm phát đi kèm suy thoái

○ Làm đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải đồng thời làm tăng

tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế

○ Làm đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải đồng thời làmgiảm tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế

○ Làm đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải đồng thời làm tăng

Trang 32

MACRO_2_P3_25: Độ dốc của đường tổng cung ngắn hạn có xu hướng:

○ Giảm khi sản lượng tăng

○ Không thay đổi khi sản lượng tăng

● Tăng khi sản lượng tăng

○ Cả 3 ý kiến trên

MACRO_2_P3_26: Đường tổng cung ngắn hạn có xu hướng tương đối thoải

ở mức sản lượng thấp bởi vì:

○ Nhu cầu về tiêu dùng ít co dãnvới giá cả ở mức sản lượng thấp

● Các doanh nghiệp có các nguồn lực chưa sử dụng

○ Lợi nhuận thông thường cao ở phần này của đường tổng cung do đó cácdoanh nghiệp sẵn sàng mở rộng sản xuất

○ Sản lượng cố định

MACRO_2_P3_27: Đường tổng cung thẳng đứng hàm ý rằng:

● Tăng mức giá sẽ không ảnh hưởng đến mức sản lượng của nền kinh tế

○ Tăng giá sẽ cho phép nền kinh tế đạt được một mức sản lượng cao hơn

○ Tăng giá sẽ khuyến khích đổi mới công nghệ và do vậy là thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế

○ Đường tổng cung dài hạn không bao giờ thay đổi vị trí

MACRO_2_P3_28: Một lý do làm cho đường tổng cầu có độ dốc âm là:

○ Mọi người chuyển sang mua sản phẩm thay thế khi giá cả của một loạihàng nào đó mà họ đang tiêu dùng tăng

○ Giống với lý do làm cho đường cầu đối với một mặt hàng cụ thể có độ dốcâm

● Dân cư trở nên khá giả hơn khi mức giá giảm và sẵn sàng mua nhiều hànghơn

○ Khi mức giá trong nước tăng, mọi người sẽ chuyển từ mua hàng ngoạisang mua hàng sản xuất trong nước

MACRO_2_P3_29: Theo hiệu ứng lãi suất, đường tổng cầu dốc xuống bởivì:

○ Mức giá thấp hơn làm tăng giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng tănglên

○ Mức giá thấp hơn làm giảm giá trị lượng tiền nắmgiữ và tiêu dùng giảmđi

● Mức giá thấp hơn làm giảm lượng tiền cần giữ, làm tăng lượng cho vay,lãi suất giảm và chi tiêu cho đầu tư tăng lên

○ Mức giá thấp hơn làm tăng lượng tiền cần giữ, làm giảm lượng cho vay,lãi suất tăng và chi tiêu đầu tư giảm

MACRO_2_P3_30: Theo hiệu ứng lãi suất, đường tổng cầu dốc xuống bởivì:

○ Mức giá cao hơn làm tăng giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng tăng lên

Trang 33

○ Mức giá cao hơn làm giảm giá trị lượng tiền nắmgiữ và tiêu dùng giảm đi.

○ Mức giá cao hơn làm giảm lượng tiền cần giữ, làm tăng lượng cho vay, lãisuất giảm và chi tiêu cho đầu tư tăng

● Mức giá cao hơn làm tăng lượng tiền cần giữ, làm giảm lượng cho vay, lãisuất tăng và chi tiêu cho đầu tư giảm

MACRO_2_P3_31: Theo hiệu ứng của cải, đường tổng cầu dốc xuống bởivì:

● Mức giá thấp hơn làm tăng giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng tănglên

○ Mức giá thấp hơn làm giảm giá trị lượng tiền nắmgiữ và tiêu dùng giảmđi

○ Mức giá thấp hơn làm tăng lượng tiền nắm giữ, làm giảm lượng cho vay,lãi suất tăng và chi tiêu đầu tư giảm đi

○ Mức giá thấp hơn làm giảm lượng tiền cần giữ, làm tăng lượng cho vay,lãi suất giảm và chi tiêu cho đầu tư tăng lên

MACRO_2_P3_32: Theo hiệu ứng của cải, đường tổng cầu dốc xuống bởivì:

○ Mức giá cao hơn làm tăng giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng tăng lên

● Mức giá cao hơn làm giảm giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng giảm đi

○ Mức giá cao hơn làm tăng lượng tiền cần giữ, làm giảm lượng cho vay, lãisuất tăng và chi tiêu cho đầu tư giảm

○ Mức giá cao hơn làm giảm lượng tiền cầngiữ, làm tăng lượng cho vay, lãisuất giảm và chi tiêu cho đầu tư tăng

MACRO_2_P3_33: Theo hiệu ứng tỉ giá hối đoái, đường tổng cầu dốcxuống bởi vì:

○ Mức giá thấp hơn làm giảm lượng tiền cần giữ, làm tăng lượng cho vay,lãi suất giảm và chi tiêu cho đầu tư tăng lên

○ Mức giá thấp hơn làm tăng lượng tiền nắm giữ, làm giảm lượng cho vay,lãi suất tăng và chi tiêu đầu tư giảm đi

● Mức giá của nước A trở nên thấp hơn làm cho người nước ngoài muanhiều hàng của nước A hơn

○ Mức giá của nước A trở nên thấp hơn làm cho người nước ngoài mua íthàng của nước A hơn

MACRO_2_P3_34: Theo hiệu ứng tỉ giá hối đoái, đường tổng cầu dốcxuống bởi vì:

○ Mức giá cao hơn làm tăng giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng tăng lên

○ Mức giá cao hơn làm giảm giá trị lượng tiền nắm giữ và tiêu dùng giảm đi

● Mức giá trong nước cao hơn làm cho một số người tiêu dùng chuyển từmua hàng nội sang mua hàng ngoại

Ngày đăng: 11/06/2022, 15:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bài tập 2: Mô hình Stackelberg - Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn
i tập 2: Mô hình Stackelberg (Trang 2)
Bài tập 3: Mô hình Bertrand( cạnh tranh giá khi sản phẩm đồng nhất) - Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn
i tập 3: Mô hình Bertrand( cạnh tranh giá khi sản phẩm đồng nhất) (Trang 3)
Bài tập 6: Mô hình chỉ đạo giá - Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn
i tập 6: Mô hình chỉ đạo giá (Trang 8)
Bài tập 7: Mô hình chỉ đạo giá( Đường cầu của hãng lớn gẫy khúc) - Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn
i tập 7: Mô hình chỉ đạo giá( Đường cầu của hãng lớn gẫy khúc) (Trang 10)
d. Giả sử hãng thứ nhất là ngườiđi trước, theo mô hình Stackelberg tìm sản lượng của mỗi hãng, giá thị trường và lợi nhuận của mỗi hãng. - Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn
d. Giả sử hãng thứ nhất là ngườiđi trước, theo mô hình Stackelberg tìm sản lượng của mỗi hãng, giá thị trường và lợi nhuận của mỗi hãng (Trang 13)
d. Mô hình Stackelberg - Bài tập vĩ mô 2 có hướng dẫn
d. Mô hình Stackelberg (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w