1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SKKN tap lam van lop 5 cuc hay

18 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 20,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những kết quả đạt được nêu trên, tôi thấy dạy học phân môn tập làm văn ở lớp 5 không những chỉ giúp cho học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, mà còn giú[r]

Trang 1

A - PHẦN MỞ ĐẦU

I - Lý do chọn đề tài:

Nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là cung cấp những kiến thức một cách toàn diện cho học sinh Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục

vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao Đối với học sinh lớp 5, phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung là phần mà các em ngán ngại nhất Bởi phân môn này đòi hỏi ở học sinh

sự tổng hợp của quan sát thực tế; chọn lọc hình ảnh, nội dung cần thiết, vận dung kiến thức ngữ pháp, vốn từ ngữ, nắm chắc thể loại văn, sử dụng tốt các phương pháp nghệ thuật văn học như là nhân hóa, so sánh,… để có thể viết thành một bài văn theo yêu cầu đề Mặt khác, nội dung kiểm tra cuối năm ở lớp

5 gần như là tất cả thể loại văn mà các em đã được học ở tiểu học: Tả cảnh, tả người, tả đồ vật, tả cây cối,… Chính vì thế, để học sinh có thể hoàn thành tốt bài văn là điều không dễ dàng

Trong các thể loại văn ấy, chỉ có tả cảnh, tả người là các em được học ở lớp 5 còn các thể loại văn khác các em được học từ năm học trước Qua một thời gian không ôn lại các thể loại văn ấy nên các em khó có thể nhớ rõ trình tự thực hiện cũng như cách chọn lọc ý, sắp xếp ý chặt chẽ, thích hợp,… Vì vậy, giáo viên cần nhắc lại dàn bài chung của từng thể loại, cách sắp xếp ý theo thứ

tự hợp lí như tả cây cối thì thân bài nên viết theo thứ tự: gốc, thân, cành, lá, hoa, quả, Đối với văn tả con vật thì giáo viên hướng dẫn các em chọn lọc ý, dùng từ ngữ gợi tả sao cho thấy được sự khác biệt của hai đối tượng như con chó và con mèo có điểm riêng nổi bật nào? Còn tả đồ vật thì khi tả bộ phận nào phải kèm theo công dụng, hoạt động hoặc cách sử dụng chúng… Chẳng hạn, tả cây kim của chiếc đồng hồ thì ngoài việc tả hình dáng, màu sắc phải cho biết kim di chuyển nhanh chậm thế nào? Nhiệm vụ của nó là gì?

Nếu như tả người, tả cây cối, con vật, đồ vật, giáo viên có thể hình thành cho các em trình tự tả để ghi nhớ thì tả cảnh lại là điều hết sức khó Vì mỗi cảnh khác nhau, cảm nhận và cách quan sát của mỗi người cũng khác nhau Do

đó, để học sinh nắm trình tự thể loại này chỉ có thể nêu cho các em cách tả chung theo thứ tự không gian từ xa đến gần, từ gần ra xa, từ cao xuống thấy hay

từ thấp lên cao…Ví dụ Đề bài: “ Tả quang cảnh trường em trước buổi học” thì

tả từ trong trường ra đến cổng trường… Với thể loại văn tả cảnh, các em thường dễ sa đà vào tường thuật như với đề “Tả một cảnh đẹp mà em có dịp tham quan”, học sinh thường kể lại đi với ai, bằng xe gì, dọc đường ăn sáng ở đâu, đến nơi mướn phòng thế nào… mà không diễn đạt được cảnh đẹp mình

được ngắm Vì vậy, cần nhấn mạnh cho các em rõ tả cảnh là “vẽ lại hình ảnh

Trang 2

bằng lời văn” Qua bài văn, người đọc có thể tưởng tượng ra cảnh đó như một

bức tranh hay một ảnh chụp trước mắt

Vì trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt chiếm vị trí rất quan trọng Tiếng Việt tạo điều kiện và cơ sở cho học sinh học tốt các bộ môn học khác, đặc biệt chương trình mới đã chú trọng đến yêu cầu luyện tập thực hành

về kĩ năng luyện nói, viết cho học sinh Nhưng dạy tập làm văn ở lớp 5 có những điểm khó, vì nó đòi hỏi năng lực hướng dẫn và ứng xử linh hoạt của giáo viên trên lớp Bởi vậy, làm thế nào để dạy tốt phân môn tập làm văn là một vấn

đề hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

Là một giáo viên được phân công dạy lớp 5, qua thời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập, đặc biệt là môn Tiếng Việt Thực tế cho thấy khi học phân môn Tập làm văn thì nhiều em còn lúng túng Với suy

nghĩ: " Làm thế nào để học sinh viết được một bài văn hay và tự tin trong học

tập ?” Để tháo gỡ những khó khăn trên, tôi quyết định chọn đề tài: "Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 viết Tập làm văn đạt kết quả tốt.”

II - Mục đích nghiên cứu:

Để giúp cho chúng ta thấy rõ vị trí quan trọng của phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt

Để giúp học sinh tiếp thu bài giảng một cách nhẹ nhàng, khắc sâu kiến thức về phân môn Tập làm văn

* Qua sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phương pháp giảng dạy phân môn tập làm văn và khảo sát thực tế để tìm ra cách giải quyết vấn đề nêu trên.

B - PHẦN NỘI DUNG

I - Vị trí

Tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là rèn kĩ năng sản sinh ngôn bản nói và viết Không học tốt tập làm văn, khả năng nói và viết ngôn bản của học sinh sẽ

bị hạn chế Vì tập làm văn được thừa hưởng và cần phải tận dụng vốn từ vựng, nghệ thuật dùng từ, đặt câu … mà học sinh thu nhận được từ các bài tập đọc, kể chuyện, …không những thế, học sinh còn được học cách dùng tính từ, động từ, học được cách dùng các phép so sánh, nhân hóa , để chắp thêm cánh cho trí tưởng tượng, liên tưởng… khi làm các bài văn tả cảnh trong chương trình tập

làm văn Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển, miêu tả là “lấy nét vẽ

hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra” Trong văn miêu tả,

người ta không đưa ra những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật như: cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng… Mà văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người … bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang

Trang 3

xem tận mắt, bắt tận tay Tuy nhiên hình ảnh một cánh đồng, một dòng sông, một con vật, một con người…do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh được chụp lại, sao chép lại một cách vụng về Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan

sát cuộc sống Vì thế mà văn miêu tả có thể được ví như “hòn đá thử vàng” đối

với các tài năng văn học, tạo nên sức hấp dẫn của các tác phẩm văn học Những

sáng tác (bài văn) đầu tay sẽ như “tiếng chim gọi đàn”đánh thức niềm hứng thú

và năng khiếu văn chương còn ẩn tàng trong những tâm hồn trẻ thơ, khuyến khích các em bước thêm một bước từ việc học tập môn Tiếng Việt ở nhà trường: không chỉ tiếp thu cái hay cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, của văn học dân tộc,

mà còn bắt đầu từ chút vốn liếng ấy, các em muốn tự mình “làm ra” những vẻ

đẹp của riêng mình Nói theo M Gor – ki thì con người khi sinh ra vốn đã mang phẩm chất nghệ sĩ trong tâm hồn, chỉ có điều cái vốn ấy có được đánh thức và phát huy hay không!

II - Cơ sở lí luận và thực tiễn:

Trong chương trình tiểu học mới, các bài văn thường gắn với chủ điểm của đơn vị học Qúa trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là những cơ hội giúp học sinh mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ điểm đã học Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn bài văn kể chuyện, miêu tả,…góp phần khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh Tư duy hình tượng của các em cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi miêu tả cảnh, tả người Học các tiết tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình Khi phân tích đề tập làm văn, học sinh lại

có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề bài Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với người

và việc xung quanh được nảy nở, tâm hồn của học sinh thêm phong phú Đó cũng là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho các em Muốn có bài tập làm văn tốt, các em cần được bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, tích lũy vốn hiểu biết về cuộc sống, các tri thức văn hóa chung thông qua các môn học, đặc biệt phải có sự kiên trì luyện tập các kĩ năng làm bài văn Để làm được một bài tập làm văn, điều trước tiên các em phải bộc lộ trên trang giấy về tình cảm yêu, ghét của mình đối với con đường từ nhà đến trường em thường đi học, quyển lịch nhà em, cây có bóng mát bên đường, tấm gương miệt mài luyện tập thành tài…

Bài làm văn nào cũng là sự thể hiện các trạng thái tình cảm của học sinh Chỉ có những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, hồn nhiên mới tạo ra những đoạn văn, bài văn đáng yêu và đạt kết quả cao Vì thế giáo viên phải giúp cho học

Trang 4

sinh tự bồi dưỡng tình cảm, cảm xúc, dạy cho các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị,… yêu quý từng quyển sách, cái bút,…những đồ vật gần gũi hằng ngày, dạy các em tinh thần đoàn kết giúp đỡ các bạn gặp khó khăn… Chính những tình cảm ấy giúp cho bài văn của các em sống động, lôi cuốn, hấp dẫn người đọc Ngược lại những bài văn đạt điểm chưa cao, giáo viên cần chỉnh sửa động viên và nhắc nhở để học sinh cố gắng làm tốt hơn

Vì bài tập làm văn còn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết đời sống, trình độ kiến thức văn hóa của học sinh Tập làm văn là môn học thực hành, kết quả của tập làm văn dựa trên sự huy động nhiều kĩ năng khác nhau như kĩ năng phát âm và nói, kĩ năng viết chữ, kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết bài, kĩ năng quan sát Vì kĩ năng là kết quả của sự luyện tập, thực hành là sản phẩm của lòng kiên trì Muốn có bài tập làm văn đạt kết quả cao, đòi hỏi mỗi em phải chịu khó tập viết, tập nói, tập dùng từ, đặt câu, viết đoạn… nhiều lần Mà không ngại tập đi tập lại, không ngại sửa đi sửa lại đoạn văn, câu văn đã viết

Và chính bản thân người giáo viên cũng kiên trì hướng dẫn học sinh luyện tập

và giúp các em sửa chữa các sai sót Một câu châm ngôn đã nói: “Tài năng một

phần mười là bẩm sinh, chín phần mười là do lao động kiên trì làm nên”.

III - Quá trình thực hiện :

Mỗi môn học có những phương pháp học khác nhau nhưng cái chung

vẫn là học sinh làm trung tâm của quá trình học tập, giáo viên chỉ đóng vai trò

người tổ chức hoạt động, dẫn dắt để học sinh làm việc Muốn thực hiện được

yêu cầu trên, khó nhất vẫn là tạo được hứng thú học tập làm văn cho học sinh Mặt khác, giáo viên cần tôn trọng độc lập suy nghĩ, sự sáng tạo của học sinh qua bài làm tập làm văn Mỗi bài văn là sản phẩm của từng cá nhân học sinh trước một đề tài Sản phẩm ít nhiều in dấu ấn riêng của từng em trong cách suy nghĩ, cách tả, cách diễn đạt

Mỗi tiết học tập làm văn phải là một tiết thực hành, cần giảm sự giảng giải của giáo viên để tăng thời gian cho sự luyện tập của học sinh Tuy nhiên, phần lí thuyết của từng kiểu bài cần được truyền đạt chính xác, đầy đủ để soi sáng cho học sinh trong quá trình thực hành Giáo viên phải giúp cho học sinh

viết bài văn giàu cảm xúc, tạo nên “cái hồn”, chất văn của bài làm Luôn nuôi

dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện Giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái

độ giả tạo, giả dối, hoặc biểu hiện bài làm theo cách sao chép nguyên văn bài mẫu Kết quả cuối cùng của việc dạy tập làm văn là hiệu quả của những bài văn Bài văn hay là bài văn đạt tốt các yêu cầu về nội dung, nghệ thuật và giàu cảm xúc Vậy, trong mỗi giờ tập làm văn, giáo viên cần thực hiện tốt các yêu cầu này Ở lớp 5, để viết bài tập làm văn, học sinh thường trải qua các khâu cơ

Trang 5

bản là: Lập dàn ý, trao đổi ý, lời văn qua tiết luyện tập (tập làm văn miệng), làm văn viết, rồi được học tập, rút kinh nghiệm qua giờ trả bài Trong các tiết học này, giáo viên và học sinh sẽ lần lượt giải quyết các yêu cầu trên

1/ Về phương pháp làm bài tập làm văn:

Muốn làm tốt một bài tập làm văn, học sinh phải học và hiểu đầy đủ về phương pháp làm bài, đồng thời thực hành nhiều lần

Cụ thể các bước của quá trình một bài tập làm văn viết là:

Tìm hiểu đề bài:

Trước hết, cần tìm hiểu đề bài để xác định rõ thể loại bài (miêu tả hay kể chuyện,…), kiểu bài như tả cảnh hay tả đồ vật hoặc tả người,…và trọng tâm của bài (phần nào là chủ yếu cần nói rõ) Việc tìm hiểu đề bài cần được coi trọng để xác định đúng yêu cầu của đề bài, tránh lạc đề

Lập dàn ý (kết hợp với việc tìm ý)

Dàn ý được lập trên cơ sở tìm được những ý đúng với đề tài và trọng tâm bài Muốn việc tìm ý đạt yêu cầu tốt ta phải căn cứ vào thực tế quan sát hoặc hiểu biết đối tượng, căn cứ vào hiểu biết của mình qua thực tiễn sống…

Tìm được nhiều ý là tốt, nhưng cần phải lựa chọn ý tiêu biểu để bài làm hướng đúng trọng tâm, tránh được sự rườm rà Việc tìm ý, chọn ý gắn với lập dàn ý và cả hai công việc này bổ sung, hỗ trợ cho nhau Cùng với việc lập dàn

ý, ta có thể bổ sung những ý khác mà trước đó chưa tìm ra hoặc loại bỏ một vài

ý chưa cần, chưa sát trọng tâm của bài…

Lập dàn ý là yêu cầu cần thiết nhất phải có Một dàn ý rõ ràng, cụ thể, hợp lí sẽ góp phần vào kết quả bài làm văn của học sinh

Và dàn bài của một bài tập làm văn thường có ba phần:

- Mở bài

- Thân bài

- Kết bài

Viết thành bài hoàn chỉnh

Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình làm văn Trên cơ sở dàn ý vừa lập, học sinh viết thành câu, thành đoạn, thành bài viết hoàn chỉnh Lời văn diễn đạt phải rõ ràng, rành mạch, trong sáng, đúng ngữ pháp; diễn đạt có hình ảnh, linh hoạt, sinh động và có cảm xúc Cần tránh lối đạt câu sai ngữ pháp, lộn xộn,

… Nội dung đúng, lời văn trong sáng và cảm xúc chân thực sẽ tạo nên chất lượng tốt của bài văn

Chính vì vậy mà rất nhiều học sinh luôn dành thời gian thích đáng để viết nháp hoặc chuẩn bị chu đáo trước khi viết bài chính thức Và đó là một việc làm tốt cần phát huy (tất nhiên chỉ có thể viết nháp trong một khoảng thời gian

Trang 6

cho phép hoặc đọc dò lại bài chuẩn bị trước để việc làm bài hoàn chỉnh đảm bảo đúng thời gian quy định)

Đọc soát lại bài làm

Để tránh những sơ suất trong việc dùng từ và đặt câu, đồng thời để tránh những lỗi chính tả, học sinh cần đọc lại bài viết của mình để sửa chữa những chỗ sai, xóa bỏ những chữ thừa hoặc bổ sung những từ ngữ do vô tình đã bị

thiếu khi viết Việc làm này là cần thiết để “tu chỉnh” cho bài văn đạt kết quả

tốt hơn

2/ Về xây dựng nội dung

* Đối với văn tả cảnh: là văn dựa trên sự quan sát, óc nhận xét của mình, rồi dùng ngôn ngữ (nói hoặc viết) dựng lại một bức tranh với những hình ảnh, đường nét, màu sắc và gợi ra cả âm thanh…về một cảnh vật cụ thể nào đó Chính vì vậy mà giáo viên hướng dẫn cho học sinh phải nắm được ba yêu cầu

cơ bản:

+ Phải dùng ngôn ngữ nói hoặc chữ viết của mình mà vẽ cho ra, trình bày cho được một cách trung thực quang cảnh mình muốn tả để người nghe, người đọc cùng thấy được, cùng hình dung được quang cảnh được tả một cách rõ ràng, tường tận

+ Phải giúp cho người đọc, người nghe cảm nhận như chính mình

+ Phải trình bày bài văn bằng một kết cấu hợp lí, bằng những từ ngữ, hình ảnh trong sáng, chọn lọc Đây là yêu cầu về sự diễn đạt, về cách nói, cách viết

Về phương pháp làm bài, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện ba bước

cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả

Xác định xem đối tượng em định tả là cảnh gì? ở đâu? Phạm vi không gian, thời gian của cảnh được tả và nội dung chủ yếu cần làm toát lên từ cảnh đó

Bước 2: Quan sát

Chọn vị trí quan sát thuận tiện nhất để nắm bắt được những chi tiết, đặc điểm cơ bản, quan trọng của cảnh

Quan sát bằng mắt nhìn, tai nghe và kết hợp các giác quan khác Lưu ý đến các yếu tố như màu sắc, hình ảnh, âm thanh có hòa hợp với nhau không?

Bước 3: Sắp xếp ý, chọn lựa từ ngữ, hình ảnh để xây dựng thành một bài văn tả cảnh hoàn chỉnh

Ví dụ: Tả cảnh sinh hoạt là sự tổng hợp của tả cảnh thiên nhiên, cảnh vật, con người…Vì vậy, việc lựa chọn sắp xếp các chi tiết tiêu biểu, hợp lí là hết

Trang 7

sức cần thiết Phải làm sao toát lên cho được trọng tâm và nội dung của cảnh cần tả

Nội dung đủ và phong phú là yêu cầu không thể thiếu của bài văn tốt Giải quyết vấn đề này, ta cần trải qua khâu thứ nhất của mỗi bài văn là:

“Quan sát, tìm ý, lập dàn bài chi tiết”

Mỗi bài văn của học sinh cần có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài)

đủ ý, đúng yêu cầu và diễn đạt phong phú

Với mỗi bài văn, công việc đầu tiên giáo viên yêu cầu học sinh phải làm

là tìm hiểu đề

- Học sinh cần đọc kĩ đề nhiều lần rồi trả lời các câu hỏi về vấn đề chính trong đề

Ví dụ: Đề bài yêu cầu tả cảnh gì? Vào lúc nào? Cảnh sinh hoạt này có đặc điểm gì về người và phạm vi hoạt động?

Hoạt động của học sinh, phụ huynh học sinh khi trường tan học thường bộc lộ những điểm gì nổi bật?

- Bám sát yêu cầu đề, huy động vốn thực tế tìm ý, xây dựng dàn bài chi tiết trên cở sở dàn bài chung của mỗi thể loại

Ở phần chính của bài văn, giáo viên yêu cầu các em phát triển bằng

nhiều ý khác nhau Ví dụ 1 Đề bài: “Vui nhất và ấn tượng nhất trong đời học

sinh là cảnh nhộn nhịp của sân trường trong giờ ra chơi Em hãy viết một bài văn tả lại cảnh ấy”.

Phần thân bài gốm các ý:

a/ Vài nét bao quát về cảnh sân trường lúc giờ chơi

b/ Hoạt động cụ thể của học sinh ở sân trường trong giờ ra chơi

c/ Khung cảnh sân trường lúc tín hiệu báo giờ ra chơi kết thúc

Khi học sinh nêu được những phần chính này, tôi yêu cầu các em trả lời câu hỏi: “Để tả rõ và đúng trọng tâm, em cần xác định đúng những gì?” Học sinh nêu được cảnh thứ hai Sau đó, tôi cho các em phát triển ý trong mỗi phần(chú ý là phần trọng tâm):

GV hỏi: Từ trong lớp học, các bạn học sinh tỏa ra sân trường thế nào? Cảnh sân trường lúc này có gì nổi bật về âm thanh, màu sắc, sự hoạt động?

Nhóm hoạt động sôi nổi nhất là nhóm nào? Họ chơi những trò chơi gì? Các bạn trong nhóm hoạt động thế nào?

Học sinh nêu ý rất đa dạng, tôi cho học sinh phát biểu tự nhiên rồi chốt lại:

+ Sân trường rộn rã tiếng nói cười, … Những bộ đồ đồng phục áo trắng quần tây đen nổi bật trên sân trường, trông xa như một đàn cò trắng dừng chân giữa thảm cỏ xanh

Trang 8

Những hoạt động có nhiều học sinh tham gia với không khí sôi nôi, thích thú, ví dụ: đá cầu, nhảy dây, chơi bóng, …

Và đây là bài văn tả cảnh trường trong giờ ra chơi của em Trần Thị Cẩm

Hiền học sinh lớp 5a1 trường TH Phước Sang

Ví dụ 2 về bài văn tả ngôi trường của em Nguyễn Hữu Lợi học sinh lớp

5a1 trường TH Phước Sang

Đề bài: Ngôi trường nơi gắn bó với em nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi thơ,

hãy viết một bài văn tả cảnh trường em cho mọi người cùng biết.

Ví dụ 3 về bài văn tả cảnh đẹp của em Hoàng Văn Nam học sinh lớp 5a1

trường TH Phước Sang

Đè bài: Quê hương em có nhiều cảnh đẹp Hãy tả một cảnh đẹp của quê

hương mà em thích nhất.

* Đối với văn tả người:

Giáo viên yêu cầu học sinh chú ý đến ba mặt: hình dáng, tính tình (tính nết) và sự hoạt động Vì ba mặt này có liên quan chặt chẽ với nhau và đều nhằm làm nổi bật rõ tinh thần, tình cảm và tính cách của người được tả

Về tả hình dáng (ngoại hình) một người, ta thường chú ý đến tầm vóc, khuôn mặt, mái tóc, làn da, cặp mắt…cách ăn mặc, dáng đi, tiếng nói cười nhưng cần lướt qua (hoặc lược bỏ) những nét không nổi bật, để tập trung vào những đặc điểm tiêu biểu, gây ấn tượng mạnh cho người đọc Thông thường, dựa vào tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống của mỗi người, ta có thể chọn tả những nét phù hợp và nổi bật Ví dụ: nhà văn Ê – min Dô – la tả bác thợ rèn

khỏe mạnh qua các hình ảnh như “vai cuộn khúc, cánh tay ám đen khói lửa lò

và bụi búa sắt”, “đôi mắt lọt trong khuôn mặt vuông vức, dưới rừng tóc rậm

Trang 9

dày, đôi mắt trẻ to, xanh, trong ngời như ánh thép”, “quai hàm bạnh của bác

rung lên với những tràng cười”…; còn nhà văn Chu Văn tả một em bé sống ở nông thôn qua những hình ảnh và chi tiết cụ thể: “Bé Côi lên bốn Nó mập tròn như một quả dưa chín mọng Nước da nâu hồng, cái thứ da chịu đựng gió sương, mưa dầm nắng lửa của đồng chiêm nước mặn Mặt nó tròn như bánh giầy Đôi mắt to đen lay láy, mở tròn thao láo Cái miệng rộng lúc nào cũng tươi như hoa và hai hàm răng thưa thớt như răng chuột…”

Ở những nét nổi bật về hình dáng nói trên, người đọc dễ dàng nhận thấy

cả tinh thần, tình cảm hay tính cách của người được tả: bác thợ rèn lạc quan, yêu lao động; em bé ngây thơ và rất hồn nhiên

Về tả hoạt động của người, cũng cần tập trung vào những biểu hiện chính với từng dáng điệu, cử chỉ, lời nói, động tác…sao cho rõ đặc điểm tính tình hay phẩm chất tư cách của người đó Ví dụ, nhà văn Ma Văn Kháng tả anh Hạng A Cháng – một thanh niên Hmông – đang cày ruộng với sự cần cù chăm chỉ và lòng yêu thích, say mê công việc: “Hai tay Cháng nắm đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, mắt nhìn đường cày, thân mình nhoài thành một đường cong mềm mại, khi đi bên trái, lúc tạt qua phải theo đường cày uốn vòng theo hình ruộng bậc thang giống một mảnh trăng lưỡi liềm Lại có lúc được xá cày thẳng, người anh như rạp hẳn xuống, đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngắn gấp gấp…”; còn nhà văn Nguyễn Nho tả vài nét về lời nói, cử chỉ của một bác thợ xây nhưng cho ta thấy rõ tính nết vui vẻ, cởi mở của người lao động:

“Trời vừa đứng bóng, Hòe đang rảo bước trên vỉa hè Bỗng một tiếng gọi giật lại:

- Này Hòe, lại đây!

Hòe vội quay lại Bác thợ xây quen thuộc đang tươi cười hồ hởi Khuôn mặt rám nắng còn đọng mấy vệt mô hôi khô

Đói chưa? Đây ăn đi…

- Cháu có thích cái nghề vôi vữa này không?

- Cháu rất thích ạ

Về tả tính tình của một người không chỉ liệt kê tất cả các đặc điểm về tính nết của người ấy Để làm rõ tính cách của một người, ta thường nêu những dẫn chứng cụ thể hoặc thông qua các biểu hiện bên ngoài như lời nói, cử chỉ, hành động, việc làm, cách ăn mặc hay đi đứng… của người được tả Những ví

dụ về cách tả hình dáng, hoạt động nêu trên đã cho thấy điều đó; hoặc như nhà văn Đào Vũ tả chị Chấm, một cô gái nông thôn mộc mạc, giàu tình cảm: “Có bữa đi xem phim, những cảnh ngộ trong phim làm Chấm khóc suốt buổi Đêm

ấy về ngủ, trong giấc mơ Chấm lại khóc mất bao nhiêu nước mắt…”

Trang 10

Thông qua hành động, việc làm…người viết còn cần bộc lộ được những suy nghĩ, tình cảm hay tâm trạng của nhân vật Đó là những biểu hiện về nội tâm, cho thấy tính cách của người được tả rõ nét và sâu sắc Ví dụ, nhà văn Thạch Lam miêu tả tâm trạng của Thanh khi về quê thăm bà: “Thanh đi, người thẳng, mạnh, cạnh bà lưng còng Tuy vậy Thanh cảm thấy chính bà che chở cho mình cũng như những ngày còn nhỏ…Thanh đến bên bể múc nước vào thau rửa mặt nước mát rượi và Thanh cúi nhìn bóng mình trong lòng bể với những mảnh trời xanh Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy thong thả và bình yên như thế…”

Về bố cục bài văn tả người thường căn cứ vào yêu cầu do đề bài đặt ra (tùy theo yêu cầu tả kĩ mặt nào mà tập trung làm rõ mặt đó, bằng cách trình bày lần lượt hoặc kết hợp, xen kẽ các mặt), sau đây là dàn bài chung của văn tả người:

a Mở bài: Giới thiệu người muốn tả

(Ở đâu, gặp gỡ quen biết trong dịp nào, nghề nghiệp làm gì? Quan hệ người đó với mình như thế nào?)

b Thân bài: (nêu đủ 3 mặt)

- Hình dáng: Tả bao quát về tuổi tác, nghề nghiệp; tầm vóc, cách ăn mặc (quần áo), dáng đi đứng…Tả kĩ những nét nổi bật, đáng chú ý về khuôn mặt hay mái tóc, cặp mắt, nụ cười, …

- Tính tình: Nêu rõ lời nói, cử chỉ, thái độ cư xử hay việc làm của người được tả nhằm bộc lộ phẩm chất đạo đức, tình cảm, thói quen của người đó

- Hoạt động: Tả kĩ và có thứ tự các cử chỉ, động tác, lời nói để thấy được cách làm việc, thái độ và tính nết của người được tả

c Kết bài: Cảm nghĩ của bản thân đối với người được tả: yêu mến, kính trọng, học tập…và những ảnh hưởng của người đó đối với cuộc sống của mình

Và sau đây là bài văn tả người của em Trương Thị Thúy Liễu học sinh

lớp 5a1 trường TH Phước Sang

Ngày đăng: 06/09/2021, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w