1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nợ công ở Việt Nam

18 356 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 898,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nợ công ở Việt Nam. Quản lý nợ công ở Việt Nam. I. Tính cấp thiết của đề tài Nợ công cái tên không còn xa lạ trong nền kinh tế, nó đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp đối với mọi quốc gia trên thế giới. Nhiều nước có mức nợ công rất lớn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc cân đối tài chính và thực hiện các nghĩa vụ trả nợ. Nền kinh tế đang phải đối mặt với những món nợ khổng lồ của các Chính phủ. Nợ công có thể dẫn đến những tiêu cực, chứa đựng những hiểm họa không lường. Nợ công lớn đồng nghĩa với việc phải thắt chặt chi tiêu, “ thắt lưng buộc bụng ” để nhận được sự hỗ trợ của thế giới nhưng lại dẫn tới các cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, bất ổn định chính trị, xã hội bởi những người nghèo những người yếu thế bị tác động mạnh nhất. Việt nam cũng không ngoại lệ với những món nợ công ngày càng gia tăng. Hiện nay có nhiều mối lo ngại về nợ công của Việt Nam như cơ cấu vay nợ, cơ chế quản lý, hiệu quả sử dụng và tích lũy trả nợ. Nó như là quả bom nổ chậm một khi phát nổ sẽ kéo theo những hệ lụy tiêu cực hết sức kinh khủng. Ở Việt Nam những năm qua, vấn đề thu hút nguồn lực phục vụ cho phát triển xã hội có xu hướng tăng. Ngoài ngân sách nhà nước phục vụ cho đầu tư phát triển thì nguồn từ vay, nợ của Chính phủ cũng không ngừng tăng. Ngoài ra một phần vay, nợ của Chính phủ được sử dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hằng năm. Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo sự cân bằng và đảm bảo an ninh tài chính, tập trung quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vay, nợ Chính phủ. Muốn vậy cần có sự đánh giá rủi ro phát sinh từ các khoản nợ công để có biện pháp phòng ngừa, ngăn chăn khủng hoảng tài chính. Để quản lý các khoản nợ công một cách tốt nhất, cần phải làm gì? Những giải pháp nào? Mức nợ công nào là an toàn?. Nhóm chúng em đã tìm hiểu về đề tài : Quản lý nợ công ở Việt Nam. II.NỘI DUNG CỦA NỢ CÔNG 2.1.Khái niệm Nợ công: Tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ các cấp đi vay nhằm bù đắp thâm hụt NSNN và bổ sung nguồn vốn phát triển đầu tư à Là thâm hụt ngân sách lũy kế tới một thời điểm nào đó 2.2 Các hình thức nợ công. Nợ chính phủ thường dưới 2 hình thức: Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước). 2.2.1Vay trong nước của chính phủ Chính phủ phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp thiếu hụt tạm thời về nguồn ngân quỹ, phát hành trái phiếu kho bạc để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước và phát hành công trái, trái phiểu đầu tư, trái phiếu công trình để thực hiện dự án đầu tư trọng điểm của Nhà nước. Cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ là Kho bạc Nhà nước. Bên cạnh đó còn có các khoản vay tạm ứng từ Qũy dự trữ tài chính, Qũy bảo hiểm xã hội hoặc các nguồn tài chính hợp pháp khác để bù đắp thiếu hụt ngân quỹ tạm thời hoặc để bù đắp bội chi NSNN. 2.1Vay nước ngoài của chính phủ 2.1.1Nợ song phương : • ODA: hỗ trợ phát triển chính thức • Hình thức: ODA không hoàn lại: cho không ODA hoàn lại: vay dài hạn: 2540 năm phải trả, lãi suất dưới 2% • Ngân hàng thế giới (World Bank) là một trong các nguồn cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam.Vốn ODA cung cấp từ ngân hàng thế giới cho Việt Nam từ năm 20032012:

Trang 1

I Tính cấp thiết của đề tài

Nợ công cái tên không còn xa lạ trong nền kinh tế, nó đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp đối với mọi quốc gia trên thế giới Nhiều nước có mức nợ công rất lớn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc cân đối tài chính và thực hiện các nghĩa vụ trả nợ Nền kinh tế đang phải đối mặt với những món nợ khổng lồ của các Chính phủ Nợ công có thể dẫn đến những tiêu cực, chứa đựng những hiểm họa không lường Nợ công lớn đồng nghĩa với việc phải thắt chặt chi tiêu, “ thắt lưng buộc bụng ” để nhận được sự hỗ trợ của thế giới nhưng lại dẫn tới các cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, bất ổn định chính trị, xã hội bởi những người nghèo những người yếu thế bị tác động mạnh nhất Việt nam cũng không ngoại lệ với những món nợ công ngày càng gia tăng Hiện nay có nhiều mối lo ngại về nợ công của Việt Nam như cơ cấu vay nợ,

cơ chế quản lý, hiệu quả sử dụng và tích lũy trả nợ Nó như là quả bom nổ chậm một khi phát nổ sẽ kéo theo những hệ lụy tiêu cực hết sức kinh khủng

Ở Việt Nam những năm qua, vấn đề thu hút nguồn lực phục vụ cho phát triển xã hội có xu hướng tăng Ngoài ngân sách nhà nước phục vụ cho đầu tư phát triển thì nguồn từ vay, nợ của Chính phủ cũng không ngừng tăng Ngoài ra một phần vay, nợ của Chính phủ được sử dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hằng năm Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo sự cân bằng và đảm bảo an ninh tài chính, tập trung quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vay, nợ Chính phủ Muốn vậy cần có sự đánh giá rủi ro phát sinh từ các khoản nợ công để có biện pháp phòng ngừa, ngăn chăn khủng hoảng tài chính Để quản lý các khoản nợ công một cách tốt nhất, cần phải làm gì? Những giải pháp nào? Mức nợ công nào là an toàn?

Nhóm chúng em đã tìm hiểu về đề tài : Quản lý nợ công ở Việt Nam.

II.NỘI DUNG CỦA NỢ CÔNG

2.1.Khái niệm Nợ công:

Tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ các cấp đi vay nhằm bù đắp thâm hụt NSNN và bổ sung nguồn vốn phát triển đầu tư

Trang 2

à Là thâm hụt ngân sách lũy kế tới một thời điểm nào đó

2.2 Các hình thức nợ công.

Nợ chính phủ thường dưới 2 hình thức: Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước)

2.2.1Vay trong nước của chính phủ

Chính phủ phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp thiếu hụt tạm thời về nguồn ngân quỹ, phát hành trái phiếu kho bạc để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước và phát hành công trái, trái phiểu đầu tư, trái phiếu công trình để thực hiện

dự án đầu tư trọng điểm của Nhà nước Cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ là Kho bạc Nhà nước Bên cạnh đó còn có các khoản vay tạm ứng từ Qũy dự trữ tài chính, Qũy bảo hiểm xã hội hoặc các nguồn tài chính hợp pháp khác để bù đắp thiếu hụt ngân quỹ tạm thời hoặc để bù đắp bội chi NSNN

2.1Vay nước ngoài của chính phủ

2.1.1Nợ song phương :

• ODA: hỗ trợ phát triển chính thức

• Hình thức: - ODA không hoàn lại: cho không

-ODA hoàn lại: vay dài hạn: 25-40 năm phải trả, lãi suất dưới 2%

• Ngân hàng thế giới (World Bank) là một trong các nguồn cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam.Vốn ODA cung cấp từ ngân hàng thế giới cho Việt Nam từ năm 2003-2012:

Bảng 1: Ngân hàng WB cung cấp ODA cho Việt nam từ năm 2005 - 2012

Vốn (tỷ 1.913 1.844 2.511 2.552 3.732 2.940 2.348 2.197

Trang 3

•Nhật Bản là quốc gia tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm đến hơn 40% tổng số vốn đầu tư Trong năm 2011, Nhật Bản đã cam kết hơn 1,9 tỷ USD cho Việt Nam

I.1.2 Nợ đa phương

Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WBI…) hay tổ chức khu vực (ADB, EU ) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP, UNICEF có thể không

2.3 Nguyên nhân hình thành nợ công

Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu công quá lớn của Chính phủ Chi tiêu

công nhằm: Thứ nhất, phân bổ nguồn lực; Thứ hai, phân phối lại thu nhập; Thứ ba,

ổn định kinh tế vĩ mô

Nợ công là do sự mất cân đối thu chi và dẫn tới thâm hụt ngân sách Nhu

cầu chi tiêu quá nhiều trong khi các nguồn thu không đáp ứng nổi buộc chính phủ phải đi vay tiền thông qua nhiều hình thức (như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng) và vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế… để bù vào khoản thâm hụt, từ đó dẫn đến tình trạng nợ

2.4 Đặc trưng cơ bản của nợ công

Thứ nhất: nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước.

Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả

nợ trực tiếp và trả nợ gián tiếp

Thứ hai: nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh

đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt

Trang 4

chính trị xã hội Nguyên tắc quản lý nợ công Việt Nam là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả

nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản trên

Thứ ba: mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát

triển kinh tế – xã hội vì lợi ích cộng đồng Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng Ở Việt Nam, xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, cụ thể là đề phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất

III.THỰC TRẠNG VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG

3.1 Thực trạng nợ công

3.1.1 Nợ công ở các nước Đông Nam Á.

3.1.2 Nợ công ở một số nước trên thế giới

Nhật Bản là nước có số nợ công khổng lồ nhất, lên tới hơn 12,5 nghìn tỷ USD (tương đương 226,1% GDP), tiếp theo là Mỹ nợ hơn 11,8 nghìn tỷ USD (tương đương 75,2% GDP) Nhiều quốc gia trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu cũng đang có mức nợ công hàng nghìn tỷ USD như Đức nợ gần 2,7 nghìn

tỷ USD (tương đương 83% GDP), Italy nợ trên 2,4 nghìn tỷ USD (tương đương 120,8% GDP), Pháp nợ hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương 90,5% GDP), Anh nợ

Trang 5

hơn 2,2 nghìn tỷ USD (tương đương 91,4% GDP), … Hy Lạp, “tâm bão” nợ công của châu Âu hiện nợ gần 395 tỷ USD (tương đương 157,5% GDP) Trung Quốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới Tổng mức

nợ công của Trung Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ công cũng chỉ chiếm có 17% GDP của Trung Quốc

3.1.3 Nợ công ở Việt Nam

Việt Nam mở cửa kinh tế được gần 30 năm và đã đạt được những bước phát triển vượt bậc, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu

Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới Tổng mức nợ công của Việt Nam hiện vào khoảng 71,6 tỷ USD, tương đương 49,4% GDP, tăng 12,7% so với năm trước Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam đang là 798,92 USD Việt Nam cũng xếp vào nhóm những nước có nợ công ở mức trung bình, khá thấp so với các nước khu vực Đông Nam Á như Indonesia (231 tỷ USD), Thái Lan (185 tỷ USD), hay Malaysia (175 tỷ USD) Tuy nhiên, nợ công Việt Nam lại chiếm tới 49,4% GDP, xếp hàng cao nhất trong châu

Á

Trang 6

Từ biểu đồ trên cho ta thấy tình hình nợ công qua các năm tăng liên tục từ

2004 đến 2014 Nguyên nhân là do:

-Thứ nhất: do bội chi ngân sách lớn và kéo dài khiến vay nợ trở thành nguồn

lực chính để bù đắp vào thâm hụt ngân sách Đây là nguyên nhân chính khiến tình hình nợ công ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế

-Thứ hai: đồng tiền của Việt Nam mất giá khá nhiều so với tiền của những

nước mà Việt Nam vay vốn như Nhật Bản, EU

-Thứ ba: thâm hụt ngân sách đã trở thành căn bệnh kinh niên, đầu tư lại

không ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc hoàn trả nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ

-Thứ tư: đầu tư công cao và kém hiệu quả trong bối cảnh tiết kiệm của Việt

Nam giảm là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công

-Thứ năm: sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ kém, không chặt chẽ, thậm chí

bị buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng phát triển cũng trở thành nguyên nhân không kém phần quan trọng

-Thứ sáu: sự đầu tư dàn trải, thiếu tập trung Vốn ưu tiên được phân bổ vào

quá nhiều dự án, các dự án thường thiếu vốn và kéo dài tiến độ làm tăng chi phí đầu tư chậm đưa công trình vào sử dụng

3.2 Thực trạng quản lý nợ công

3.2.1 Thực trạng

Việt Nam không nằm trong các nhóm nước có gánh nặng về nợ cao Tuy nhiên, hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công vẫn chưa thực sự hiệu quả Để giải quyết vấn đề hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công, chính phủ cần có chiến lược kiểm soát đầu tư trong khu vực công, giảm thâm hụt ngân sách để có thế kiểm soát được nợ vay nước ngoài

Trang 7

Trong thời gian gần đây, công tác quản lý nợ của Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước, cụ thể là :

- Thông qua hoạt động vay nợ, Chính phủ và chính phủ và chính quyền địa phương các cấp đã huy động được nguồn vốn khá lớn cho đầu tư phát triển , đồng thời vẫn đảm bảo quản lý nợ trong giới hạn an toàn

- Hoạt động huy động vốn trong nước của Chính phủ thông qua phát hành tín phiếu, trái phiếu Chính phủ cũng đã giúp hình thành thị trường trái phiếu Chính phủ trong nước, một thành tố quan trọng để hình thành thị trường tài chính hoàn chỉnh Trái phiếu Chính phủ được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán đã góp phần làm tăng tính thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ nói riêng và phát triển thị trường vốn trong nước nói chung

3.2.2 Hình thức quản lý nợ công

- Đưa chỉ tiêu an toàn về nợ, mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công trong từng giai đoạn; hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia và kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm

-Tổ chức huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công đúng mục đích, hiệu quả, bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ

3.2.3 Cách tính nợ công

Nợ công của Việt Nam đang ở mức 89,07 tỷ USD, chiếm 46,6% GDP, bình quân nợ công đầu người là 979,77 USD, tăng 10% so với năm 2014

Cách tính nợ công của Việt Nam khác thế giới rất nhiều: Tại Việt Nam, nợ của doanh nghiệp Nhà nước, nợ của một số chính quyền địa phương hoặc tổ chức thuộc nhà nước không được tính vào nợ công của quốc gia Nợ công của Việt Nam chỉ nói đến nợ của Chính phủ và bộ máy công quyền, chứ chưa hề nói tới nợ của doanh nghiệp nhà nước, các xí nghiệp công ích mà nhà nước phải chịu trách nhiệm, bảo hiểm xã hội Trong khi đó, khối nợ của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 8

trong thực tế rất lớn Tức là nếu có trục trặc khó khăn gì đó ở các khu vực trên thì nhà nước phải bỏ ngân sách ra trả Nhưng trong định nghĩa nợ công không có các khoản đó nên không chuẩn bị tiềm lực để giải quyết vấn đề xấu xảy ra

Nợ công so với tổng sản phẩm

quốc dân(GDP)(%)

Nợ nước ngoài của quốc gIa so

với GDP(%)

Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài

trung,dài hạn của quốc gia so

với tổng kim ngạch xuất khẩu

hàng hóa và dịch vụ(%)

Dư nợ chính phủ so với

GDP(%)

Dư nợ chính phủ so với thu

ngân sách(%)

157,9 162,0 172,0 184,4

Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ

so với thu NSNN(%)

Nghĩa vụ nợ dự phòng so với

ngân sách (%)

Hạn mức vay thương mại nước

ngoài và bảo lãnh vay nước

ngoài của Chính phủ(triệu

USD)

2.000,0 3.500,0 3.500,0 2.429,0

4 Kết quả và hạn chế trong công tác quản lý nợ công

4.1 Kết quả

Năm 2014, khối lượng vốn vay nợ công cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đạt khá, đã huy động được 627,8 nghìn tỷ đồng, trên 98% vốn vay đã được sử dụng trực tiếp cho các dự án hạ tầng Vốn vay được sử dụng đúng mục đích, đưa

Trang 9

vào các lĩnh vực thực sự cần thiết và được sử dụng một cách tiết kiệm, qua đó góp phần làm cho kinh tế phát triển, tạo ra nguồn lực để trả nợ trong tương lai

Việc tăng cường huy động vốn vay cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, điện, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường , đã tạo ra diện mạo mới cho đất nước, trong đó có một số công trình hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế

Đặc biệt, Việt Nam đã chủ động xây dựng kế hoạch và bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia Tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ

so với tổng thu ngân sách nhà nước năm 2013 là 15,2%; năm 2014 là 13,8% và năm 2015 dự kiến khoảng 16,1% (theo quy định là không quá 25%)

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực, chủ động thực hiện cơ cấu lại nợ công: năm 2014, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính

đã chủ động kéo dài kỳ hạn phát hành trái phiếu nhằm giảm dần áp lực trả nợ ngắn hạn và giảm dần đảo nợ.Theo đó, giảm mạnh và tiến tới ngừng phát hành tín phiếu

và trái phiếu kỳ hạn ngắn, tập trung chủ yếu vào trái phiếu có kỳ hạn dài từ 5 năm đến 15 năm, bước đầu cơ cấu lại danh mục trái phiếu Chính phủ

Việc công khai về nợ công đã bước đầu đi vào nề nếp, tạo được kênh thông tin quan trọng phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, nghiên cứu về vấn đề nợ công

Hiện nay, quy mô nợ công so với GDP đang ở mức cao, gần với ngưỡng được Quốc hội cho phép trong khi nguồn lực của chúng ta còn hạn chế nên vẫn cần thiết phải huy động vốn vay để đầu tư Điều quan trọng hiện nay là làm sao nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời xây dựng kế hoạch trả nợ đầy đủ, đúng hạn và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

4.2 Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn có một số tồn tại, hạn chế nhất định liên quan đến vấn đề nợ công

Trang 10

Thứ nhất: nhu cầu vốn của Việt Nam rất lớn nhưng khả năng ngân sách không

đủ, do đó bắt buộc chúng ta phải đi vay, nên đã tạo sức ép rất lớn thúc đẩy tăng nợ công

Thứ 2: Thị trường trái phiếu trong nước cũng chưa phát triển, huy động vốn

trong nước còn hạn chế tính thanh khoản thấp

Thứ 3: Hiệu quả sử dụng vốn ODA và các chính sách sử dụng vốn ODA chưa

được cao và chưa gắn với chính sách huy động vốn đối ứng

Thứ 4: Các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường

chưa được tính toán kĩ càng, rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong phí cho vay lại à phí bảo lãnh của chính phủ

Thứ 5: Cơ chế cảnh bảo sớm còn hạn chế, chẳng hạn như trường hợp của

Vinashin, Vinaline… là một bài học lớn cho chúng ta

Thứ 6: Quyền hạn của các cơ quan còn chồng chéo phân tán Chẳng hạn đối

với cấp Bộ, ngành: theo luật quản lý nợ công thì bộ tài chính giúp chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ công (bao gồm tất cả các khâu từ xây dựng mục tiêu, định hướng huy động, quản lý và sử dụng vốn vay và quản lý nợ công) Nhưng trên thực tế Bộ kế hoạch và đầu tư lại được Chính Phủ giao cho việc huy động vốn ODA và vốn đô la Tuy nhiên khâu huy động lại không gắn liền với nguồn trả nợ, không gắn với mục đích sử dụng Mặt khác, Bộ tài chính là đơn vị chủ trì xây dựng hạn mức vay nước ngoài, bao gồm cả hạn mức tự vay, tự trả của doanh nghiệp nhưng điều hành cụ thể lại do NHNN Như vậy rõ ràng từ kênh huy động, trả nợ, sử dụng vẫn còn chưa thống nhất với nhau

5 Các nhân tố ảnh hưởng

5.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công

-Cân bằng ngân sách cơ bản: Thâm hụt nhỏ thì các khoản vay sẽ giảm đi và

ngược lại

Ngày đăng: 11/12/2017, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w