1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích những rào cản thường gặp khi thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam

16 898 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 39,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích những rào cản thường gặp khi thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam.Đề tài: Phân tích những rào cản thường gặp khi thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam1.1 Cơ sở lý thuyết1.1.1 Khái niệm và vai trò, các hình thức của đối thoại xã hội trong QHLĐ 1.1.1.1 Khái niệm đối thoại xã hội Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO : Đối thoại xã hội bao gồm tất cả các hình thức thương lượng,tham khảo ý kiến hay đơn giản chỉ là sự trao đổi thông tin giữa đại diện chính phủ,đại diện người sử dụng lao động và đại diện người lao động về những vấn đề cùng quan tâm liên quan đến chính sách kinh tế xã hội .1.1.1.2 Vai trò của ĐTXH +Đối với người lao động: khẳng định vị trí, vai trò trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích của mình. + Đối với người sử dụng lao động: giảm mâu thuẫn, giúp doanh nghiệp ổn định, phát huy trí tuệ tập thể, xây dựng quan hệ lao động hài hòa.. + Đối với quan hệ lao động: quyết định sự phát triển của quan hệ lao động, cơ sở thiết lập quan hệ lao động lành mạnh, ngăn ngừa tranh chấp lao động, xung đột, đình công, giúp chấm dứt quan hệ lao động. + Đối với xã hội : hỗ trợ quá trình xây dựng,điều chỉnh hệ thống luật pháp trong quan hệ lao động, tiến tới công bằng xã hội, phát triển tính ổn định của xã hội.

Trang 1

Đề tài: Phân tích những rào cản thường gặp khi thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam

1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Khái niệm và vai trò, các hình thức của đối thoại xã hội trong QHLĐ

1.1.1.1 Khái niệm đối thoại xã hội

Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO :" Đối thoại xã hội bao gồm tất cả các hình thức thương lượng,tham khảo ý kiến hay đơn giản chỉ là sự trao đổi thông tin giữa đại diện chính phủ,đại diện người sử dụng lao động và đại diện người lao động về những vấn đề cùng quan tâm liên quan đến chính sách kinh tế xã hội "

1.1.1.2 Vai trò của ĐTXH

+Đối với người lao động: khẳng định vị trí, vai trò trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích của mình

+ Đối với người sử dụng lao động: giảm mâu thuẫn, giúp doanh nghiệp ổn định, phát huy trí tuệ tập thể, xây dựng quan hệ lao động hài hòa

+ Đối với quan hệ lao động: quyết định sự phát triển của quan hệ lao động,

cơ sở thiết lập quan hệ lao động lành mạnh, ngăn ngừa tranh chấp lao động, xung đột, đình công, giúp chấm dứt quan hệ lao động

+ Đối với xã hội : hỗ trợ quá trình xây dựng,điều chỉnh hệ thống luật pháp trong quan hệ lao động, tiến tới công bằng xã hội, phát triển tính ổn định của xã hội

1.1.1.3 Các hình thức đối thoại xã hội

*Trao đổi thông tin:

Là hình thức đối thoại xã hội được thực hiện khi một bên đối tác công bố,thông báo đưa ra thông tin mới có liên quan,tác động đến các bên đối tác khác,trong đó các đối tác nhận tin có nhiệm vụ thực hiện,phối hợp thực hiện

Trang 2

* Tư vấn, tham khảo (Tham vấn)

Tham vấn là một quá trình mà giới chủ tìm hiểu ý kiến của những người lao động,một cách trực tiếp hoặc qua các đại diện của họ về những vấn

đề cụ thể,nhưng vẫn giữ quyền ra quýêt định về các vấn đề tham vấn này * Thương lượng:

Là hình thức đối thoại được thực hiện khi đại diện của các bên đối tác cùng tham gia,thảo luận,thống nhất về các vấn đề liên quan trực tiếp đến họ

1.1.2 Rào cản khi thực hiện đối thoại xã hội trong QHLĐ

1.1.2.1 Rào cản về năng lực của các chủ thể trong QHLĐ

Trong đối thoại xã hội , năng lực của các chủ thể là một nhân tố quan trọng.Chủ thể không có năng lực hay năng lực yếu kém sẽ gây trở ngại cho quá trình thực hiện đối thoại xã hội

-Chủ thể người lao động (NLĐ) và tổ chức đại diện NLĐ:

+Đối với người lao động, đối thoại xã hội là cơ hội đề người lao động trình bày quan điểm, ý kiến, thắc mắc, nguyện vọng của họ đối với các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ.Năng lực của NLĐ sẽ quyết định sức mạnh của họ trong quan hệ lao động Vì vậy nếu NLĐ không đủ năng lực - không biết quyền và nghĩa vụ của mình, lợi ích mà mình có thể được hưởng thì họ sẽ không đủ khả năng để bảo vệ quyền lơi của chính mình, nên cũng sẽ không khẳng định được vai trò và vị trí của họ trong mối quan hệ với các chủ thể còn lại.Người lao động không đủ năng lực sẽ dẫn đến các rào cản trong quá trình đối thoại xã hội, thương lượng, đình công bất hợp pháp có thể xảy ra,gây khó khăn trong quá trình thiết lập và duy trì QHLĐ lành mạnh

+Tổ chức đại diện cho người lao động là tổ chức bảo vệ quyền lợi chính đáng cho NLĐ,thể hiện ý chí, nguyện vọng và quan điểm của NLĐ, góp phần lành mạnh hoá quan hệ lao động.Công đoàn thực hiện việc tuyên truyền chính sách, pháp luật, đảm bảo thông tin cho NLĐ về những quyền và lợi ích chính đáng của họ, để phòng ngừa và đấu tranh

Trang 3

chống lại các vi phạm về quyền và lợi ích từ phía NSDLĐ Công đoàn cũng chính là tổ chức trực tiếp tham gia giải quyết các mâu thuẫn về quyền và lợi ích phát sinh giữa NLĐ và NSDLĐ.Chính vì vậy cho nên tổ chức đại diện cho NLĐ phải có đủ năng lực để có thể thực hiện tốt các chức năng của mình.Công đoàn mà không có năng lực sẽ gây rào cản to lớn trong đối thoại xã hội của NLĐ với NSDLĐ và nhà nước.Vậy nên tổ chức công đoàn phải phát triển các năng lực của cán bộ công đoàn cũng như năng lực tổ chức hoạt động của công đoàn

-Đối với chủ thể người sử dụng lao động (NSDLĐ) và tổ chức đại diện cho NSDLĐ

+Đối với người sử dụng lao động, đối thoại xã hội giúp người sử dụng lao động hiểu biết được nhu cầu và mong muốn của NLĐ, giúp NLĐ yên tâm làm việc và gắn bó với doanh nghiệp hơn, bởi khi một người lao động cảm thấy họ được tôn trọng và doanh nghiệp luôn quan tâm đến đời sống của họ thì họ sẽ có động lực để làm việc và nâng cao năng suất lao động.Nếu NSDLĐ không có đủ năng lực cần có như sự hiểu biết với NLĐ, kỹ năng thuyết trình hay thương lượng , không giao tiếp tốt với NLĐ thì NSDLĐ sẽ không thể xây dựng doanh nghiệp của mình ổn định,phát triển, xử lí được các mầm mống xung đột, mâu thuẫn,tranh chấp trong mối quan hệ với NLĐ.NSDLĐ phải có đủ năng lực hành vi và nhận thức để có thể thiết lập quan hệ lao động lành mạnh với NLĐ

+Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, là “cầu nối” giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các quan hệ cụ thể và trong cơ chế hai bên, cơ chế ba bên nhằm hướng tới việc tăng cường đối thoại xã hội và cùng quyết định các vấn đề của lao động.Vậy nên Tổ chức cần phải có năng lực thì mới có thể thực hiện tốt các trách nhiệm của mình, không trở thành rảo cản cản trở trong đối thoại xã hội của NSDLĐ với các chủ thể còn lại.Vì thế tổ chức đại diện cho NSDLĐ phải phát triển được năng lực của các cán bộ công đoàn cũng như năng lực tổ chức hoạt động,cách thức tổ chức của Hiệp hội

- Trong quan hệ lao động, Nhà nước có vai trò kép, vừa định ra pháp luật lao động, hướng dẫn thực hiện pháp luật lao động, vừa là một chủ thể

Trang 4

trong quan hệ 3 bên, đại diện cho lợi ích quốc gia và toàn thể cộng đồng Nhà nước tham gia vào quan hệ lao động từ trung ương đến địa phương, thông qua hệ thống hành chính Nhà nước của mình (Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương) Thông thường, các nước đặt chức năng quản lý Nhà nước về quan hệ lao động thuộc Bộ Lao động Trong Bộ Lao động thành lập Vụ hay Cục quan hệ lao động, đồng thời có các Vụ chức năng có liên quan đến các nội dung chủ yếu của quan hệ lao động (như việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, tiêu chuẩn lao động, Thanh tra lao động, Trọng tài lao động, Toà Lao động, …)

Chủ thể nhà nước giúp điều hoà lợi ích các bên NLĐ và NSDLĐ, giảm căng thẳng và giải quyết các xung đột giữa các bên trong quá trình đối thoại trong quan hệ lao động.Chủ thể nhà nước là người xây dựng môi trường pháp lý trong quan hệ giữa 2 chủ thể NLD và NSDLĐ Vì vậy chủ thể nhà nước phải có năng lực thì mới xây dựng được môi trường đối thoại xã hội lành mạnh

1.1.2.2 Rào cản về môi trường

1.1.2.2.1.Môi trường quốc tế của qhld

- ILO và các tiêu chuẩn quốc tế về quan hệ lao động

Tổ chức lao động quốc tế ILO đã được hình thành, phát triển và ngày càng khẳng định vị thế Đến tháng 3/2014, Việt Nam đã nghiên cứu và phê chuẩn 20/188 công ước của ILO, trong đó có 5/8 công ước cơ bản Các tiêu chuẩn quốc tế về quan hệ lao động là chuẩn mực để các chủ thể quan hệ lao động tham gia vào thị trường lao động toàn cầu ( là cơ sở quan trọng để ban hành và thực thi các pháp luật quan hệ lao động quốc gia; là căn cứ để người lao động, người sử dụng lao động cũng như tổ chức của họ am hiểu vai trò, vị trí cũng như những năng lực cần có để tham gia quan hệ lao động một cách chủ động và “tròn vai”) Các tiêu chuẩn quốc tế về quan hệ lao động là những tiêu chuẩn cần phải dành sự quan tâm thích đáng bởi nó tạo ra những lợi ích không nhỏ nhưng cũng đặt ra những thách thức, rào cản lớn đối với hệ thống quan hệ lao động trong nước nói chung và đối thoại xã hội nói riêng

Bên cạnh các tiêu chuẩn ngặt ngoèo đặt ra của các tổ chức quốc tế thì các vấn đề bất đồng về văn hóa, phân biệt chủng tộc, quan điểm của các quốc gia… cũng là những khó khăn cho chúng ta khi đối thoại xã hội

Trang 5

Chính vì thế nó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ lao động của Việt Nam đối với các nước khác

1.1.2.2.2 Rào cản về môi trường quốc gia

Môi trường pháp lý

+ Về mặt hình thức: Văn bản pháp lí quan trọng nhất điều chỉnh quan hệ lao động là Luật Lao động và các dạng quy định pháp lí khác để điều chỉnh các vấn đề cụ thể hơn như: Nghị định, Thông tư, Quyết định…

+ Về mặt nội dung: pháp luật quan hệ lao động chủ yếu điều chỉnh tương tác giữa các chủ thể tham gia quan hệ lao động, không điều chỉnh những vấn đề cụ thể Luật lao động của nhà nước cần đảm bảo tính đồng

bộ, nhất quán và minh bạch

 Rào cản của môi trường pháp lí:

Khi áp dụng, sử dụng cứng nhắc luật sẽ khiến doanh nghiệp và NLĐ khó có thể gần nhau khi đối thoại dễ xảy ra tranh chấp lao động, giảm tính đồng thuận trong quan hệ lao động

Đối thoại có diễn ra nhưng không theo quy trình, quy định… cho

có lệ để không vi phạm

- Môi trường thể chế kinh tế

+ Thể chế là bộ quy tắc hay các “luật chơi” và các cơ chế thực thi hay các“ cách chơi” buộc chủ thể tham gia trò chơi hay người chơi phải tuân thủ Thể chế kinh tế là hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể chế kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế Quan hệ lao động là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế do đó quan hệ lao động sẽ chịu sự chi phối bởi thể chế kinh tế của Nhà nước Thể chế kinh tế bao gồm các thành phần:

Trang 6

- Môt là, các luật chơi và quy tắc về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường

- Hai là, các chủ thể chính là các bên tham gia trò chơi hay người chơi bao gồm Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể và các tổ chức xã hội dân sự

- Ba là cách thức tổ chức thực hiện các luật chơi nhằm đạt được mục tiêu mà người chơi mong muốn

- Bốn là thị trường với tư cách là “sân chơi”- nơi hàng hóa được giao dịch, trao đổi trên cơ sở các luật chơi Trong đó thị trường lao động

là một trong những thị trường yếu tố sản xuất quan trọng đó chính là địa điểm diễn ra quan hệ lao động, phân bổ nguồn lao động

Rào cản khi đối thoại là doanh nghiệp chỉ thực hiên đúng nghĩa

vụ Phát triển kinh tế nhanh với Quy định cứng do nhà nước can thiệp thì

“quá dày”, chưa phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên khó thực hiện

- Môi trường văn hóa, xã hội

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Văn hóa gồm: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử

Điều kiện xã hội với trọng tâm là vấn đề dân số, việc làm là những yếu tố có tác động trực tiếp tới sự phát triển của thị trường lao động, quan

hệ lao động trong mỗi thời kì Những thành phần cụ thể của môi trường

xã hội: tốc độ tăng dân số, quy mô và cơ cấu lực lương lao động, Tỉ lệ lao động có việc làm, tỉ lệ lao động có việc làm, tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ thiếu việc làm,…

Trang 7

 Rào cản từ văn hóa: do điều kiện kinh tế NLĐ không được tiếp xúc nhiều khiến họ trở nên thụ động, họ luôn cảm thấy mình yếu thế hơn so với NSDLĐ và tâm niệm luôn phụ thuộc vào NSDLĐ khiến họ gặp rất nhiều trở ngại

+ Văn hóa nhận thức: khi tổ chức các buổi họp mặt NLĐ không đứng lên nói ra tâm tư, nguyện vọng của mình dẫn tới có họp mà NSDLĐ

và NLĐ vẫn không giải quyết được như điều khoản hợp đồng lao động, chính sách lương thưởng, thời gian làm việc Một bộ phận công nhân lao động e ngại phát biểu, không dám tham gia kiến nghị, đề xuất, sợ bị thành kiến, trù dập, sợ bị đuổi việc (kể cả đề xuất qua phiếu lấy ý kiến)

+ Văn hóa ứng xử: do NLĐ thiếu khả năng ứng xử tốt khiến NLĐ không thể nói hết yêu cầu, nguyện vọng của bản thân Đôi khi do ứng xử cũng khiến 2 bên xảy ra mâu thuẫn, xung đột không nên có

Rào cản về xã hội: khi vấn đề việc làm hoặc dân số tác động tới kinh tế nó cũng sẽ trở thành rào cản trong đối thoại vì lúc đó vấn đề trên

sẽ tác động tới cách ứng xử của các bên trong QHLĐ

- Thị trường lao động

Thị trường lao động nơi những người lao động và NSDLĐ ràng buộc nhau bởi quan hệ làm thuê Thị trường lao động hoạt động theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, các yếu tố của thị trường lao động bao gồm: cung lao động, cầu lao động, giá cả lao động,…

 Rào cản khi đối thoại xã hội xảy ra xoay quanh vấn đề kinh phí,lương thưởng, và thường có sự can thiệp của Nhà nước

- Tổ chức trọng tài, hòa giải, thanh tra và tòa án lao động

Năng lực của tổ chức trọng tài, hòa giải, thanh tra và tòa án lao động có tác động đến giải quyết tranh chấp lao động cũng như phòng ngừa

Trang 8

1.1.2.2.3 Môi trường ngành

yêu cầu đối với trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hiện công việc đối với người lao động, điều này ảnh hưởng đến chế độ, chính sách khi các bên trong quan hệ lao động thỏa thuận với nhau Ví dụ, về ngành công nghệ thông tin phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng dịch vụ mà chất lượng dịch vụ

do nhân viên bán hàng quyết định Đây là ngành nghề đồi hỏi kinh nghiệm

và có kỹ năng thù mới hoàn thành tốt được nên khi người lao dộng không tự tin với khả năng của mình thì khó có thể đối thoại với người sử dụng lao động, NLĐ sẽ ngại ngùng khi đối diện với người sử dụng lao động về chế độ đãi ngộ, lương thưởng…

không kéo dài xuyên suốt trong năm nên người lao động và người sử dụng lao động ít có cơ hội đối thoại với nhau Ví dụ lao động bán hàng cho các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo vào dịp lễ, tết, Trung thu…

nhiều ngành nghề non trẻ như giúp việc gia đình…ở đây người lao động làm việc họ luôn phải tôn trọng, phục tùng nhà chủ và không dám đối thoại với chủ

1.1.2.3 Rào cản do sự bất đồng về văn hóa trong các công ty đa quốc gia.

Văn hóa là các qui tắc xã hội cụ thể phản ánh thái độ, niềm tin Mỗi một doanh nghiệp đa quốc gia thường phân chia sự khác nhau về đặc điểm văn hóa tại các quốc gia theo ngôn ngữ, vị trí địa lí, tôn giáo, sự phát triển kinh tế, trình độ học vấn, hệ thống luật pháp v v văn hóa được thể hiện rõ nét bằng việc giao tiếp lẫn nhau thông qua hành vi và cách thể hiện cảm xúc

Sự bất đồng về văn hóa là một trong những nguyên nhân gây ra sự mệt mỏi và giảm năng suất lao động trong doanh nghiệp, là rào cản lớn trong quá trình thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động

Trang 9

1.2 Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

1.2.1 Những điểm tích cực khi thực hiện đối thoại xã hội trong QHLĐ ở

Việt Nam

_ Bộ luật Lao động có hiệu lực từ tháng 5/2013,đối thoại tại nơi làm việc được quy định cụ thể tại điều 63,điều 65,trong đó quy định rõ mục tiêu,hình thức,nội dung cũng như cách thức tiến hành đối thoại tại nơi làm việc.Bên cạnh đó Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 60/2013/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động

về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc “Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đối thoại định kỳ chính thức với người lao động 3 tháng 1 lần để thảo luận về hoạt động sản xuất, việc thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng lao động tập thể, những qui định, cam kết và những thỏa thuận khác Những đề nghị của người lao động cũng như người sử dụng lao động cũng có thể đưa ra trong cuộc đối thoại 3 bên Mỗi bên phải có ít nhất 3 đại diện tại cuộc đối thoại”.Các quy định,chính sách về đối thoại tại nơi làm việc đã giúp hình thành khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đối thoại được thực hiện có hiêu quả hơn tại các doanh nghiệp Việt Nam

- Cơ chế tham vấn các bên và Uỷ ban Quan hệ lao động, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển quan hệ lao động được thành lập, quan hệ của các bên được bảo đảm thông qua đối thoại, thương lượng tăng dần Tổ chức đại diện cho người lao động, người sử dụng lao động ngày càng có vai to lớn và quan trọng trong việc tham gia cùng Nhà nước hoạch định các chính sách, pháp luật lao động cũng như tổ chức thực hiện trong thực tiễn Công tác quản lý nhà nước về lao động được chú trọng, nhất là khâu tuyên truyền, kiểm tra, thanh tra việc thực thi chính sách,pháp luật lao động, Hệ thống trọng tài lao động, Toà án Lao động từng bước được củng

cố để thực hiện thiết chế xét xử khi tranh chấp lao động xảy ra

- Về đối thoại xã hội quốc tế: Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xuất khẩu lao động với nhiều quốc gia trên thế giới và đã trực tiếp kí kết một số điều ước quốc tế dưới các hình thức hiệp định,bản ghi nhớ với một số nước trên thế giới.Các hiệp định và bản ghi nhớ song phương có

Trang 10

ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lí vững chắc để bảo vệ quyền

cơ bản và hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài

1.2.2 Một số rào cản thường gặp khi đối thoại xã hội tại Việt Nam.

1.2.2.1 Rào cản về năng lực của các chủ thể

Người lao động và tổ chức đại diện cho NLĐ

- Người lao động không có đủ kiến thức về pháp luật , không biết được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình.NLĐ chưa có đủ các kỹ năng cần có trong một cuộc đối thoại, thương lượng,chưa quan tâm 1 cách đúng đắn với các cuộc đối thoại với NSDLĐ và nhà nước

- Tổ chức đại diện cho người lao động (công đoàn)

Tổ chức này được thành lập từ trung ương đến cấp tỉnh – ngành, cấp quận - huyện và cấp cơ sở Tổ chức công đoàn cơ sở ở doanh nghiệp Nhà nước tương đối mạnh cả về số lượng và chất lượng hoạt động (99% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn và hầu hết đều hoạt động có hiệu quả) Tuy nhiên, công tác phát triển công đoàn cơ sở và đoàn viên ở khu vực ngoài Nhà nước còn hạn chế,chỉ có khoảng 40% doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI có tổ chức công đoàn và ở nhiều nơi hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa thực hiện đúng vai trò là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động Năng lực, trình độ của đội ngũ làm công tác công đoàn ở doanh nghiệp nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu điều kiện và cơ chế hoạt động, bảo

vệ cán bộ công đoàn

Người sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho NSDLĐ

- NSDLĐ chưa có đủ các kỹ năng đối thoại xã hội, không biết hết được nhu cầu , nguyện vọng của NLĐ,chưa hiểu hết pháp luật hoặc biết nhưng vẫn cố tình làm trái pháp luật

- Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động

ở cấp trung ương gồm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Ở cấp tỉnh đều có Liên minh Hợp tác xã, nhưng vẫn còn nhiều tỉnh, thành phố chưa có Chi nhánh

Ngày đăng: 05/10/2016, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w