Tiểu luận về quyền im lặng Tu chính án Hiến pháp số 5. Quyền MirandaDanh mục tài liệu tham khảo1. Liên Hợp Quốc, Công ước Quốc tế về Quyền dân sự và chính trị năm 1966.2. Hiến pháp 2013, Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia.3. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.4. Lê Tiến Châu, Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý số 012003.5. TS. Nguyễn Quốc Việt, Bàn về quyền im lặng trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 012014.6. TS. Phạm Mạnh Hùng, Bàn về “Quyền im lặng” hay “Quyền từ chối khai báo” của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 022015.7. GS.TSKH Đào Trí Úc, Nguyên tắc suy đoán vô tội nguyên tắc hiến định quan trong trong BLTTHS 2015, Tạp chí Kiểm sát số 022017..............
Trang 1Đề tài số 02: Quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kì và những kinh nghiệm cho Việt Nam.
Lời mở đầu
Hoa Kì là quốc gia mang đặc điểm của mô hình tố tụng hình sự tranh tụng với mục tiêu là bảo đảm lợi ích các bên Mô hình này vận hành dựa trên nguyên tắc công bằng và luôn đề cao các quyền cơ bản của con người, trong đó quyền im lặng
là quyền năng tố tụng cơ bản Quyền im lặng là quyền cá nhân, quyền công dân cơ bản được Hiến pháp Hoa Kì quy định và thực hiện nghiêm ngặt trong hoạt động tố tụng hình sự Hoa Kì Theo đó, người bị tình nghi, người bị buộc tội được thông báo
và có quyền một cách tuyệt đối hoặc tương đối trong việc từ chối trả lời câu hỏi bất lợi đối với bản thân mình từ phía công tố, cơ quan điều tra
Quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kì là một quy định có những điểm tiến
bộ, được nhiều quốc gia trên thế giới học hỏi Trong xu thế Hội nhập hóa- toàn cầu hóa, Việt Nam, một nhà nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, việc áp dụng quyền im lặng trong tố tụng hình sự là một nhu cầu cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích cá nhân, công dân, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, khách quan chính xác và công bằng
Trang 2I Một số vấn đề về quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kì
1 Tổng quan về quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kì
Về lí luận, hai mô hình tố tụng hình sự là mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn
và mô hình tố tụng tranh tụng có những đặc điểm khác biệt căn bản là đặc trưng của mô hình đó:
Mô hình tố tụng thẩm vấn Mô hình tố tụng tranh tụng
MHTT TV dựa trên nền tảng quan hệ
công, kiểm soát tội phạm, đảm bảo lợi
ích nhà nước, xã hội, công dân
MHTT TrT dựa trên lợi ích của các bên, lợi ích xã hội là thứ yếu, đề cao
sự công bằng trong các mối quan hệ Nguyên tắc thẩm vấn Nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc công tố (trách nhiệm khởi
tố)
Nguyên tắc dàn xếp
Nguyên tắc pháp chế Nguyên tắc hợp lí
Nguyên tắc xác định sự thật khách quan
(chân lí vật chất)
Nguyên tắc xác định sự thật pháp lí (sự thật do Tòa án)
Nguyên tắc suy đoán có tội Nguyên tắc suy đoán vô tội
(Nguồn: “Nguyên tắc suy đoán vô tội- nguyên tắc hiến định quan trong
trong BLTTHS 2015”, GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Kiểm sát số 02/2017)
Nguồn gốc của quyền im lặng là nguyên tắc suy đoán vô tội (presumption of innocence), xuất phát từ đặc trưng của mô hình tố tụng tranh tụng Suy đoán vô tội nghĩa là nghĩa vụ chứng minh tội phạm và người phạm tội là trách nhiệm thuộc của phía cơ quan Nhà nước mà đại diện là Công tố và cảnh sát điều tra, còn người bị tình nghi có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội, nghĩa
là khi nhà nước không chứng minh được một người có tội (mặc dù trên thực tế, người đó có thể thực hiện hành vi phạm tội) thì người đó sẽ được suy đoán là vô tội Theo Tòa án tối cao Hoa Kì, suy đoán vô tội của nghi phạm được mô tả như một giả định vô tội được duy trì trong trường hợp không có bằng chứng ngược lại Trong thực tế, suy đoán vô tội được thực hiện thông qua các yêu cầu mà Nhà nước phải thực hiện để chứng minh cáo buộc chống lại bị cáo đó là phải không còn có một nghi ngờ hợp lí (beyond a reasonable doubt), yêu cầu đặt ra trong quá trình tố
Trang 3tụng phải có một thủ tục đúng đắn (due process) với những nguyên lí tố tụng hoạt động hiệu quả, công bằng Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc mới –quyền chống lại việc bị đặt trong tình huống có thể tự buộc tội (right against self-incrimination)
2 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kì
Trong mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, sự công bằng luôn được đề cao, lợi ích các bên được đặt lên trên hết thì quyền im lặng cũng có vị trí nhất định trong
tố tụng hình sự, đó là người bị tình nghi luôn được đảm bảo quyền và không bị Nhà nước vi phạm quyền này Quyền im lặng hay còn có tên khác là Quyền Miranda (Cảnh báo Miranda) trong tố tụng hình sự đã được ghi nhận là hình thành và phát triển mạnh mẽ nhất tại Hòa Kì Tại Hoa Kì, quyền im lặng được thiết lập để thể chế hóa nội dung quan trọng trong Tu chính án Hiến pháp thứ 5 về quyền của người bị cáo buộc trong vị án hình sự, theo đó họ không bị đặt vào tình trạng có thể trở thanh nhân chứng chống lại chính mình
Quyền im lặng xuất phát từ án lệ Emesto Miranda và Arizona (1966) Sau vụ Miranda kiện Bang Arizona vào năm 1966 thì khi tất cả cảnh sát nước này bắt
người bị tình nghi đều phải nói câu nói đầu tiên: “Anh có quyền giữ im lặng Bất cứ
điều gì anh nói có thể và sẽ được sử dụng để chống lại anh trước tòa án Anh có quyền nói chuyện với luật sư, và có luật sư hiện diện trong quá trình xét hỏi Nếu anh không thể thuê luật sư, anh vẫn sẽ được cung cấp một luật sư bằng nguồn tài chính của chính phủ”.
Quá trình hình thành và phát triển của quyền Miranda bắt đầu từ một vụ án với người bị tình nghi thực hiện tội phạm là Ernesto Miranda, sinh năm 1941 (có tiền lần đầu năm 13 tuổi và liên tục tái phạm sau đó) Năm 1962, cơ quan cảnh sát địa phương phát hiện một số vụ bắt cóc và cưỡng dâm tại Bang Arizona, sau khi cảnh sát đưa đi nhận dạng, Emesto Miranda thừa nhận mình là thủ phạm và bị bắt ở Phoenix (thuộc bang Arizona), bị buộc tội bắt cóc và hiếp dâm Sau khi bị bắt giữ,
Trang 4Miranda bị nhận dạng bởi những nạn nhân tố cáo Miranda được đưa vào một phòng nhỏ trong đồn Cảnh sát và bị tiến hành hỏi cung Trong suốt cuộc hỏi cung này, Miranda đã ký xác nhận bản thú tội, trên mỗi bản giấy này đều in sẵn những dòng chữ rằng người khai hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa, lừa dối hay hứa sẽ được giảm tội Miranda không được thông báo mình có quyền mời luật sư Tháng 6/1963 Miranda phải ra hầu tòa, sau đó Miranda bị kết án và phải chịu 20 năm tù Luật sư Alvin Moore được chỉ định biện hộ đã phản đối tòa án kết án dựa trên việc
sử dụng lời khai của Miranda để kết tội chính anh ta Sự kết án này vẫn được thi hành dù có sự chống án của Miranda lên Toà án tối cao bang Arizona vào tháng 4/1965, Tòa án Tối cao bang Arizona xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm
Giữa năm 1966, Miranda tiếp tục kháng cáo và cuối cùng đã được Toà án tối cao liên bang Hoa Kỳ giám đốc thẩm Lý lẽ kháng cáo của Miranda dựa vào sự kiện ông đã không hề được cảnh báo rằng về bất cứ lời khai nào của mình có thể được sử dụng để chống lại chính mình và Miranda không biết mình có quyền có luật sư bào chữa có mặt cùng trong suốt cuộc hỏi cung Với tỷ lệ là 5 trên 4 phiếu,
câu trả lời của Tòa án tối cao là: “Ngày nay, quyền im lặng tại Tu chính án thứ năm
có phạm vi tác động ra ngoài thủ tục tố tụng hình sự tại Tòa án và phục vụ cho việc bảo vệ con người trong mọi trường hợp, trong đó có quyền tự do đối với sự tự buộc tội Chúng tôi kết luận rằng, nếu không có những sự bảo vệ hợp lý, thủ tục thẩm vấn nghi phạm trong khi bị tạm giữ/tạm giam sẽ đương nhiên chứa đựng sự cưỡng ép và sự cưỡng ép đó sẽ áp bức ý chí cá nhân và buộc nghi phạm phải cho lời khai một cách không tự do” Các bảo vệ hợp lý mà Tòa án nhắc đến chính là
cảnh báo về quyền của nghi phạm mà Cảnh sát phải thực hiện trước mỗi cuộc thẩm vấn Sau đó, Chánh án Tòa án tối cao Hoa Kì Earl Warren ra phán quyết với nội
dung: “Theo những điều khoản của Tu chính án thứ năm thì Không ai trong bất
cứ vụ phạm tội nào bị buộc phải trở thành người làm chứng chống lại chính mình Một người bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền giữ im lặng và bất cứ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để
Trang 5chống lại người đó trước tòa án Người đó phải được thông báo anh ta có quyền tư vấn và có luật sự ở bên cạnh trong khi thẩm vấn, nếu không đủ tài chính sẽ được chỉ định luật sư”.
Cuối cùng, đối với vụ án Miranda kiện Tòa án tối cao bang Arizona, Miranda cảm thấy bị đe dọa trong cuộc thẩm vấn Ông không hiểu rằng mình có quyền không tự buộc tội và quyền có luật sư Theo Toà án tối cao Hoa Kỳ, Miranda đã thú tội là kết quả của việc Cảnh sát sử dụng phương pháp tra tấn trong suốt cuộc hỏi cung của họ Do đó, Tòa án đã không kết tội ông trong vụ án trên Sự kết án về Miranda đã bị thay đổi lại và Toà án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra một bộ hướng dẫn hành động cho Cảnh sát trước khi hỏi cung người bị tình nghi tại đồn Cảnh sát về việc cảnh báo Miranda
Với một số vụ việc khác tại Hoa Kì, án lệ Miranda vẫn khẳng định rõ vai trò
và vị trí của mình trong tố tụng hình sự Hoa Kì Năm 1999, một tòa phúc thẩm liên bang tại Hoa Kì đã không thừa nhận án lệ trên, trong vụ Dickerson kiện Hợp chủng quốc Hoa Kì, Tóa án tối cao Hoa Kì đã không thừa nhận quyền im lặng trong trường hợp người phạm tội cướp nhà băng nại rằng anh ta đã không được biết đầy
đủ các quyền của mình Đến tháng 6/2000, chính Tòa án Tối cao đã đảo ngược bản
án Dickerson của mình bằng một quyết định 7 trên 2 phiếu thông qua việc khẳng định giá trị của quyền Miranda
Nhìn chung, cảnh báo Miranda được đọc lên đối với tất cả người bị tình nghi thực hiện tội phạm trước khi giữ họ để lấy lời khai; nếu cảnh báo Miranda không được đọc thì những lời khai của người đó sẽ không được sử dụng như các bằng chứng buộc tội họ trước tòa án; thậm chí là toàn bộ kết quả của quá trình tố tụng sẽ
bị hủy bỏ vì không có giá trị do quyền im lặng không được thực hiện Ngoại lệ, trong trường hợp cảnh sát hỏi về thông tin cá nhân của người bị tình nghi thì không cần đọc cảnh báo Miranda mà vẫn có thể hỏi Ngày nay, ngoài Hoa Kì, một số quốc gia khác trên thế giới như Anh và xứ Wales, EU, Ấn Độ, Singapor, Canada, Australia… một người khi bị bắt giữ và trước khi hỏi cung, Cảnh sát phải thông
Trang 6báo cho người bị hỏi biết về quyền im lặng của mình, đây là quy định tố tụng hình
sự bắt buộc, có thể được thể hiện dưới dạng án lệ lẫn pháp luật thành văn
3 Giới thiệu về quyền im lặng (Cảnh báo Miranda)
Tại án lệ Miranda và Bang Arizona (1966), Tòa án Tối cao Hoa Kì đã kết luận rằng, nếu không có những sự bảo vệ hợp lý, thủ tục thẩm vấn người bị tình nghi trong khi bị giam giữ sẽ đương nhiên chứa đựng sự cưỡng ép và sự cưỡng ép
đó sẽ áp bức ý chí cá nhân và buộc nghi phạm phải cho lời khai một cách không tự
do Đó là cảnh báo về quyền của người bị tình nghi mà cảnh sát phải thực hiện trước mỗi cuộc thẩm vấn Cảnh báo Miranda chứa đựng những nội dung:
(1) Người bị tình nghi có quyền giữ im lặng, bất kỳ lời nói nào nghi phạm đưa
ra đều có thể sử dụng để chống lại họ;
(2) Người bị tình nghi có quyền có luật sư Nếu nghi phạm không thể thuê một luật sư, Chính phủ sẽ chỉ định một luật sư cho họ;
(3) Người bị tình nghi có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư, nhưng có thể
ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư Lúc này sẽ không có bất
kỳ một cuộc thẩm vấn nào được tiến hành cho đến khi luật sư xuất hiện;
(4) Người bị tình nghi có quyền từ bỏ những quyền trên nếu việc từ bỏ là tự nguyện
Nếu người bị tình nghi viện dẫn quyền im lặng của mình thì cuộc thẩm vấn đương nhiên phải ngừng lại Bất kỳ lời khai nào được đưa ra sau khi họ viện dẫn quyền im lặng sẽ được coi là sự cưỡng ép Nếu nghi phạm lựa chọn việc khai báo thì người đó phải thể hiện sự từ bỏ quyền im lặng một cách rõ ràng và tự nguyện Tuy nhiên, lời khai của người bị tình nghi được đưa ra sau cảnh báo không đương nhiên dẫn đến một sự từ bỏ quyền im lặng có hiệu lực Việc từ bỏ này chỉ có hiệu lực khi sự cảnh báo về quyền và sự từ bỏ quyền của người bị tình nghi được chứng minh bởi phía công tố tại phiên tòa Nếu không chứng minh được thì bất kỳ lời khai nào được thu thập tại cuộc thẩm vấn đều không thể bị sử dụng để buộc tội bị cáo
Trang 7Tóm lại, cảnh báo về quyền im lặng (hay còn gọi là cảnh báo Miranda) là một sự đảm bảo pháp lý mang tính thủ tục mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải đáp ứng trước mỗi cuộc thẩm vấn người bị tình nghi Cảnh báo này giúp người
bị thẩm vấn biết rõ về quyền im lặng của mình và đảm bảo người có thẩm quyền phải đáp ứng sự im lặng của người bị thẩm vấn
II Những quy định về quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kì
1 Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của quyền im lặng
Trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ, quyền im lặng được áp dụng đối với người bị buộc tội và người làm chứng Đối với mỗi chủ thể khác nhau, quyền im lặng có nội dung và cách thức điều chỉnh khác nhau
Thứ nhất, quyền im lặng của người bị buộc tội Trong các giai đoạn tố tụng
trước phiên tòa, phán quyết Miranda và Bang Arizona đã quy định rằng nghi phạm phải được cảnh báo về quyền im lặng của họ và nếu họ quyết định thực hiện quyền của mình thì sẽ không có cuộc thẩm vấn nào được diễn ra Từ phán quyết này có thể khẳng định nghi phạm được sử dụng quyền im lặng một cách tuyệt đối, phạm vi
sử dụng quyền thì tùy thuộc ở nghi phạm có thể không khai báo, hoặc chỉ khai báo những tình tiết có lợi cho bản thân mình Quy định này nhằm ngăn chặn các cơ quan Nhà nước sử dụng các lời khai, lời nhận tội được thu thập không tự nguyện, tranh việc bức cung dùng nhục hình trong giai đoạn trước phiên tòa Tại phiên tòa, năm 1965, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã quy định rằng sự im lặng của bị cáo tại phiên tòa không thể bị xem như là bằng chứng có tội hoặc bị sử dụng theo hướng bất lợi đối với bị cáo Như vậy, tại phiên toà, bị cáo cũng có quyền im lặng tuyệt đối, phạm vi bị cáo sử dụng tương tự như giai đoạn trước phiên tòa Điều này nhằm bảo
vệ bị cáo trước sự đòi hỏi của phía công tố buộc bị cáo phải trở thành nhân chứng
trong vụ án của chính mình Trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự, người bị buộc tội
được biết họ có quyền được giữ im lặng, được thực hiện quyền giữ im lặng tuyệt đối mà không cần đưa ra bất kỳ lý do nào cho việc thực hiện quyền của mình
Trang 8Thứ hai, đối với quyền im lặng của người làm chứng Việc thực hiện quyền
im lặng của người làm chứng hẹp hơn so với người bị buộc tội Người làm chứng không được quyền giữ im lặng hoàn toàn, họ có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi từ
cơ quan Nhà nước trong vụ án hình sự Quyền im lặng của người làm chứng chỉ là quyền tương đối, để có thể sử dụng quyền im lặng, người làm chứng bắt buộc phải chứng minh rằng việc trả lời một câu hỏi cụ thể nào đó sẽ dẫn đến hệ quả là họ có thể bị truy tố từ thông tin có trong câu trả lời đó Ngoài ra, phạm vi áp dụng của quyền im lặng không chỉ giới hạn trong tố tụng hình sự mà còn trong các thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thủ tục lập pháp Tuy nhiên, trong các thủ tục tố tụng khác thì Tòa án thường từ chối quyền im lặng tuyệt đối Do đó, khi một người viện dẫn quyền im lặng từ Tu chính án thứ năm thì họ bắt buộc phải chứng minh cơ
sở hợp lý cho sự im lặng của mình, thông thường, người làm chứng viện dẫn là câu trả lời của họ chứa đựng những thông tin có khả năng buộc họ phải chịu các trách nhiệm hình sự sau này
Trong từng hoàn cảnh pháp lý và đối với từng chủ thể áp dụng khác nhau thì đối tượng, nội dung và phạm vi tác động của quyền im lặng có sự áp dụng khác nhau Tuy nhiên, tất cả quy định trên về quyền im lặng đều hướng đến mục tiêu của pháp luật Hoa Kỳ, đó là bảo vệ và tôn trọng quyền con người, quyền công dân, đề cao công bằng xã hội
2 Các thuộc tính bảo đảm thực hiện quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã xác định rõ như sau: “Để được bảo vệ bởi Tu chính án thứ năm, một hành vi phải có mang tính chất lời khai, tính chất tự buộc tội
và tính chất bị cưỡng ép” Nói cách khác, quyền im lặng chỉ bảo vệ một hành vi khi đáp ứng được ba thuộc tính: tính chất lời khai, tính chất tự buộc tội và tính chất bị cưỡng ép
Thứ nhất, tính chất lời khai Dựa vào nhiều phán quyết của Tòa án có liên
quan đến quyền im lặng, có thể hiểu tính chất lời khai bao gồm lời khai và các hành
vi khác có thể biểu lộ những thuộc tính, đặc điểm bên trong của một người (hành vi
Trang 9mang tính chất lời khai) Ví dụ điển hình về hành vi mang tính chất lời khai là án lệ United States và Hubbell (2000) Trong vụ án này, phía công tố đã ra một lệnh yêu cầu Hubbell phải cung cấp tất cả các văn bản có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn tiền hoặc các vật có gì trị khác được Hubell nhận hoặc gửi đi Để có thể thực hiện được lệnh này, Hubbell phải suy nghĩ để xác định được tài liệu nào có liên quan đến nguồn tiền hoặc vật có giá trị Hành vi yêu cầu cung cấp tài liệu này
từ phía công tố là hành vi mang tính chất lời khai Do đó, Hubbell hoàn toàn có quyền im lặng, tức là không thực hiện yêu cầu đó
Có thể thấy, tất cả các hành vi khác không liên quan đến việc tiết lộ suy nghĩ của một người thì không thuộc phạm vi của quyền im lặng, kể cả một số hành vi cung cấp chứng cứ có tính tự buộc như yêu cầu viết chữ, thực hiện một hành vi mang tính phản xạ, hoặc yêu cầu đứng ra để người khác nhận dạng đều không được bảo vệ bởi Tu chính án Hiến pháp thứ năm
Thứ hai, về tính chất tự buộc tội Tính chất tự buộc tội là việc thực hiện hành
vi của một chủ thể khiến cho chính chủ thể đó đối mặt với khả năng chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt Đến năm 1983, Tòa án Tối cao Hoa Kì tiếp tục ghi nhận rằng yếu tố quan trọng nhất của quyền im lặng là liệu người đưa ra lời khai có phải đối mặt với trách nhiệm hình sự hay không, có nghĩa là tính chất tự buộc tội của lời khai Pháp luật Hoa Kỳ quy định rằng, trong trường hợp lời khai hoặc hành
vi của một chủ thể có thể khiến cho chính người đó bị buộc tội, phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt thì họ được quyền giữ im lặng và được bảo vệ bởi Tu chính án thứ năm
Thứ ba, đối với tính chất cưỡng ép Cơ sở để đánh giá tính chất cưỡng ép là
việc có hay không sự tác động vào ý chí tự do của người khai cho lời khai hoặc người thực hiện hành vi; có hay không việc họ bị cưỡng ép, áp bức Sự cưỡng ép có thể có nguồn gốc từ các thủ tục pháp lý chính thức hoặc xuất phát từ các sức ép không chính thức Một vấn đề đặt ra là quy định về tính chất cưỡng ép trong Tu
Trang 10chính án thứ năm chỉ giới hạn ở sự cưỡng ép của Nhà nước Như vậy, sự cưỡng ép
từ phía tư nhân không thuộc phạm vi điều chỉnh của quyền im lặng?
3 Thủ tục đánh giá tính hợp pháp của lời khai và nguyên tắc đánh giá chứng
cứ “fruit of poisonous tree” liên quan đến quyền im lặng
3.1 Thủ tục đánh giá tính hợp pháp của lời khai
Theo pháp luật Hoa Kỳ, để một lời khai của người bị buộc tội được chấp nhận tại Tòa án thì cần phải trải qua thủ tục đánh giá lời khai Đây là thủ tục “Due Process Voluntariness” (Trình tự công bằng kiểm tra tính tự nguyện), hay “Test of Totality of the Circumstances” (Kiểm tra toàn bộ hoàn cảnh) Tính tự nguyện của lời khai chính là quy chuẩn chủ yếu của thủ tục xem xét này Có nghĩa là một lời khai chỉ có tính hợp pháp khi nó là lời khai tự nguyện Thủ tục đánh giá lời khai sẽ
trải qua hai giai đoạn: thứ nhất, kiểm tra người bị thẩm vấn có biết về quyền im lặng của mình hay không (need be knowing); thứ hai, kiểm tra tính tự nguyện của
lời khai (voluntary)
Thứ nhất, giai đoạn “need be knowing” Công việc duy nhất của Toà án ở
giai đoạn này là kiểm tra xem người có thẩm quyền đã đưa ra cảnh báo Miranda cho người bị thẩm vấn trước mỗi cuộc thẩm vấn hay chưa? Nếu một cuộc thẩm vấn bắt đầu mà không có cảnh báo Miranda, bất kỳ lời khai nào được đưa ra đương nhiên bị xem như là kết quả của sự cưỡng ép Lời khai đó không thể được chấp nhận và sử dụng tại phiên tòa như là chứng cứ
Thứ hai, giai đoạn “voluntary” Giai đoạn kiểm tra tính tự nguyện của lời
khai, được Toà án Hoa Kỳ tiến hành sau khi lời khai vượt qua giai đoạn “need be knowing” Tòa án Hoa Kỳ sẽ áp dụng các tiêu chuẩn định tính, có thể thay đổi theo từng vụ án, để xem xét khía cạnh khách quan và chủ quan của cuộc thẩm vấn Kết hợp các khía cạnh với nhau, Thẩm phán sẽ xác định được lời khai của người bị thẩm vấn có phải là sản phẩm của ý chí tự do hay không Khía cạnh khách quan được Toà án Hoa Kỳ xem xét bao gồm cách thức thực hiện cuộc thẩm vấn, thời gian, địa điểm và các yếu tố khác liên quan đến cuộc thẩm vấn Tòa án Tối cao Hoa