1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

LỄ hội bắt CHỒNG của các dân tộc Tây Nguyên

7 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lễ hội truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số như Chu Ru, Cơ Ho, Bh’noong (một nhóm Giẻ Triêng), Gia Rai, Ê Đê, Rơ Măm...; thường được tổ chức vào mùa xuân (khoảng tháng 2, tháng 3), là mùa hoa cà phê, hoa pơlang nở. Các dân tộc Chu Ru, Cơ Ho, Bh’noong, Gia Rai... tập trung chủ yếu trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và một số địa phương lân cận. Họ có đời sống tinh thần vô cùng phong phú với nhiều lễ hội và tập quán độc đáo. Người Chu Ru, Cơ Ho, Bh’noong, Gia Rai... theo chế độ mẫu hệ, quyền chủ động cưới hỏi được ưu tiên cho phụ nữ. Hầu như tất cả các dân tộc theo chế độ mẫu hệ ở Tây Nguyên đều có lễ bắt chồng với có khá nhiều điểm tương đồng nhưng vẫn mang những nét độc đáo của tộc người.

Trang 1

LỄ HỘI BẮT CHỒNG

Lễ hội truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số như Chu Ru, Cơ Ho, Bh’noong (một nhóm Giẻ - Triêng), Gia Rai, Ê Đê, Rơ Măm ; thường được tổ chức vào mùa xuân (khoảng tháng 2, tháng 3), là mùa hoa cà phê, hoa pơlang

nở

Các dân tộc Chu Ru, Cơ Ho, Bh’noong, Gia Rai tập trung chủ yếu trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và một số địa phương lân cận Họ có đời sống tinh thần vô cùng phong phú với nhiều lễ hội và tập quán độc đáo Người Chu Ru,

Cơ Ho, Bh’noong, Gia Rai theo chế độ mẫu hệ, quyền chủ động cưới hỏi được

ưu tiên cho phụ nữ Hầu như tất cả các dân tộc theo chế độ mẫu hệ ở Tây Nguyên đều có lễ bắt chồng với có khá nhiều điểm tương đồng nhưng vẫn mang những nét độc đáo của tộc người

Các thiếu nữ, sau khi tìm hiểu và ưng ý một chàng trai nào đó, sẽ về thông báo để gia đình, dòng họ chuẩn bị hôn sự Lễ bắt chồng là nghi lễ vòng đời quan trọng nhất, do đó lễ vật được chuẩn bị rất cầu kì và tốn kém Có những trường hợp hôn lễ phải đợi hàng năm để nhà gái có thời gian chuẩn bị lễ vật Nay, tùy vào kinh tế gia đình và đòi hỏi từ phía nhà trai mà sính lễ nhà gái mang đến cho nhà trai sẽ có những thay đổi cho phù hợp Mỗi dân tộc có yêu cầu về lễ vật cưới hỏi khác nhau Về cơ bản, lễ vật thường có: gà, thuốc, rượu cần, cặp vòng cưới/nhẫn cưới bằng bạc, đồ trang sức và một số nông sản Trước đây, những thiếu nữ nghèo không đủ tiền để cưới chồng thường dệt 3 chiếc khăn thổ cẩm để làm lễ vật sang nhà trai

Trong số các lễ vật mang sang nhà trai, cặp nhẫn cưới srí (Chu Ru) hoặc vòng cưới (Ê Đê, Gia Rai ) được coi là tín vật quan trọng không thể thiếu, mang sức mạnh kết nối lứa đôi Để có cặp nhẫn hoàn hảo người thợ phải chuẩn

bị kĩ lưỡng các vật liệu: bạc, sáp ong, phân trâu và một ít đất sét từ khu đất thiêng trong rừng, củi đun bạc (củi cây kasiu) Trước khi đúc nhẫn, người thợ phải tắm rửa sạch sẽ bằng nước một loại lá rừng có mùi thơm, không được gần gũi vợ Khi đúc nhẫn phải chọn giờ đẹp (khoảng từ 4 đến 8 giờ sáng) và trải

Trang 2

qua nhiều công đoạn: làm 2 loại khuôn nhẫn trống (srí kră)- nhẫn mái (srí mơtal) (nấu chảy sáp ong rồi trộn với phân trâu, dùng que gỗ tròn bằng ngón tay nhúng vào, rồi cắt thành những khuyên nhỏ); đúc nhẫn (đun nóng bạc đổ vào khuôn, sáp ong và phân trâu sẽ bết lại, tạo thành lớp men bên ngoài nhẫn); đánh bóng, trạm trổ và rửa nhẫn bằng nước lá cây kơ-nia hoặc bồ kết

Cặp nhẫn Srí của người Chu Ru

(nguồn: Internet)

Lễ bắt chồng

Sau khi chuẩn bị đầy đủ, nhà gái chọn một ngày đẹp đem lễ vật sang nhà trai Một số dân tộc, để giữ thể diện của nhà gái trong trường hợp bị từ chối, lễ hỏi diễn ra vào ban đêm (Chu Ru) Đoàn nhà gái gồm: ông/bà mối (thường là ông cậu) hoặc người có uy tín, khỏe mạnh, ăn nói lưu loát (già làng, trưởng họ ); cô gái cùng những người ruột thịt, người thân (khoảng 10 người)

Đầu tiên, ông mối đặt vấn đề với nhà trai Trong lúc ông mối dạm hỏi, cô gái sẽ đưa 3 tấm khăn đã dệt lên phía trước để thể hiện thành ý của mình Nhà trai bàn bạc, nếu cha mẹ chàng trai đồng ý sẽ cử một người có uy tín cầm vòng hoặc nhẫn của nhà gái đến hỏi ý kiến con trai Trước sự chứng kiến của hai họ, chàng trai nhận vòng/nhẫn là chấp thuận lời hỏi cưới

Thông thường, sau lễ dạm hỏi, nhà trai mời nhà gái ở lại bàn chuyện thách cưới và cùng nhau ăn uống, nhảy múa đến sáng Tiếp đó, đại diện nhà gái thỏa thuận về thủ tục “gửi dâu” Cô gái ở lại nhà trai trong một khoảng thời gian nhất

Trang 3

nhà trai làm lễ mời nhà gái đến để từ chối mà vẫn thể hiện sự tôn trọng với nhà gái Nếu chấp thuận, nhà trai sẽ thông báo để nhà gái mang lễ vật đến đón rể (cũng có những dân tộc, hôn lễ được tổ chức ngay sau khi dạm hỏi, khoảng 1-2 giờ sáng, đôi trai gái sẽ được đưa về nhà gái, chính thức nên vợ thành chồng)

Ông mối thưa chuyện với nhà trai (người Gia Rai)

(nguồn: Internet)

Khi nhà gái lo đủ lễ vật thách cưới của nhà trai sẽ thông báo cho buôn làng việc tổ chức lễ cưới Lễ cưới thường được tổ chức trong hai ngày Ngày đầu

là lễ đón rể, sau khi đón rể về là lễ ăn mừng – chúc mừng hạnh phúc đôi lứa Lễ vật đón rể phải có vòng đồng/nhẫn, ché rượu cần, gói xôi, con gà trống Nếu có voi, chú rể được cưỡi voi, không có phải đi bộ Đến nhà trai, nhà gái mời rượu

và trao vòng/nhẫn cho chú rể, ông cậu và anh trai chú rể Nhà trai lại trao ba chén rượu và ba chiếc vòng lần lượt cho cô dâu, cậu ruột cô dâu và anh ruột cô dâu Tiếp đến, cô dâu chú rể trao vòng/nhẫn cho nhau và cùng nhau uống rượu Đôi vòng/nhẫn - được coi như vật chứng cho lời thề thủy chung, đồng thời lời chúc tụng hạnh phúc cho cô dâu chú rể và anh em hai họ Chúng thường được lưu giữ suốt đời, khi chết chôn theo hoặc trao lại cho con cháu Kế tiếp, cặp đôi mới cưới cùng mời cơm, rượu họ hàng và dân làng trong tiếng chiêng trống rộn rã

Trang 4

Trao vòng trong lễ cưới của người Gia Rai

(nguồn: Internet)

Cô dâu người Ê Đê đi rước chú rể

(nguồn: Internet) Ngoài các nghi thức cơ bản trên, người Giẻ - Triêng, Chu Ru, Ê Đê… còn

có thêm lễ trùm khăn/chăn Cặp vợ chồng mới cưới sẽ cùng nhau trùm một tấm chăn với ngụ ý hợp nhất hai linh hồn của họ

Trùm khăn trong đám cưới người Chu Ru và Ê Đê

Trang 5

(nguồn: Internet)

Trong đám cưới của người Ê-đê có tục “té nước” Khi rể về nhà vợ, bạn

bè sẽ đón đường té nước vào người đôi vợ chồng mới cưới Họ cho rằng, càng

có nhiều người té nước thì đôi trai gái sau này sẽ càng hạnh phúc và khi chết sẽ

có nhiều người thương khóc

Trường hợp chàng trai bội ước, không làm lễ cưới, thì nhà trai phải trả cho nhà gái một khoản phạt bằng hiện vật và một lễ hiến sinh (thường là một con lợn)

Với người Ê Đê, sau lễ cưới ba hoặc năm ngày, hai vợ chồng về nhà bố

mẹ chồng làm lễ lại mặt (Siê knăm) Nhà trai mời rượu và đưa một số đồ nông

cụ, đũa bát đặt bên ché rượu để chú rể mang về nhà vợ Sau lễ này, hai vợ chồng mới chính thức chung sống

Đối với người Gia Rai, sau lễ đón rể, chàng trai tuy đã là người nhà vợ nhưng vẫn chưa được về nhà vợ, mà phải ở tại nhà rông khoảng 1 - 2 tháng, không được về nhà của cha mẹ mình Hàng ngày, vợ đến đưa chồng về nhà ăn cơm rồi cùng nhau lên nương rẫy (nhà vợ) và tối lại phải ngủ tại nhà rông

Phần hội:

Đám cưới không chỉ là sự kiện lớn trong đời sống gia đình mà còn trở thành một sinh hoạt cộng đồng quan trọng của người Tây Nguyên Đêm trước lễ cưới, dân làng đã tập trung rất đông: người nhà thì bàn bạc cách thức cử hành hôn lễ, chuẩn bị thực phẩm làm cỗ; các nghệ nhân tập lại các tiết mục nghệ thuật; trai gái thì chuẩn bị trang phục, cồng chiêng, nhạc cụ… và lo các việc khác phục vụ ngày cưới… Trong suốt đám cưới, buôn làng nhộn nhịp, quây quần bên ánh lửa Họ cùng nhau nói chuyện, múa hát, uống rượu cần… trong tiếng cồng chiêng vui vẻ Trong đêm hội này, cô dâu và chú rể phải đọc một số câu luật tục riêng của dân tộc mình (“Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi về với vợ như về với nước, ”)

Trang 6

Dân làng nhảy mú trong đám cưới (Ê Đê)

(nguồn: Internet)

Múa Tamya trong đám cưới của người Chu Ru

(nguồn: Internet)

Lễ hội bắt chồng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa Tây Nguyên, phản ảnh đời sống tinh thần phong phú của các dân tộc nơi đây Tuy cách thức tiến hành lễ bắt chồng của mỗi dân tộc có khác nhau, song đều khẳng định vai trò quan trọng của người phụ nữ với hôn nhân, gia đình; mỗi nghi lễ đều nhằm gắn kết đôi vợ chồng, gắn kết hai họ và tăng cường tinh thần đoàn kết của cả buôn làng Đây là sinh hoạt văn hóa, tinh thần độc đáo cần được lưu giữ

Tài liệu tham khảo: Trần Ngọc Bảo (2005), Từ điển ngôn ngữ - văn hóa – du lịch

Huế xưa; Đặng Nghiêm Vạn (1981), Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum; Ngô Đức Thịnh (2007), Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên; Trần Phong (2008), Lễ hội Tây Nguyên; Đinh Văn Thiên – Nguyễn Trung Minh – Hoàng Thế Long (2010), Tây Nguyên – vùng đất, con người; Nguyễn Thanh (chủ biên) (2010), Người Chu-ru ở Lâm Đồng; Hội Văn nghệ dân gian

Trang 7

Việt Nam (2012), Hôn nhân và gia đình các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; Thạch Phương – Lê Trung Vũ (2015), 60 Lễ hội truyền thống Việt Nam

Ngày đăng: 07/12/2017, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w