Luật tục của dân tộc thiểu số là những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong cộng đồng địa phương. Được mọi người tuân thủ và trở thành truyền thống nhất định. Quy định rõ các vi phạm đều bị nghiêm trị.
Trang 1PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM TẠI GIA LAI
TIỂU LUẬN
Đề tài:
LUẬT TỤC CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN
Sinh viên: Lê Thị NhỉLớp: DH14LNGLGVHD: Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Thời gian nghiên cứu 6
II.Nội dung nghiên cứu
8
2.1 Luật tục các dân tộc Tây Nguyên 8
2.1.1 Một số khái niệm 8
Trang 32.1.1.1 Khái niệm luật tục 8
2.1.1.2 Khái niệm luật tục của dân tộc thiểu số 9
2.1.2 Nguồn gốc ra đời của luật tục 9
2.1.3 Hình thức lưu truyền của luật tục 9
2.1.3.1 Luật tục dưới dạng các lời nói vần truyền miệng từ đời này sangđời khác 10
2.1.3.2 Luật tục thành văn hay đã được văn bản hóa 10
2.1.3.2.1 Hương ước 11
2.1.3.2.2 Luật tục của người Thái và Chăm 12
2.1.3.3 Luật tục tồn tại dưới dạng thực hành xã hội 13
2.1.4 Đặc điểm cơ bản của luật tục 13
2.1.5 Nội dung cơ bản của luật tục 14
Trang 42.1.6 Vai trò, giá trị của luật tục 15
2.1.6.1 Vai trò của luật tục 15
2.1.6.2 Giá trị của luật tục 17
2.2 Những hạn chế của luật tục 17
2.3 Mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật 18
III.Kết luận
20
Tài liệu tham khảo
21
Trang 6I.ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.Lời nói đầu:
Ở nước ta, luật tục xuất hiện từ rất sớm và tồn tại cho đến ngày nay Suốtchặng đường lịch sử đó, luật tục chắc chắn đã có nhiều sự thay đổi Hiện nay,theo tiến trình phát triển chung của xã hội loài người thì các nét văn hóa khácnhau của các dân tộc khác nhau đã bị pha tạp Nhiều quan điểm cũng bị thay đổigiữa cái cũ và cái mới Một vài nguyên nhân như: Sự gia tăng dân số mạnh mẽ,nguồn tài nguyên suy thoái, sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa có hại từ bênngoài, văn hóa truyền thống bị mai một Đã làm cho một số luật tục ở ViệtNam dần dần mất đi quan điểm ban đầu, các giáo điều suy yếu dần
Đối với mỗi một dân tộc, văn hóa là linh hồn của họ, là tài sản vô giá docon người sáng tạo và đã tích lũy được do trải qua nhiều quá trình tương tácgiữa cá nhân với môi trường tự nhiên và xã hội Trong vốn văn hóa cổ truyền,
có những di sản văn hóa vật thể (lâu đài, đình đền, nhà ở,…) và những di sảnvăn hóa phi vật thể (chuyện kể dân gian, ca dao, hương ước, lễ hội,…) Mà sựgắn bó mật thiết giữa vật thể và phi vật thể là mối quan hệ giữa luật tục vàMTSTTN
Tại một số nơi ở Việt Nam, việc quản lý kinh tế không bền vững Có ýkiến cho rằng, nên xóa bỏ hoàn toàn những luật tục cũ vì chúng đã trở nên lạchậu, không còn phù hợp với yêu cầu của một xã hội mới nữa Nhưng cũng có ýkiến khác lại cho rằng, ta nên bảo lưu luật tục vì khi ở một phạm vi nhất địnhnào đó chúng cũng có vai trò, giá trị xã hội quan trọng như pháp luật, đó là điềuchỉnh các quan hệ xã hội, duy trì và ổn định một trật tự xã hội của cộng đồng,đảm bảo cho cộng đồng tồn tại và phát triển Nhưng rất tiếc luật tục lại khôngphải là pháp luật Vậy, chúng ta nên loại bỏ hay tiếp tục duy trì luật tục? Nếuduy trì thì phải bằng cách nào đó để biến chúng trở thành mục tiêu, đồng thờicũng là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội…
Trang 7Xuất phát từ nhận định trên, nhằm khai thác những giá trị tốt đẹp của luậttục, nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa ở Việt Namnói chung và ở Tây Nguyên nói riêng Vì vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Luật tục các dân tộc Tây Nguyên”.
Cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh phânhiệu tại Gia Lai đã giúp đỡ tôi hoàn thành tiểu luận này
2.Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả của bài tiểu luận này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu(sách vở, internet,…), phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, liệt kê và dựbáo để hoàn thành đề tài
3.Mục tiêu đạt được của đề tài:
Tiểu luận nêu lên được một cách khái quát nhất về luật tục của các dântộc ở Tây Nguyên Sự cần thiết là phải nâng cao tinh thần bảo vệ và duy trì luậttục trong con người Việt Nam hiện nay
Đánh giá được quá trình vận dụng luật tục trong nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta Phân tích vai trò, giá trị của luật tục và nêu lên những mặthạn chế của luật tục
Tác giả mong muốn bài tiểu luận này sẽ là tài liệu nghiên cứu, tham khảocủa các khóa học sau
4.Giới hạn đề tài:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu luật tục của các dân tộc ở Tây Nguyên
4.2 Thời gian nghiên cứu:
Trang 8Giới hạn thời gian từ khi môn xã hội học nông thôn kết thúc, từ ngày 5tháng 12 năm 2015 đến ngày 15 tháng 12 năm 2015.
Trang 9II.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
2.1 Luât tục các dân tộc Tây Nguyên:
2.1.1 Một số khái niệm:
2.1.1.1 Khái niệm luật tục:
Luật tục là một thuật ngữ được chuyển dịch từ droit coutumier (tiếngPháp) và customary law (tiếng Anh)…
Luật tục là một hiện tượng xuất hiện từ lâu đời, nó có tác động mạnh mẽđến đời sống sinh hoạt, sản xuất của con người trong cộng đồng xã hội Là mộthiện tượng mang tính lịch sử
Về bản chất của quá trình hình thành, luật tục là toàn bộ những nguyên tắcứng xử không thành văn được hình thành trong một cộng đồng, sau thời gian dài
áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người trong cộng đồng tuân thủ.Như thế, luật tục là một CMXH, là một cách ứng xử mang tính phong tục
Luật tục là một hiện tượng có nguồn gốc từ các phong tục tập quán đượclưu truyền trong cộng đồng, là những QPPL tham gia điều chỉnh các QHXH
Xét về mặt văn hoá xã hội, luật tục được hiểu là những quy định mangtính truyền thống, văn hoá của một nhóm người có quan hệ với nhau về mặthuyết thống, do đó phải tuân theo những quy định của cộng đồng
Luật tục chính là hình thức sơ khai của luật pháp trong xã hội chưa có sựphân chia giai cấp, tính chất và cấp độ có thấp hơn so với hương ước của ngườiViệt
Luật tục là hệ thống quy phạm xã hội bao gồm các quy tắc xử sự, chứa
đựng những tiêu chí về đạo đức, luân lý, cách ứng xử, phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều thế hệ trong cộng đồng người có QHHT
Trang 10xây dựng và lưu truyền đến ngày nay Nhằm điều chỉnh các QHXH trong cộng đồng, được mọi thành viên trong cộng đồng đó thực hiện một cách tự giác.
2.1.1.2 Khái niệm luật tục của dân tộc thiểu số:
Luật tục của dân tộc thiểu số là những nguyên tắc ứng xử không thành
văn được hình thành trong cộng đồng địa phương Được mọi người tuân thủ vàtrở thành truyền thống nhất định Quy định rõ các vi phạm đều bị nghiêm trị
2.1.2 Nguồn gốc ra đời của luật tục:
Luật tục truyền thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta được hình thànhtrên cơ sở những điều kiện KT - XH nhất định Nền tảng kinh tế quyết định nộidung và hình thức của luật tục chính là một nền sản xuất có dáng dấp của kinh
tế nguyên thủy, mang tính chất khép kín, tự cung, tự cấp với trình độ PCLĐthấp, hình thức phân phối bình quân bằng hiện vật và lối sống du canh du cư.Nền tảng xã hội quyết định sự hình thành luật tục là một kết cấu xã hội chưa có
sự phân hóa thành giai cấp nhưng đã có sự phân biệt giàu nghèo và trên cơ sở
đó đã hình thành các tầng lớp xã hội có địa vị và quyền lợi khác nhau và do đólàm nhen nhóm những mâu thuẫn, đối lập nhất định giữa họ với nhau
Luật tục ra đời từ khi xã hội chưa có sự PCGC, cũng chưa thoát khỏi “cáibóng” của chế độ mẫu hệ nguyên thuỷ, không được ghi lại bằng bất cứ văn bảnhay văn tự nào
Về lịch sử, luật tục ra đời trước khi có luật nhà nước…
2.1.3 Hình thức lưu truyền của luật tục:
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương đượchình thành trong lịch sử lâu dài của dân tộc qua kinh nghiệm ứng xử với môitrường và xã hội đã được định hình dưới những hình thức khác nhau, đượctruyền từ đời nay sang đời khác thông qua trí nhớ, qua THXH Nó hướng đến
Trang 11việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hòa các quan hệ giữa người với MTSTTN.Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thực hiện đã tạo nên sự thống nhất vàCBXH của mỗi cộng đồng.
Ở mỗi dân tộc, có một tên gọi luật tục riêng Hương ước của người Việt(dân tộc kinh), Hịt khỏng của người Thái, PhạtKđi (hay Biđuê) của người Ê Đê,Phạtkđuôi của người M’Nông, Ađatmuca của người Ra Glai, Dây tơ ron kđi củangười Ba Na, Nri của người S Rê, N’dri của người Mạ…
Căn cứ vào hình thức tồn tại của các loại luật tục, người ta chia luật tục ralàm 3 loại:
-Luật tục dưới dạng các lời nói vần truyền miệng
-Luật tục thành văn hay đã được văn bản hóa
-Luật tục dưới dạng những THXH
2.1.3.1 Luật tục dưới dạng các lời nói vần truyền miệng từ đời này sang đời khác:
Ví dụ: Luật tục Ê Đê, M’Nông, Ra Glai, Ba Na, Mạ…
Bộ luật này phản ánh về nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như mốiQHCĐ, vai trò và trách nhiệm của người thủ lĩnh, hôn nhân và gia đình, sở hữutài sản, việc xâm phạm tới cá nhân (chửi, đánh đập, giết người…)… Luật tụckhông chỉ là những điều ngăn cấm, xử phạt mà còn là những điều khuyên răn,giáo dục, tạo dư luận xã hội để truyền bá cái tốt, bài trừ cái xấu Việc thực thiluật tục dựa vào phán quyết của người xử kiện, của mỗi buôn làng phải có sựtham gia của cộng đồng dòng họ, gia tộc của cả bên nguyên cáo và bị cáo
2.1.3.2 Luật tục thành văn hay đã được văn bản hóa:
Có 2 dạng điển hình: Hương ước (hay còn gọi là hương lệ, khoán lệ,
Trang 12luật tục này được ghi chép dưới dạng văn xuôi, gồm các điều luật cụ thể màkhông phải là lối nói văn vần, cách nói hình tượng như các dân tộc thiểu số khác
ở Tây Nguyên Trong luật tục thành văn, các điều khoản được trình bày, liệt kê
rõ ràng và tập trung vào hai vấn đề chủ yếu là hoạt động của bộ máy “chính trị”
và các nghi lễ (tang ma, cưới xin,…) trong đơn vị xã hội truyền thống (làng,bản, mường,…)
2.1.3.2.1 Hương ước:
Hương ước là một trong những công cụ quản lý của làng xã nông thônxưa Mỗi bản hương ước đều chủ yếu tập trung vào các quy đinh sau:
1 - Những quy ước về chế độ ruộng đất
2 - Những quy ước về việc khuyến nông, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môitrường
3 - Trong hương ước còn ghi những điều ngăn chặn tệ nạn cờ bạc hayngăn chặn những quan hệ nam nữ bất chính
4 - Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các thành viên
và các chức dịch trong làng
5 - Những quy ước về văn hóa tinh thần, tín ngưỡng…
Trang 13Hình 2.1.3.2.1 Xây dựng hương ước cần lấy ý kiến của nhân dân
Nguồn: dung-huong-uoc/c/12463777.epi#&gid=1&pid=1
http://www.baomoi.com/Tra-lai-vai-tro-cua-lang-trong-xay-2.1.3.2.2 Luật tục của người Thái và Chăm:
-Luật tục Thái: Tồn tại dưới 2 dạng:
+Luật Mường: Đề cập tới các vấn đề:
1 - Lai lịch của Mường
2 - Ranh giới Mường
3 - Bộ máy quản lý Mường và quyền lợi của các chức dịch
4 - Nghĩa vụ và quyền lợi của người dân
5 - Việc cúng lễ, tế tự của bản Mường
6 - Các quy định thưởng phạt liên quan đến việc sở hữu, quan hệhôn nhân gia đình, đến việc xâm phạm đến thân thể, các phong tục tậpquán,…
Trang 14+Những tục lệ liên quan đến cưới xin, ma chay, cúng lễ,…
-Luật tục Chăm: Được bắt đầu từ hình thức truyền miệng, rồi sau đó đượcvăn bản hóa vào những thập kỷ giữa thế kỷ XIX Phần luật tục Chăm về hônnhân gia đình đề cập đến các vấn đề: Điều kiện kết hôn, hôn nhân và ly hôn,phân chia tài sản, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quyền của người phụ nữ,quyền của người đàn ông,…
2.1.3.3 Luật tục tồn tại dưới dạng thực hành xã hội:
Trong 3 hình thức lưu truyền luật tục thì luật tục tồn tại dưới dạng THXHchiếm số lượng lớn nhất Nó bao gồm cả những luật tục từng dưới dạng truyềnmiệng văn vần hay thành văn, nhưng do một hoàn cảnh nào đó nay đã mất Chođến nay, việc sưu tầm và nghiên cứu loại luật tục này còn khá hạn chế Chỉ cómột số ít công trình đề cập một cách có hệ thống về luật tục THXH ở các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là cuốn Luật tục của người Tà
ôi, Cơ Tu, Bru – Vân Kiều liên quan đến các vấn đề như giải quyết tranh chấp
sở hữu nguồn tài nguyên, điều chỉnh nhận thức của cá nhân, QHXH và hônnhân gia đình,…
Dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào thì hiện nay luật tục của các dân tộc Việt Nam nói chung và của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng cũng đều đang đứng trước nguy cơ bị mai một phá hoại bởi thời gian và con người Nhiều cuốn luật tục: Hít khỏng của người Thái bị đốt hay mất mát, thất lạc, nhiều bộ luật truyền miệng của các dân tộc Tây Nguyên bị quên lãng Nhiệm vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải cứu lấy những di sản quí báu đó.
2.1.4 Đặc điểm cơ bản của luật tục:
Thứ nhất, luật tục là một công trình lập tục tập thể của cả cộng đồng và
được chọn lọc, lưu truyền qua nhiều thế hệ Tinh thần của luật tục là đưa ra quyphạm để giải quyết có lý, có tình những mâu thuẫn, để răn đe, giáo dục Luật tục
Trang 15hướng thiện cho con người, đã làm người phải làm người thật thà, không giandối, không làm điều ác, mang tính khuyên răn.
Thứ hai, luật tục có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh
vực QHXH trong cộng đồng người Có thể phân thành những nhóm lĩnh vựcđược luật tục điều chỉnh như: Lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng, lĩnh vực
ổn định trật tự an ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng, lĩnh vực tôn trọng, tuânthủ, bảo vệ phong tục, tập quán; lĩnh vực quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình;lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai; bảo vệ sản xuất, môi trường; lĩnh vực duy trì
và giáo dục nếp sống văn hóa, tín ngưỡng
Thứ ba, luật tục được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của dư luận cộng
đồng, bằng chính sự tự giác của mỗi cá nhân, có khi như một thói quen Dư luậncộng đồng là lực lượng hướng dẫn và cưỡng chế các thành viên ứng xử theođúng chuẩn mực của quy ước và luật tục Dư luận cộng đồng góp phần cổ vũ,khích lệ các thành viên chấp hành các quy định của luật tục, làm tốt các điềuphải làm, có tác dụng răn đe, ngăn ngừa những người có hành động vi phạmluật tục Mặt khác, tín ngưỡng, thần linh cũng chi phối ý thức, tuân thủ luật tụccủa của cả cộng đồng
2.1.5 Nội dung cơ bản của luật tục:
Nội dung cơ bản của luật tục được thông qua việc khái quát những nhómquy định trong từng lĩnh vực sau:
Các quy định trong lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng (tội xúc phạmđến già làng, trưởng thôn, về quan hệ với các thủ lĩnh, các tội chống chủ làng,
…)
Các quy định mô tả hành vi được coi là phạm tội (gian dâm, loạn luân,xâm phạm thân thể, tính mạng của người khác, các trọng tội, các tội giết người,
Trang 16Nhóm quan hệ hôn nhân và gia đình (quan hệ nam nữ, cha mẹ với concái, đính hôn, ly hôn,…).
Hình 2.1.5 Vấn đề về luật tục hôn nhân và gia định
Nguồn: voi-van-de-hon-nhan-va-gia-dinh-2246233/
http://baodaklak.vn/channel/3609/201306/luat-tuc-tay-nguyen-Nhóm quy định trong lĩnh vực dân sự: quy định về thừa kế, giao dịchdân sự,… (quan hệ sở hữu, khai hoang đất và quyền sở hữu ruộng đất, về củacải tài sản, giải quyết nợ nần, gia súc, đất đai,…)
2.1.6 Vai trò, giá trị của luật tục:
2.1.6.1 Vai trò của luật tục:
Trong xã hội hiện đại ngày nay, luật tục vẫn phát huy vai trò điều chỉnhmọi mối quan hệ xã hội ở các buôn, làng, bản của đồng bào các dân tộc thiểu số.Đối với họ, luật tục của cộng đồng mình vẫn được coi là chuẩn mực trong hành
vi ứng xử hàng ngày Trong mọi hoạt động giao tiếp với cá nhân, cộng đồng,
Trang 17khi gặp phải tình huống cần lựa chọn hành vi ứng xử, đồng bào các dân tộcthiểu số thường nghĩ ngay đến những câu trong luật tục mang đậm chất dângian, ví von, thơ ca để tìm định hướng cho hành vi ứng xử của mình không vượt
ra ngoài những quy định của luật tục
Vai trò của luật tục đối với đạo đức: Ví dụ, luật tục của đồng bào dân tộcMông quy định có hình thức phạt nặng trường hợp ngoại tình (bị đánh đòn bằng
da trâu), ở người Khơ Mú, kẻ ngoại tình bị ăn chung trong máng cám lợn, thậmchí bị đuổi ra khỏi làng Bên cạnh đó, luật tục lại khuyến khích việc những quảphụ còn trẻ nên tái giá Trong hôn nhân, luật tục đa số không cho phép kết hôncùng huyết thống, muốn thành vợ, thành chồng khi có cùng dòng họ thì ít nhấtphải qua 4 đến 5 đời, ai vi phạm sẽ bị phạt lợn, rượu cho cả làng uống Luật tụcluôn chứa đựng yếu tố đạo lý, tình làng nghĩa xóm Khi bản có người chết, mọingười đến chia buồn và giúp gạo, thực phẩm không lấy lại Các thành viên dùkhông ai bảo ai đều nghỉ việc nương rẫy…
Một trong những yếu tố thể hiện vai trò của luật tục đối với đời sống xãhội chính là chế tài, sự thưởng phạt nghiêm minh của luật tục đối với mọiHVVP những quy tắc của luật tục Chẳng hạn như: Để xác lập quyền sở hữu,theo luật tục thì hình thức đánh dấu như cắm cành cây hoặc buộc dây, vít haicọc chéo trên mảnh đất đồi rừng là nhằm thông báo cây, đất đã có chủ, có dấu
đó không ai được xâm phạm, để có được luật tục này, Người Mông đã phải xây
dựng từ xa xưa lệ “ăn thề” Sau khi thống nhất nội dung và hình thức họ uống rượu thề thay cho ký cam kết Nội dung lời thề có đoạn: “Từ nay lửa coi đã tắt, thuốc cháy hết không còn khói, rượu uống đã nhạt Mọi việc được tán thành Kẻ nào đòi lửa cháy lại, đòi lật thuốc có khói, rượu nhạt thành rượu ngọt, kẻ đó phải xử theo lệ”.
Vai trò của luật tục trong xây dựng và phát triển kinh tế cộng đồng: Ví dụnhư, luật tục của người khơ Mú, Mông, Dao đa số đều cho rằng rừng đầu nguồn