Lễ hội đặc sắc với quy mô rộng lớn của người Kháng. Đây là sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc saman cổ xưa. Theo tiếng Kháng, “xeh” là nhảy múa; “pang” là hội; “ả” là lễ, là hồn bảo vệ trời đất; “xeh pang ả” (có nơi đọc là “xéh pang ả”) có nghĩa là lễ nhảy múa mừng hồn. Người Kháng là dân tộc bản địa ở Việt Nam; sinh sống chủ yếu hai bên bờ sông Đà; rải rác ở các huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La (Sơn La) và huyện Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu), Mường Lay, Tuần Giáo (Điện Biên). Do không gian sinh sống gần gữi với các tộc người khác, người Kháng chịu ảnh hưởng rõ nét của văn hóa các tộc người khác, đặc biệt là người Thái (trang phục, ngôn ngữ, ẩm thực…). Tuy nhiên, nếp sống và những yếu tố văn hóa Kháng cổ xưa vẫn được lưu giữ trong các hoạt động văn hóa, đặc biệt là lễ hội. Lễ hội Xeh Pang Ả là minh chứng tiêu biểu về sự vừa tiếp thu, vừa gìn giữ đó.
Trang 1LỄ HỘI XEH PANG Ả
Lễ hội đặc sắc với quy mô rộng lớn của người Kháng Đây là sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc saman cổ xưa Theo tiếng Kháng, “xeh” là nhảy múa;
“pang” là hội; “ả” là lễ, là hồn bảo vệ trời đất; “xeh pang ả” (có nơi đọc là “xéh pang ả”) có nghĩa là lễ nhảy múa mừng hồn
Người Kháng là dân tộc bản địa ở Việt Nam; sinh sống chủ yếu hai bên bờ sông Đà; rải rác ở các huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La (Sơn La) và huyện Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu), Mường Lay, Tuần Giáo (Điện Biên) Do không gian sinh sống gần gữi với các tộc người khác, người Kháng chịu ảnh hưởng
rõ nét của văn hóa các tộc người khác, đặc biệt là người Thái (trang phục, ngôn ngữ, ẩm thực…) Tuy nhiên, nếp sống và những yếu tố văn hóa Kháng cổ xưa vẫn được lưu giữ trong các hoạt động văn hóa, đặc biệt là lễ hội Lễ hội Xeh Pang Ả là minh chứng tiêu biểu về sự vừa tiếp thu, vừa gìn giữ đó
Người Kháng quan niệm linh hồn có 5 loại: phần chính ở đầu, các hồn khác
ở tứ chi Sau khi chết, 5 hồn này sẽ biến thành 5 loại ma: ma nhà (hồn đầu) ở trong nhà phù hộ, bảo vệ con cháu; ma nương – ma ngặt kỉ (hồn tay phải) ở lều coi nương, coi giữ mùa màng; ma gốc cây (hồn tay trái); ma nhà mồ - ma ngặt nhá mớn (hồn chân phải); ma trời – ma ngặt xu un (hồn chân trái) Tin vào sự tồn tại của linh hồn và cuộc sống của con người sau khi chết nên họ rất coi trọng các nghi thức cầu cúng, đặc biệt là cúng chữa bệnh Vì thế, trong đời sống thường nhật của người Kháng, thầy cúng (Pa ả, có nơi gọi là Pà ả) có vai trò rất quan trọng Pa ả là người chữa bệnh và diệt trừ tà ma Thầy cúng thường thờ hồn bảo vệ và giúp thầy cúng tìm ra ma làm cho con người bị ốm, cúng lễ cho ma ngặt không làm hại đến những người được thầy cứu chữa, nhận làm con nuôi (Cuôn liêng) Hàng năm hoặc 2-3 năm một lần, Pa ả tổ chức lễ hội Xeh Pang Ả mời ma ngặt ả hưởng lễ vật Đây
Trang 2cũng là dịp Pa ả nhận lễ tạ ơn từ các con nuôi và chúc cho họ không bị ốm đau, làm ăn thuận lợi
Lễ hội Xeh Pang Ả tổ chức vào tháng 10 và tháng 11 âm lịch hàng năm hoặc
2-3 năm một lần, tùy thuộc vào kết quả thu hoạch mùa màng nương rẫy Lễ hội
diễn ra trong 4 ngày, trong đó ngày cuối chủ yếu là ăn và uống rượu cần Tất cả lễ
và hội đều diễn ra ở nhà thầy cúng, từ trong nhà cho tới sàn phơi; riêng lễ cúng
“ma ngặt bản” thực hiện ở nơi thờ thổ địa (gần bến nước, cây cổ thụ) hoặc sân dưới chân cầu thang phía trong
Ngày đầu tiên, dân làng vào rừng lấy các loại vật liệu đủ dùng cho lễ hội Ngày thứ hai, mọi người tập trung chủ yếu vào việc dựng cây “săng bloóc” - là một đoạn cây nứa, dài khoảng 3m, trên ngọn có các khoanh gỗ xếp chồng lên nhau (biểu thị cho số lần tổ chức Xeh Pang Ả của thầy cúng) Các vật trang trí cây săng bloóc là: cây đao còn gốc và lá, một đoạn gốc chuối, một hoa chuối rừng, một bắp ngô, một xâu mục nhĩ khô, xương hai con cá tết bằng nan, hình con cá bằng nan, hoa mào gà đỏ, các que cắm hình bông lúa (mỗi que có 4 con ve đậu), lá thơm, khăn vải, rượu cần Trong ngày thứ 2, mọi người cũng tập trung làm lại bàn thờ
Pa ả; làm đồ đựng rau, măng, ống gậy để múa (“bẳng òm”)
Lễ gồm các phần: lễ xin “ban hồn lành” cho các cuôn liêng (trọng tâm của buổi lễ); cúng tổ tiên (ma nhà); cúng ma trời; ma hồn bản; xin, cho phép dân bản được đánh trống và múa gậy Người ta chuẩn bị 2 mâm cỗ: một mâm đặt ở nơi thờ
tổ tiên, gồm 3 con cá hoặc gà, chén rượu, gói xôi nhỏ để thông báo với tổ tiên các hoạt động diễn ra trong ngày hôm sau; một mâm đặt giữa gian chính để cúng hồn vía cho con cháu trong nhà Lễ cúng tổ tiên do Pa ả thực hiện, lễ cúng ma hồn vía con cháu do phụ cúng thực hiện Khấn xong, mọi người cùng ăn uống thụ hưởng
đồ lễ
Trang 3Pa ả (thầy cúng), Nàng mương (vợ thầy cúng) và con cháu hưởng đồ lễ
(nguồn: Internet)
Ngày thứ ba, từ sáng sớm, các con liêng đã về dự lễ, họ mang theo nhiều thứ góp lễ như: gà, thịt, rượu, rau, củ, quả Trong lúc người nhà đang làm thịt các con vật hiến sinh tại nhà Pa ả, phụ cúng sẽ chuẩn bị giàn cúng ngoài trời để cúng ma trời: mời thần linh, ma ngặt ả xuống trần hưởng lễ, bảo thực hiện lễ Xeh Pang Ả Tiếp đến là lễ cúng hồn vía các con nuôi diễn ra ngay dưới bàn thờ Sau đó, người
ta tiến hành lễ cúng ma ngặt bản (ma bản) ở dưới cầu thang để xin cho dân bản được đánh chủng (trống), đánh chiêng và múa “bẳng òm” (múa xòe)
Hội bắt đầu khi nghe thấy tiếng gõ ống tre, tiếng trống vang lên Trong nhà, lửa được thắp lên, thầy cúng cùng đoàn người làm lễ khấn xin bắt đầu điệu múa
“bẳng òm” trong khoảng 8-9 tiếng đồng hồ “Bẳng òm” gần giống múa “tăng bu” của người Thái (dỗ ống) để đánh thức đất đai cho gieo cấy Đây là điệu múa tập thể
có tiết tấu nhanh, mạnh, âm thanh nghe giống tiếng sấm, tiếng mưa Mỗi người cầm một ống nứa, lần lượt dỗ vào mặt ván đặt dọc, nối nhau đi dọc tấm ván theo chiều cùng chiều kim đồng hồ; mỏi tay thì đổi chiều, đổi nhịp Trong lúc mọi
Trang 4người đang múa “bẳng òm”, Pa ả bắt đầu hát cúng tổ tiên cúng với tiếng sáo đệm theo từng hồi, hết một hồi nghỉ sẽ uống rượu cần, hoặc pha trò, hút thuốc
Ngày thứ tư, lễ hội tiếp tục nhộn nhịp với các trò diễn Mở đầu là trò thu hái lâm sản (mọi người vừa đi vòng quanh, vừa hát và gõ gậy, Pa ả sẽ véo nhẹ vào tai lần lượt từng người như thu hái) Tiếp đó là trò diễn cày bừa trâu đen trâu trắng: hai cuôn liêng (nam), một người cầm lá móc (tượng trưng cho trâu đen), một người cầm cây chuối (trâu trắng) sẽ cùng nhau mô phỏng các động tác làm nương rẫy, canh tác ruộng nước Sau trò trâu đen, trâu trắng là múa còn Quả còn được tung
mô phỏng động tác gieo hạt giống với mong muốn hạt giống nhanh nảy mầm, mùa màng tươi tốt Múa còn của người Kháng mang tính phồn thực rõ nét: trai (dương)
và gái (âm) cùng tham gia ném còn, quả còn chính là vật kết nối âm dương, mang lại sự sinh sôi nảy nở Trong lúc mọi người đang múa, thầy cúng sẽ lấy gạo trên mâm cúng ném sàn để mời hồn chim chóc ăn Cuối cùng là trò khiêng rượu Nhiều người cùng nhau khiêng rượu (được đặt trong chiêng) Khiêng rượu phải đều tay
để chiêng không đổ mới gặp nhiều may mắn, tốt lành Trò này có mục đích răn dạy mọi người cần đồng lòng, đoàn kết với nhau
Xong màn khiêng rượu, thầy cúng sẽ lấy cây mía đã được ban phép róc vỏ, chẻ nhỏ chia cho mọi người Phần các nghi lễ đến đây là kết thúc Sau đó, mọi người sẽ tụ họp bên cây săng bloóc để cùng nhau ăn uông, chuyện trò vui vẻ
Trang 5Các “cuôn liệng” tập trung đông đủ ở nhà thầy cúng
để tham dự Lễ hội Xeh Pang Ả
(nguồn: Internet)
Sau lễ hội, trống chiêng được cất đi, không được đánh trống chiêng theo nhịp điệu xòe múa nữa Người Kháng chính thức bước vào mùa nương rẫy mới
Xeh Pang Ả là lễ hội lớn, là dịp để người Kháng bày tỏ lòng thành kính, biết
ơn với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên; là giây phút thư giãn sau những ngày lao động vất vả Lễ hội này ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa Kháng, giáo dục truyền thống và đạo lí uống nước nhớ, góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng
Tài liệu tham khảo: Nông Quốc Chấn (chủ biên) (1996), Văn hóa và sự phát triển các dân
tộc ở Việt Nam; Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam; Viện Dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam; Nguyễn Văn Huy (2001), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam; Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1998), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam; Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống
Trang 6ảnh cộng đồng dân tộc; Người Mường ở Việt Nam (2010); Trần Hữu Sơn (2012), Văn hóa dân gian người Kháng ở Tây Bắc; Trần Hữu Sơn (2012), Nghiên cứu vấn đề tộc người ở Lào Cai, Thông báo Dân tộc học năm 2012; Lê Ngọc Thắng, Lâm Bá Nam (1990), Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam; Nguyễn Từ Χ (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người.