Tuy nhiên, cho đến nay, những hiểu biết và nghiên cứu về các dân tộc thiểu số trên đất nước ta nói chung và ở Hòa Bình nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề văn hóa trong c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này cùng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh Ngoài ra tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy,
cô trong khoa Sử - Địa, thư viện trường Đại Học Tây Bắc, thư viện tỉnh Hòa Bình cũng như gia đình và bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh - Giảng viên khoa Sử - Địa cũng như toàn thể các thầy cô trong khoa Sử - Địa Trường Đại Học Tây Bắc
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn thư viện trường Đại Học Tây Bắc, thư viện tỉnh Hòa Bình, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Đề tài hoàn thành chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Hà Huyền Trang
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở tư liệu, phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc đề tài 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI Ở TỈNH HÒA BÌNH 4
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình 4
1.1.1 Vị trí địa lí 4
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 4
1.2 Tình hình dân cư 7
1.2.1 Dân số 7
1.2.2 Dân tộc 7
1.3 Khái quát về các lễ hội ở tỉnh Hòa Bình 8
1.3.1 Chuẩn bị chung của các lễ hội 8
1.3.2 Quy mô của các lễ hội ở tỉnh Hòa Bình 9
1.3.3 Lễ hội của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình mang đậm các tín ngưỡng dân gian…… 10
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 13
CHƯƠNG 2 CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC Ở HÒA BÌNH… 14
2.1 Lễ hội xuống đồng (khuống mùa) của người Mường 14
2.2 Hội sắc bùa (xéc bùa) của người Mường 17
2.3 Lễ cầu mùa của người Mường 19
2.4 Lễ Cầu mưa của người Mường 22
2.5 Lễ rửa lá lúa của người Mường 22
2.6 Lễ Cơm mới của người Mường 23
2.7 Lễ hội đu tre của người Mường 23
Trang 32.9 Lễ hội đình Vai 27
2.10 Hội chùa Kè 28
2.11 Lễ hội đền và miếu Trung Báo 28
2.12 Lễ hội đình Xàm 29
2.13 Lễ hội chùa Hang 31
2.14 Lễ hội đền Bờ 32
2.15 Lễ cơm mới của người Thái 33
2.16 Lễ xên bản, xên mường của người Thái 35
2.17 Lễ hội chá chiêng của người Thái 37
2.18 Lễ Uá Nhụ Đang của người Mông 38
2.19 Lễ đặt tên - cấp sắc (đằng mai sẩy cò - thênh sẩy cò) của người Dao Quần Chẹt ……….39
2.20 Tết nhảy của người Dao Quần Chẹt 40
2.21 Lễ hội Nàng Hai của người Tày 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 42
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH HÒA BÌNH 43 3.1 Lễ hội của các dân tộc ở Hòa Bình biểu hiện giao lưu văn hóa 43
3.2 Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng: 45
3.3 Giá trị hướng về cội nguồn 46
3.4 Giá trị cân bằng đời sống tâm linh: 46
3.5 Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa: 47
3.6 Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa: 48
3.7 Giá trị trọng mỹ tục, chống hủ tục 49
3.8 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 53
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt nam là một quốc gia có bề dày truyền thống lịch sử - văn hóa Từ khi hình thành cho đến ngày nay dân tộc ta đã trải qua biết bao những thăng trầm và biến cố lịch sử Đó là cả một qúa trình dựng nước và giữ nước lâu dài, từng bước đánh đuổi các thế lực ngoại xâm, giành quyền tự chủ cho dân tộc Có được những thành quả đó là sự đóng góp, đoàn kết, đấu tranh chung của cả cộng đồng dân tộc Tất cả các dân tộc dù ít hay nhiều đều chung vai sát cánh chiến đấu dũng cảm quên mình bảo vệ độc lập dân tộc
Cho đến nay trải qua một quá trình hòa huyết lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống, mỗi tộc người đều có những nét văn hóa đặc sắc riêng, nhưng vẫn có những gắn bó chặt chẽ nhau Các dân tộc bao gồm: Mường, Tày, Thái, H’Mông… là các dân tộc chiếm số lượng khá đông ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Hòa Bình, các dân tộc phân bố ở khắp huyện trong tỉnh tạo nên những nét văn hóa vô cùng đặc sắc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc trên khắp cả nước nói chung và các dân tộc trên tỉnh Hòa Bình nói riêng đã cùng nhau đoàn kết một lòng xây dựng bảo vệ quê hương đất nước Hiện nay, đất nước đã được hòa bình, thống nhất, đang trên con đường đổi mới và hội nhập Vấn đề văn hóa các cộng đồng dân tộc nói chung và các dân tộc trên tỉnh Hòa Bình nói riêng cần được bảo tồn và phát huy Các dân tộc trên tỉnh Hòa Bình với những nét văn hóa riêng của mình đã góp phần vào công cuộc gìn giữ, xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Tuy nhiên, cho đến nay, những hiểu biết và nghiên cứu về các dân tộc thiểu
số trên đất nước ta nói chung và ở Hòa Bình nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề văn hóa trong các lễ hội truyền thống Các lễ hội truyền thống
là một trong những nét văn hóa tiêu biểu của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình Vì vậy, việc nghiên cứu về các lễ hội truyền thống phần nào làm rõ thêm những nét đặc sắc trong văn hóa các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình Hơn nữa, trong giai đoạn
Trang 5tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp văn hóa của các dân tộc Chính vì vậy, tôi
đã chọn đề tài: “Tìm hiểu các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình ’’ làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số
ở nước ta được đẩy mạnh và thu hút được khá nhiều những thành tựu đáng kể, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam Trong đó, việc nghiên cứu về các lễ hội truyền thống cũng được khá nhiều người quan tâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như:
+ Cuốn “Địa chí Hòa Bình” của Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban
nhân dân tỉnh Hòa Bình có đề cập đến các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình nhưng chưa đầy đủ, chủ yếu vẫn là các lễ hội của dân tộc Mường
và chưa đi sâu vào giá trị của các lễ hội [11]
+ Cuốn “Văn hóa truyền thống một số tộc người ở tỉnh Hòa Bình” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga cũng có đề cập đến các lễ hội truyền thống nhưng là khái quát chung, chưa đi tìm hiểu sâu vào các lễ hội [7]
+ Cuốn “Văn Hóa dân gian Mường” của tác giả Bùi Thiện đã đề cập đến
một số lễ hội truyền thống, nhưng chỉ là lễ hội truyền thống của người Mường
mà chưa đề cập đến lễ hội của các dân tộc khác [9]
+ Cuốn “Lễ hội cổ truyền” của tác giả Lê Trung Vũ cũng đã đề cập đến
một số lễ hội cổ truyền ở Hòa Bình nhưng chưa đầy đủ [15]
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình của nhiều nhà nghiên cứu, tác giả, nhà văn, nhà báo, các cán bộ, ban ngành quan tâm như: Sở văn hóa thông tin tỉnh Hòa Bình, Bảo tàng tỉnh Hòa Bình… Tuy nhiên, các công trình ít đi sâu vào giá trị của các lễ hội
Vì vậy, để ngiên cứu về các lễ hội truyền thống của các dân tộc trong tỉnh
Trên cở sở nguồn tư liệu trên và quá trình tìm hiểu, tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình” nhằm góp phần làm
rõ vấn đề đáng quan tâm hiện nay
Trang 63 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4 Cơ sở tư liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở tư liệu
Đề tài được hoàn thành dựa trên những nguồn tư liệu sau đây:
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ban hành về vấn đề văn hóa
Các tài liệu, các bài viết liên quan đến đề tài nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Thực hiện phương pháp nghiên cứu bộ môn, phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1 Khái quát về lễ hội ở tỉnh Hòa bình
Chương 2 Các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình Chương 3 Giá trị của các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
Trang 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI Ở TỈNH HÒA BÌNH
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình
1.1.1 Vị trí địa lí
Hòa Bình là một tỉnh miền núi giáp với đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc; phía Bắc giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Sơn La, phía Nam giáp Thanh Hóa và Ninh Bình, phía Đông giáp Hà Nội và Hà Nam Tỉnh Hòa Bình trải dài
từ 20018’ đến 2108’ vĩ độ Bắc và từ 104 độ 50’ đến 1050 52’ kinh độ Đông Hòa Bình có diện tích tự nhiên là 4.811 km2 với dân số là 757.637 nghìn người (1999) và 803,3 nghìn người năm 2003 [10; tr 79]
Hòa Bình án ngữ miền Tây Bắc của tổ quốc, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội
đi theo quốc lộ 6 Hòa Bình có vị trí địa lí quan trọng, là đầu mối giao thông nối liền miền xuôi với miền núi Tây Bắc trên trục kinh tế Hà Nội - Hà Đông - Hòa Bình - Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên - Lai Châu Theo các tuyến đường 12A, 12B, 21A, đường Hồ Chí Minh, Hòa Bình ở vào vị trí trung chuyển giữa Tây Bắc và Bắc Trung Bộ qua Ninh Bình, Thanh Hóa Hơn hết, Hòa Bình chiếm vị trí trung chuyển giữa miền núi Tây Bắc núi non trùng điệp, giàu tiềm năng tài nguyên thiên nhiên nhưng thiếu lao động với miền đồng bằng châu thổ sông Hồng phì nhiêu nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng, có nguồn lực lao động lớn nhất cả nước Với vị trí đó đã tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho Hòa Bình phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
* Điều kiện tự nhiên:
Địa hình: Địa hình tỉnh Hòa Bình tương đối phức tạp bị chia cắt nhiều và
thấp dần theo hướng Tây - Đông Núi rừng Hòa Bình có địa thế địa hình khá hiểm trở chia thành hai tiểu vùng
Tiểu vùng thứ nhất, trải dài từ Đà Bắc qua Tân lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối liền với núi thượng du Thanh Hóa Đó là núi cao nối tiếp giữa dãy Hoàng Liên Sơn
và dải Trường Sơn Vùng này có độ cao trung bình 400 - 500m so với mực nước biển, với nhiều ngọn núi cao trên 1000m như ở Hang Kia (1044m), dải núi đá vôi
Pà Cò (1343m), Pu Chanh (1420m) [10; tr 84] Đây là vùng cao của Hòa Bình
Trang 8Tiểu vùng thứ hai, bao gồm các huyện Kì Sơn, Lương Sơn xuống đến Lạc Thủy, Yên Thủy đây là vùng thấp của tỉnh Hòa Bình có độ cao trên 100m so với mực nước biển, chủ yếu là núi đá vôi, nhiều hang động và nhiều rừng thứ sinh, đồi cỏ, nhiều thung lũng và sông suối Địa hình rừng núi trong tỉnh bị chia cắt bởi nhiều thung lũng, hàng trăm con suối lớn nhỏ Xen giữa các rặng núi, có thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng và các triền bãi ven sông
Khí hậu: Hòa Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc
trưng khí hậu của vùng Tây Bắc được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa khô trùng với mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 16 –
220C, ít mưa, khô hanh và lạnh; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9 nhiệt độ trung bình từ 25 – 320C với lượng mưa tương đối lớn khoảng 300 - 400 mm Vì thế lượng mưa bình quân năm ở Hòa Bình tương đối lớn từ 1800 - 2200 mm, độ ẩm cao
Nhìn chung khí hậu Hòa Bình tương đối mát mẻ, lượng mưa vừa phải, nhiệt
độ cao, ánh sáng dồi dào, lượng nước khá phong phú với nhiều sông, suối, ao, hồ… đã tạo điều kiện cho phát triển Nông - Lâm nghiệp đặc biệt là các cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, các loại cây công nghiệp, đặc biệt là trồng rừng nguyên liệu… Tuy nhiên khí hậu cũng tương đối phức tạp như có mùa đông lạnh, hanh khô, lũ quét vào mùa mưa, đặc biệt ở những vùng núi cao của tỉnh như Mai Châu, Đà Bắc, gây nhiều khó khăn cho đời sống con người cũng như sản xuất
Sông ngòi: Hòa Bình có mạnh lưới sông ngòi phân bố tương đối dày trong
tỉnh có 11 con sông chính thuộc các hệ thống sông Đà, sông Mã, sông Bưởi và được phân bố đều khắp ở các huyện Có sông Đà là sông lớn nhất nằm trong hệ thống sông Hồng chảy qua các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kì Sơn Và thành phố Hòa Bình với tổng chiều dài trên 100km Sông Đà có đặc điểm là tương đối dốc và chảy siết chính vì vậy có tiềm năng thủy điện rất lớn như thủy điện Hòa Bình đồng thời còn có giá trị giao thông tương đối lớn Ngoài sông Đà,
Trang 9Lãng… Bên cạnh đó còn có nhiều con suối rải rác khắp các huyện trong tỉnh như suối nước khoáng Kim Bôi là suối nước khoáng lớn… tạo điều kiện cho việc cung cấp nước tưới tiêu cho đồng ruộng, giao thông đường thủy, thủy điện
và cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, ngoài ra hàng năm mang lại nguồn thủy sản khá lớn và hơn nữa còn có thể phát triển du lịch
* Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất đai: Đất đai trồng trọt của Hòa Bình không nhiều Trước
cách mạng tháng tám năm 1945, diện tích đất cấy lúa chỉ có 4500 ha vì chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên Sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay, sau nhiều năm nỗ lực làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, khai phá đất đai diện tích cấy lúa nước đã lên tới 28.000 ha và hàng năm diện tích ngày càng tăng lên
Về tính chất đất, do tác động của khí hậu địa hình Hòa Bình có 7 nhóm đất chính với 23 loại đất khác nhau Song nhìn chung loại đất Feralit là nhóm đất chủ yếu ở Hòa Bình, với 302.350 ha, chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh (68%)
và gấp 18 lần đất phù sa và chủ yếu phát triển trên độ dốc dưới 200C, ngoài ra ở Hòa Bình còn có các loại đất khác như đất phù sa ở ven các con sông tạo điều kiện cho phát triển trồng cây hàng năm như: lạc, đậu, lúa, rau củ… và cây lâu năm như chè, vải, nhãn… đặc biệt là trồng rừng nguyên liệu
Tài nguyên khoáng sản: Hòa Bình là tỉnh có tài nguyên khoáng sản khá
phong phú với tiềm năng ở mức độ khác nhau Nhiều loại khoáng sản đã được thăm dò, khai thác, sử dụng từ lâu Có loại đang được nghiên cứu và khai thác bước đầu
Khoáng sản trong tỉnh có thể chia làm một số loại như: khoáng sản nhiên liệu, kim loại, phi kim… Nhóm nhiên liệu quan trọng nhất là than với khoảng 9 triệu tấn và tập trung ở Lạc Thủy và Yên Thủy; nhóm kim loại gồm sắt, vàng, đồng, chì, kẽm, đặc biệt là có trữ lượng đá vôi khá lớn… hơn nữa còn có nguồn nước khoáng khá phong phú ở Kim Bôi
Với tiềm năng khoáng sản trên tạo điều kiện cho phát triển ngành khai thác, chế biến khoáng sản và phát triển ngành kinh tế của tỉnh
Trang 10Tài nguyên rừng: Ở địa bàn miền núi, nông - lâm nghiệp là tiềm năng
kinh tế quan trọng hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng lâm nghiệp Trong đó diện tích lâm nghiệp của tỉnh có 367.300 ha, với diện tích tương đối lớn tạo cho Hòa Bình có nguồn tài nguyên rừng phong phú, với nhiều loại cây gỗ quý như:
Tứ thiết, chò, de, lát, lim… dùng trong xây dựng và nhiều loại dùng trong dân dụng như: Tre, nứa, song, mây… Ngoài ra còn có nhiều sản vật quý như: Nấm hương, linh chi, măng, mộc nhĩ… Rừng Hòa Bình còn có nhiều cây thuốc quý, theo điều tra có tới 400 cây thuốc trong đó có quế, sa nhân, hoài sơn, hà thủ ô, ngũ gia bì, thổ phục linh Trong rừng có nhiều loại động vật quý hiếm gà ôi, sóc, khỉ, báo…
1.2 Tình hình dân cư
1.2.1 Dân số
Theo thống kê dân số toàn quốc năm 1999, dân số tỉnh Hòa Bình đạt 757.645 người So với năm 1975 khi còn là một bộ phận của tỉnh Hà Sơn Bình - dân số Hòa Bình khi đó mới có 432.200 người, đã tăng thêm 325.445 người, bình quân mỗi năm tăng 3,01% Hòa bình là tỉnh có biến động dân số vào loại mạnh và kéo dài ¼ thế kỉ qua Với việc xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình tạo ra một làn sóng nhập cư lớn mức tăng dân số cao liên tục trong suốt thập kỉ 80: 1980 - 1985 là 3,1%, 1986 - 1990 là 4,25% Bước sang thập kỉ 90, dân số tăng bình quân mỗi năm là 1,39%, cũng là lúc công trình thủy điện Hòa Bình hoàn thành [10; tr 91]
Với dân số như trên Hòa Bình có mật độ dân số năm 1999 là 152 người trên 1km vuông vào loại trung bình so với các tỉnh miền núi phía Bắc và cao so với các tỉnh miền núi Tây Bắc (Sơn La 61 người trên 1km vuông) và Mai Châu (72 người trên 1km vuông) [10; tr 96]
Cho đến nay dân số Hòa Bình có khoảng trên 800.000 người Với số dân trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nguồn lao động cho tỉnh và cả nước, thúc đẩy nền kinh tế tỉnh phát triển
1.2.2 Dân tộc
Trang 11bộ phận dân cư tập trung ở hầu khắp các huyện như: Lương Sơn (90,2% dân số), Kim Bôi và Tân Lạc (trên 80%), Kì Sơn và Yên Thủy (trên 60%) và các huyện trong tỉnh Hòa Bình Chiếm 43,4% số dân tộc Mường của cả nước [10; tr 95] Hòa Bình chính là cái nôi văn hóa Mường của Việt Nam Người Mường đóng vai trò là chủ thể của mọi mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng bào Mường
Đã tạo dựng nền văn hóa Mường độc đáo trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Ngoài người Mường trong tỉnh còn có các dân tộc khác sinh sống: Kinh, Thái, Dao, Tày, H’Mông… Trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 30% dân số toàn tỉnh chỉ đứng sau dân tộc Mường, tập trung ở thành phố Hòa Bình (chiếm tỉ
lệ 70% số dân thành phố) và các trung tâm của các huyện trong tỉnh Bên cạnh
đó dân tộc Thái tụ cư chủ yếu ở Mai Châu (chiếm 61% dân số toàn huyện), tộc người Tày chủ yếu sinh sống ở Đà Bắc tất cả các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đã tạo nên cộng đồng đa dân tộc với nền văn hóa đa dạng
1.3 Khái quát về các lễ hội ở tỉnh Hòa Bình
1.3.1 Chuẩn bị chung của các lễ hội
Thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo ba bước sau:
Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn chuẩn
bị cho mùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có
sự phân công, cắt cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa nơi tổ chức lễ hội, chuẩn bị các đồ tế tự,…
Vào hội: Nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi
thức tế lễ, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ý nghĩa nhất của một lễ hội Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay
ít khách đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trong những ngày này
Kết thúc hội: Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa nơi tổ chức lễ hội
Trang 121.3.2 Quy mô của các lễ hội ở tỉnh Hòa Bình
Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, hàng năm có hàng trăm điểm tổ chức lễ hội, trong đó một số lễ hội nổi tiếng được tổ chức vào dịp đầu năm mới như lễ Khai hạ Mường Bi, Đền Bờ, Xên bản Xên Mường Các lễ hội truyền thống của các dân tộc Hòa Bình đều gắn với đặc điểm cụ thể về địa lý, tự nhiên
và đời sống xã hội của cộng đồng dân cư tồn tại từ lâu đời như các lễ hội khai hạ xuống đồng, cầu mưa, đi săn, đánh cá gắn với tín ngưỡng tại các đền, chùa
Do hoàn cảnh địa lí và lich sử, người Hòa Bình có những nét riêng trong sinh hoạt văn hóa lễ hội, điều đó nói lên một bản sắc riêng của vùng đất này, đồng thời một mặt nào đó cũng phản ánh điều kiện sống của các cư dân đang sinh sống ở đây
Ở Hòa Bình không có những lễ hội quy mô, đồ sộ có sự tham gia của đông người với những trang phục, lễ vật, đồ tế khí cùng những quy định bài bản như các lễ hội của người Kinh dưới xuôi, không có những lễ hội tầm cỡ như lễ hội Kate của người Chăm, Ooc om booc của người Khơ me, cũng không có những hội chơi núi mùa xuân hay chợ tình lãng mạn mà tha thiết của người Mông ở vùng Tây Bắc… Tuy vậy, cộng đồng các dân tộc sống trên đất Hòa Bình có những lễ hội riêng mang đậm nét văn hóa Phải chăng, do mật độ dân cư của các dân tộc Mường, Dao, Thái, Tày… ở đây thường tập trung thành các khu riêng, có vẻ khép kín mà các lễ hội của họ không có quy mô lớn, không nổi trội, vượt ra xa khỏi khu vực họ sống Ngay cả người Mường cũng được chia ra thành bốn mường chính, có những sự tự tri nhất định ở mỗi nơi, làm cho nó có phần nào hơi bị khép kín
Cả người Kinh, Mường, Thái, Dao, Mông,… sống ở đây đều không có một lễ hội nào có quy mô lớn Song những lễ hội của họ như lễ Khuống Mùa (xuống đồng), Sắc Bùa, Chá Chiêng,… không kém phần đặc sắc và bao hàm nhiều ý nghĩa nhân văn
Lễ hội của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình gắn liền với những đặc điểm cụ thể về địa lí, tự nhiên và đời sống xã hội của các cộng đồng cư dân tồn tại ở đây
Trang 13sức gần gũi với người Việt và đã có một nền văn hóa khá phong phú mà nhiều sắc thái còn giữ được cho đến ngày nay Nền văn hóa đó đã góp một phần lớn vào nền văn hóa Hòa Bình và đã trở thành một hện tượng văn hóa được thế giới công nhận
1.3.3 Lễ hội của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình mang đậm các tín ngưỡng dân gian
Ở người Kinh, những tín ngưỡng dân gian ngày càng có sự thay đổi do quá trình giao lưu văn hóa kể từ thời du nhập văn hóa phương Tây Ngay cả những yếu tố tín ngưỡng cũng được khoác lên những yếu tố hiện đại như lễ vật thờ, hình thức tiến hành, nghệ thuật trang trí Lấy ví dụ như ở hội Gióng, Gia Lâm,
Hà Nội, những tín ngưỡng thờ vị thần nông nghiệp được phủ lên bằng hình ảnh anh hùng làng Gióng đánh giặc Ân, hình ảnh 28 tướng giặc Ân mang bóng dáng của 28 vì sao trong tư duy thiên văn cổ… Những nghi lễ nông nghiệp thuần chất trong những lễ hội đó may ra chỉ còn thấy ở một vài tục hèm như thờ bát cơm quả cà ở hội Gióng, tục thả 100 bánh trôi ở hội làng Bình Đà, Hà Tây; thổi cơm thi, bánh chưng bánh dày ở những lễ hội khác…
Các nghi lễ truyền thống hầu hết đã được phủ một lớp văn hóa nghệ thuật mang đậm tính biểu tượng Cũng là đĩa xôi nhưng đây phải đóng khuôn, hoặc được nặn tròn, đẹp, lại còn dán lên đó giấy trang kim hình chữ Thọ; cũng là con
gà, nhưng phải luộc cho thật khéo để không bị nứt, không bị bục da, được bôi
mỡ, bôi nghệ cho da vàng rộm lên, hình gà phải được uốn cho thật khéo, miệng ngậm bông hoa hồng đỏ tươi… Tất cả đã nâng lên thành trình độ nghệ thuật với những giá trị thẩm mĩ cao, thành một thú chơi Tín ngưỡng nhiều khi chỉ còn lại bóng dáng hoặc là cái cớ để người ta trổ tài nghệ thuật vào đó mà thôi
Trong khi đó, ở các dân tộc tỉnh Hòa Bình, những tín ngưỡng dân gian vẫn còn hết sức phổ biến và vẫn giữ được nguyên những nét hồn nhiên, mộc mạc ở trong nó Ví như mâm cỗ cúng ở lễ hội Khuống Mùa của người Mường: “Mâm
cỗ ngoài thịt nai, thịt lợn rừng, còn có cá suối, mụn măng, ruột cây lay (đằng lau), lá lốt (đắc lốt), cá mọc, nếp đồ, rượu cần…” Tất cả đều là những thứ mà hàng ngày người ta phải kiếm để ăn và là cái để sinh sống, tồn tại thường xuyên
Trang 14của họ Dù có khác nhau đôi chút do phong tục của mỗi dân tộc, do điều kiện sống ở vùng này vùng kia, song về cơ bản, lễ vật dùng cho lễ hội của các dân tộc
ở tỉnh Hòa Bình vẫn là những thứ đó Chúng được săn bắn từ rừng về, bắt từ suối lên, lấy từ ruộng và xung quanh khu vực sống của các dân tộc Nó vừa có tính chất tươi nguyên của thiên nhiên, vừa chứa đựng sự tinh khiết của tấm lòng những người sơn cước dâng lên thần thánh của họ
Còn các vị thần ở đây là ai? Họ là những hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, nắng…; là những dòng suối, ngọn núi, hòn đá, cây rừng; là những con vật hay bất kể cái gì có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của những người dân chất phác nơi đây Đây hoàn toàn không phải là một sự mê tín dị đoan đối với những một góc độ nào đó, những nghi lễ này biểu hiện một cuộc sống hòa mình cùng thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên, coi mình là một bộ phận của thiên nhiên, chứ hoàn toàn không áp đặt, chinh phục, phá hoại thiên nhiên một cách vô tội
vạ Đó chính là tư tưởng bảo vệ thiên nhiên và phát triển bền vững trong thời hiện đại này Người Mường vì thế mà:
“Chắp tay lạy bốn đức vua
Lạy vua Dù, vua Khói, vua Lò Bên trên là Tần, Kẻ, Khang Bên bang lạy Kem, Cả, Chấu, Khụ
Mụ, Chí, Ý, Chầu, Chấu, Tịch, Quen, Tài, Kem Vua”
(Lời khấn lễ cầu mùa)
Hay: “Thỉnh mời cả vua Út, vua Ả, Thánh Tản núi Ba Vì, vua Cun, vua Hải ở đền Trắng, đền Vành” (lễ hội Đình Cổi) Đương nhiên, những nhân thần, những người có công với bản, với mường luôn được những người dân lưu ý thờ phụng
Như vậy, có thể thấy hệ thống tín ngưỡng của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
là vô cùng phong phú, từ đó dẫn đến sự phong phú của các nghi lễ thờ phụng, những lễ cầu mùa, cầu mưa, lễ cơm mới, lễ xên bản, xên mường, thờ đức Thánh Tản, thờ ma núi, ma nước, thần lúa, thần cây,… Mỗi một nghi lễ ấy lại kèm theo
Trang 15kèn, múa kiếm,… Những hình thức nghệ thuật này từ chỗ để truyền đạt lên thần linh niềm mơ ước, khát vọng, sự biết ơn của con người, sau đó trở thành những hoạt động nghệ thuật để đáp ứng chính đời sống trần tục hang ngày của họ Trước một cuộc sống vất vả vì miếng cơm manh áo, giữa rừng thiêng nước độc với bao hiểm nguy rình rập, con người muốn xóa đi sự cô đơn, nỗi buồn luôn ám ảnh bên cạnh họ Vì vậy, họ phải tập hợp bên nhau, co cụm lại, đoàn kết lại để đối phó với bên ngoài, đồng thời cũng là để an ủi chính bản thân mình Vì vậy, những dịp tiến hành nghi lễ cộng đồng là những nét sinh hoạt văn hóa hết sức quan trọng đối với họ Cũng chính từ những hiện tượng tín ngưỡng ấy mà bộ mặt văn hóa của các dân tộc ngày càng được bồi đắp, phát triển phong phú, tạo nên nền văn hóa Việt Nam đặc sắc, đa dạng mà vẫn chứa đựng bản sắc riêng của mỗi dân tộc
Qua sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng này, người dân được vui chơi, ăn uống thoải mái hơn ngày thường, tạo cho họ được những giây phút nghỉ ngơi thư giãn trước khi bước vào một giai đoạn mới của cuộc đời Đây là dịp họ tích hợp vào trong cơ thể và tâm linh của mình một sức mạnh, một niềm tin mới để họ sẵn sàng bước lên phía trước Tuy mâm cỗ, chỗ ngồi của người dân thường khác với
ậu, với lang, song trước mặt thần linh, trước cộng đồng, họ cũng là một thành viên bình đẳng trong một cộng đồng chung, dù vai vế, địa vị của họ thấp hơn Cuộc sống lam lũ đời tường có thể là nô lệ, người ăn kẻ ở của nhà lang tạm lắng xuống nhường chỗ cho những giờ phút thăng hoa, ngây ngất và hi vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn về ngày mai biết đâu sẽ đến Cái ý nghĩa hết sức nhân văn này của lễ hội dân gian góp phần làm cho cuộc sống thú vị và đáng sống biết bao
Trang 16TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Với số dân khá đông, tỉnh Hòa Bình có rất nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, mang đậm nét văn hóa của các dân tộc trong tỉnh Hòa Bình nói riêng và các dân tộc trên đất nước Việt Nam nói chung
Lễ hội ở tỉnh Hòa Bình từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc đều được chuẩn
bị rất chu đáo, tỉ mỉ, mỗi người được phân công công việc riêng và tất cả mọi người đều hoàn thành tốt công việc của mình Các lễ hội cũng được diễn ra trên một quy mô nhất định, mặc dù các lễ hội không phải là các lễ quá lớn so với các
lễ hội trong nước, mà các lễ hội ở tỉnh được tổ chức với quy mô vừa và nhỏ, mang đậm nét văn hóa của từng vùng từng dân tộc
Ngoài ra, các lễ hội của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình còn mang đậm phong tục của dân tộc mình và các tín ngưỡng dân gian vẫn rất phổ biến và giữ được những nét mộc mạc trong các lễ hội, tạo cho người dân những không gian thoải mái, vui vẻ sau những ngày làm việc vất vả, cho họ cảm nhận được cuộc sống
này vui vẻ biết bao
Trang 17CHƯƠNG 2 CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC
Ở HÒA BÌNH 2.1 Lễ hội xuống đồng (khuống mùa) của người Mường
Đây là một lễ hội rất phổ biến ở người Mường xưa, giống như lễ hội Lồng Tồng của người Tày - Nùng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang Mục đích của lễ hội là để cầu cho mùa màng của một năm mới thịnh vượng, may mắn Đồng thời, việc thực hành những nghi lễ cầu mùa cũng là dịp để người Mường nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc sống tươi đẹp và bình yên
Lễ hội này thường diễn ra vào dịp đầu xuân, như ở vùng Mường Bi tổ chức vào dịp lễ Khai Hạ (ngày 7 tháng giêng) và chậm nhất đến ngày 10 tháng giêng phải kết thúc Vào ngày này, người ta lựa chọn một địa điểm có thể thu hút được sự tham gia của toàn mường Ở xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, người ta tổ chức hội Xuống Đồng ở xóm Luỹ Tại đây, người ta dựng một miếu lớn bằng gỗ thờ Đức Thánh Tản Viên, trong hậu cung miếu có tượng người bằng đá
Thay mặt cho toàn dân bản, ông thầy mo mặc áo thụng, đội mũ tai én làm lễ khấn Thánh Tản phù trợ cho mùa màng tươi tốt Dân xã mổ một con hoẵng (nếu không có hoẵng thì mổ bò cúng thay, chứ không mổ trâu), sau đó thịt hoẵng (hay bò) sẽ được mọi người ăn chung, người đi hội tự mang theo cơm nắm Dân xã tổ chức rước kiệu đưa Thánh Tản từ ngoài bãi vào miếu, đám rước
có kèin nhạc Ớ giữa bãi cỏ có treo một lá cờ thần lớn và trên bãi rộng này, đội cồng của các xóm và mường bạn đến để đua tài với nhau Người dự hội vui chơi thoải mái Xung quanh bãi có các lán bày sẵn rượu cần Mọi người tự do chơi, khi nào muốn ăn thì vào lán ăn uống rồi lại vui chơi cho đến hết hội
Cũng ở Mường Bi, Tân Lạc, xã Địch Giáo tổ chức hội xuống đồng với việc dùng một con trâu làm lễ tế thần nhưng ở quy mô lớn, đón dân chúng toàn mường đến dự (toàn mường xưa gồm 7 xã: Do Nhân, Quy Mỹ, Phong Phú, Địch Giáo, Tuân Lộ, Mỹ Hoa và Phú Vinh) và tu sửa con mương Lò bắt nguồn từ suối Kem thuộc xóm Kem đến xóm Lầm Người đến dự đem theo một gói cơm, tu sửa mương xong thì về đình ăn cơm cùng với thịt trâu sau khi đã dùng dể tế thần
Trang 18Lễ hội khuống mùa ở Tùng Mường Chiềng, Mường Tôm, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn cũng là một lễ hội lớn ở vùng này Không gian diễn ra lễ hội cũng tại một miếu thờ chính đặt ở Đầm Đụn, trong đó có thờ một cái đầu lâu không rõ tung tích, chỉ biết rằng cái đầu lâu này trôi theo dòng suối, lũ trẻ chăn trâu Mường Chiềng, Mường Vó nhặt được đưa lên gò giả thờ Hai đám trẻ đó thách đố nhau nếu bên nào thua thì đi trộm vịt về cho bên thắng ăn Sau khi nhận lời thách đố, bọn trẻ đến vái lạy đầu lâu cầu mong được thắng, không ngờ ứng nghiệm Cứ thế, tin đầu lâu linh thiêng lan truyền đến tai nhà lang Nhà lang bèn lấy đầu lâu về lập miếu thờ Nhà miếu đặt ở Đầm Đụn, xóm Rậm, nơi trung tâm của cả vùng Nhân dân vùng này còn truyền lại chuyện binh lính đi đánh giặc Cờ Đen, trước khi xuất trận đến miếu cầu xin phù hộ
Ở vùng này, lễ hội Khuống Mùa không định trước thời gian mà phụ thuộc vào kết quả của các cuộc đi săn và đánh cá Để chuẩn bị cho lễ hội này có những hoạt động như:
- Hội "đoọc moong” (săn thú rừng) do nhà lang tổ chức Cả lang, ậu và thường dân đều đi săn, nhưng mỗi người đi một phía Nếu săn được nai và lợn lòi mới phải nộp Lang và dân đều chia làm nhiều phường với nhiều người cùng chó săn Phường săn được dẫn đầu bằng một người đánh chiêng chót Từ sáng đến tối, khắp núi rừng vang lên tiếng chiêng boong, boong lúc to lúc nhỏ vọng lại từ những ngọn núi, con suối Khi cuộc săn thắng lợi, mọi người trở về Tất cả các thành viên và chó săn đều được chia phần, người bắn trúng con thú được chia thêm phần thịt thăn
- Hội đánh cá bến lấp Sau mùa lũ, nhà lang cho ngăn các khúc suối thành vũng cho cá ở, chờ đến dịp khuống mùa mới tổ chức đánh bắt Thời gian bắt cá thường là vào giờ ngọ Khi dân đã tụ tập đông hai bên bờ suối, tay lăm lăm chài, lưới, vó, vợt thì hiệu lệnh của nhà lang vang lên, mọi người cùng lúc ào xuống suối Chỉ chốc lát, cả khúc suối sôi lên đục ngầu, cá say loạn xạ Khi không còn bắt được con cá nào, cuộc đánh cá mới kết thúc Mọi người dù bắt được ít nhiều đều phải nộp cho nhà lang một, hai con cá để làm lễ
Trang 19- Trước lễ hội khuống mùa, nhà lang còn thông báo nhốt lợn Nhà nào còn
có lợn thả rông sẽ bị đập chết Các ậu lang cử khoảng 20 người chuyên đi lùng lợn thả rông, khi gặp thì đập chết Người đập chết lợn phải vác lợn chạy qua suối sang miếu Đầm Đụn, nếu không vác được thì phải đền Chủ lợn có thể xin lại lợn chết khi người vác lợn chưa qua khỏi suối
- Những ngày trước lễ hội khuống mùa, ông từ coi miếu Đầm Đụn có quyền đi bắt trộm vịt bất cứ nhà ai
- Cũng những ngày này, nhà lang ra lệnh cấn tất cả mọi người không được
đi soi nhái, ếch ban đêm khi thấy "đỏ bờ ruộng” ở khu vực cánh đồng cạn, nơi sẽ diễn ra hội xuống đồng
"Đỏ bờ ruộng” là bờ ruộng đã được phát quang sạch sẽ để chuẩn bị cấy Chuyện kể rằng, có một đêm, thấy hang trăm ngọn đuốc nối đuôi nhau đi trên bờ ruộng, tiến về phía Mường Chiềng, lang Mường Chiềng cảnh giác, cho quân hầu
dò la Quả không sai, lang ở Quý Hoà đang đêm cho quân về bắt lang Mường Chiềng để cướp ngôi, nhưng đã bị lang Mường Chiềng phát hiện và cho quân đuổi bắt Lang Quý Hoà không thể sống yên ở đất cũ, đành kéo dân ra sinh cư ngoài Hoà Bình (cũng lấy tên mường là Rậm, Mát thuộc xã Dân Chủ bây giờ) Sau tất cả những hoạt động trên đây, nhà lang ấn định ngày mở hội Mở đầu
là thủ tục dâng lễ ở các nơi trong vùng
Cả ba địa điểm miếu Đầm Đụn, khu ruộng người Mường Tôm và chùa Vóng ở xóm Đồng đều được dâng cỗ cùng một lúc để cúng vào buổi sáng sớm Mâm cỗ ngoài thịt nai, thịt lợn rừng còn có cá suối, mụn măng, ruột cây lay (đằng lau), lá lốt (đắc lốt), cá mọc, nếp đồ, rượu cần do ậu lang, ậu viềng (người giúp việc lang) sắm sửa và dâng lên trường thờ Sau lễ dâng là lễ xuống ruộng Cánh đồng được chọn là cánh đồng Cạn (bao gồm cả ruộng lang và ruộng của dân), mỗi mường một khu ruộng riêng
Bắt đầu ngày cày bừa, ậu cháu xuống ruộng cày trước Bắt đầu ngày cấy, các vợ ậu cháu cấy trước, sau đó thường dân mới được lội ruộng Trong số ậu cháu được "xông” ruộng phải chọn những người ăn nên làm ra, tính tình mát mẻ, hiền hoà
Trang 20Vì là lễ mang tính tượng trưng, nên cả khu vực ruộng đồng Cạn chỉ chốc lát
đã được cấy xong Mọi người vui vẻ ai về nhà nấy ăn cơm tại gia đình, chỉ có lang, ậu ăn uống tập trung tại một địa điểm nào đó
Buổi chiều bắt đầu diễn ra các trò chơi ở sân mường như đánh quay, chơi còn, chơi máng (quả máng tròn bằng miệng chén), đi cà kheo, thi bắn nỏ, chọi
gà, chọi cỏ, Ớ sân nhà lang có sắc bùa và đâm đuống Tiếng đâm đuống rộn ràng cùng tiếng sắc bùa trầm bổng ngân vang làm cho lòng người thêm náo nức, không khí ngày hội thêm tưng bừng
2.2 Hội sắc bùa (xéc bùa) của người Mường
Theo người Mường, sắc bùa hay còn gọi là xéc bùa, có nghĩa là xách cồng,
là một hội vui có tính chất giải trí diễn ra vào dịp đầu năm mới ở những bản mường để người ta cầu chúc nhau may mắn, mạnh khoẻ Ngoài ra, những dịp vui khác người ta cũng sắc bùa như đón khách quý từ xa đến, dựng nhà mới, đón dâu hoặc những dịp vui khác
Sắc bùa bao giờ cũng do những người biết hát, biết đánh cồng và biết đối lập thành một phường Phường bùa bao giờ cũng có một ông chủ phường, là người biết hát giỏi, biết đánh cồng, ứng phó tốt và là người lựa chọn những con hát cho phường bủa của mình Để có một phường bùa tốt, chủ phường phải lựa chọn kỹ các con hát cho phường Vào phường bùa không phân biệt giới tính và tuổi tác, song để cho vui vẻ và sinh động, thường các ông trùm lựa chọn những
cô gái trẻ, xinh xắn, biết múa hát tốt Ngoài ra, cũng có những phường bùa mà trùm phường là một phụ nữ, có những thanh niên, trung niên và các cô gái tham gia Thường một phường bùa như vậy có khoảng 12 người đánh chiêng, 2 người khiêng thúng đựng đồ tặng phẩm đi cuối, tất nhiên còn có ông trùm
Từ sau ngày mồng 2 Tết, phường bùa tiến hành đi sắc bùa các gia đình trong bản, những ngày sau đó họ có thể đi sắc bùa ở những làng bên
Trang phục của những người sắc bùa phải đẹp Nam mặc áo dài chít khăn đầu rìu Nữ mặc áo khoác màu vàng, màu hồng, đội nón bằng, đeo vòng tay, kiềng bạc và xích Đoàn sắc bùa đi theo thứ tự cụ thể, ngoài trùm phường là
Trang 21đến chiêng boong beng, rồi đến chiêng đủm, tiếp theo là đến chiêng khô, cuối cùng là đến chiêng dàm
Đoàn sắc bùa đi đến đâu rộn vang tiếng chiêng đến đó Chiêng là loại nhạc
cụ âm nhạc độc đáo, có giá trị cả về vật chất và tinh thần của người Mường Những bài chiêng truyền thống của phường bùa đánh trên đường phù hợp với hoàn cảnh đường đi: khi đi đường thì đánh bài "Đi đường", lúc lên dốc có bài "Leo dốc" Từ xa, các gia đình đã biết phường bùa đang sắp đến nhà mình để chuẩn bị nghênh tiếp, thường là được hẹn trước như lối hẹn người phúc hậu đến xông nhà đầu năm của người Kinh
Do đã chuẩn bị trước, các gia đình tập trung đầy đủ bà con họ hàng ở trong nhà để đón phường bùa, song theo lệ, cổng nhà vẫn đóng Vì thế, khi đến nơi, phường bùa đứng ngoài ngõ đánh cồng, hát bài "Khoá rác" Hát xong, cổng được mở ra, phường bùa tiến vào sân nhà, vừa đi vừa đánh cồng, sau đó là những bài hát gồm những lời chúc tụng, ngợi ca gia đình sang năm mới sức khoẻ, hạnh phúc, phát đạt:
“Anh em phường bùa chúng tôi bước vào
Ở ngoài trông thấy rào chung quanh cắm rợ
Cột cửa kén chạm đuôi con cá
Xà cửa cả chạm đuôi con muông ”
Hoặc:
"Đất ông chào ông Đất chúa chào chúa Lúa nhà ông cấy từ trong năm
Đã mọc xanh xanh rười rượi Con dưới vươn ngọn lên Con trên rủ ngọn xuống "
Cứ như vậy người hát và cồng say sưa hát, còn những người trong gia đình đón nhận một cách nồng nhiệt món ăn tinh thần này Sau khi các bài hát chúc đã hết, người trùm phường theo lệ cất tiếng hát mời:
Trang 22Thương thiết hỡi lại thương nồng
Thương công ở đây rồng bỏ vắng
Đó là lúc phường bùa kết thúc và gợi ý, nếu gia chủ là những người giỏi thường rang, bọ mẹng - những bài hát dân ca đối đáp, thì có thể cất lên lời hát
để giữ chân phường bùa Nếu không, gia chủ đem tặng gạo, tặng quà cho phường bùa thì phường sẽ đi sang nhà khác tiếp tục cuộc hát vui vẻ của mình trong không khí ngày xuân ấm áp Đó là diễn biến cơ bản của một hội xéc bùa của người Mường Riêng ở Mường Vang (Lạc Sơn), phường xéc bùa còn tham gia một lễ gọi là "Xớc pôông kơm klải lỏ” (Rước bông cơm trái lúa) Trong lễ này, phường bùa hộ tống một đoàn thiếu nữ, nâng cao trên đầu một tấm vải trắng trải dài, gọi là "cái cầu" Đoàn người đi rước xuất phát từ một hang núi có tên là "Khụ Dụng" "Cái cầu” - tức tấm vải trắng - được các cụ giải thích là dòng nước chảy ra từ một mỏ nước ngầm (vó rác)
2.3 Lễ cầu mùa của người Mường
Cũng như nhiều dân tộc khác, người Mường làm lễ cầu mùa để cầu cho mùa màng được tươi tốt, bội thu, không có bệnh dịch phá hoại, không bị mất mùa, thiên tai Lễ cầu mùa tiêu biểu diễn ra ở vùng Mường Vang, Lạc Sơn, là lễ cầu mùa của 7 xã vùng Cộng Hoà tham gia Trước đây, khi thấy xuât hiện sâu
bọ cắn phá mùa màng, các quan lang trong mường nhóm họp bàn việc tổ chức cúng Có năm sâu bọ nhiều, sau khi làm lễ cúng, tự nhiên có đàn chim sà xuống cánh đồng bắt hết sâu bọ, làm cho lúa sạch sâu mà lại tốt tươi, từ đó người ta tin tưởng vào lễ cầu mùa cho nên hàng năm thường tổ chức lễ này
Trang 23Lễ cầu mùa được tổ chức tại ngôi miếu thờ ông Quách Đốc - người tự xưng
là vua Dù đất Mường Vang Chuyện kể về ông còn được lưu truyền trên đất này như sau: ông dấy binh cát cứ một cõi khiến nhà vua ở kinh thành tức giận, gọi lên chặt đầu Ông không chết ở kinh thành mà ôm cái đầu bị chém về đến đất Mường Vang mới tắt thở Dân ở đây bèn lập miếu thờ Bên cạnh ông còn có các
vị quan hầu được thờ cúng, cho nên khi đọc bài khấn còn nhắc đến tên các vị đó:
Chắp tay lạy ba bốn đức vua Lạy vua Dù, vua Khói, vua Lò Bên trên là Tần, Kẻ, Khang Bên bang lạy Kem, Cả, Chấu, Khụ, Mụ,
Chí, Y, Chầu, Châu'Tịch, Quen, Tài, Kem Vua
Miếu thờ vua Dù lúc đầu đặt tại xóm Ngọc (Trụm), sau lần lượt chuyển qua
Đa Đình, Bưa Kiệu, Suối Khăng, Đống Loóc (còn gọi là đồi Miếu) thuộc xóm Cáo, xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn Năm 1945, miếu bị phá huỷ
Lễ vật dâng cúng trong lễ cầu mùa bao gồm: xôi nếp, thịt trâu, bánh khoai, rượu cần, một gánh khoai sọ, bánh dồi (khoai nhồi lòng lợn), bánh khoai vuông (khoảng hơn gang tay), bánh đóng ba, đóng bốn (nặn bằng tay hình thù như củ gừng) Trâu tế lễ phải là con có vòng bụng 12 nắm tay trở lên
Người đứng ra tổ chức lễ là các quan lang trong mường Ngoài quan lang còn có ậu các xóm làm nhiệm vụ vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm Ngoài ra, người tổ chức lễ còn mời thầy mo thạo bài khấn cúng và những người đánh trống, kẹt, bạt (xập xeng), một số thiếu niên con nhà dân thường Những người tham gia lễ này chỉ là đàn ông, tất cả đều vấn khăn, mặc quần áo mới, riêng ông thầy mo mặc quần đỏ, áo lụa dài, thắt khăn màu quanh eo, mũ mão diêm dúa, tay cầm kiếm, tay cầm quạt, vai đeo túi khót (túi vải đựng đồ thiêng của thầy mo)
Trước ngày hội, không khí cả mường nhộn nhịp Người ta chuẩn bị củi, bánh, góp tiền, góp gạo, đổi trâu vì phải tìm cho được con trâu đúng tiêu chuẩn làm vật tế lễ
Trang 24Tại miếu thờ, người coi miếu được gọi là chúa quan, có nhiệm vụ quét dọn hàng ngày, thắp hương vào các dịp ngày sóc, ngày vọng hàng tháng Tối hôm đầu của lễ hội, các lang, ậu tụ tập mổ lợn ăn uống và làm bánh, sáng hôm sau mới mổ trâu và sắp mâm cỗ dâng cúng
Sáng hôm đó, mâm cỗ sau khi đã chuẩn bị xong được trịnh trọng dâng lên miếu Thầy mo bắt đầu đọc bài khấn:
Hôm nay ngày này Quan dân toàn xã Các ậu, đầu đạo, chúa quan Năm xã, chín mười làng Muôn nhắc đường bùa săn săn Muốn nhắc đường cầy xá xá Muôn vái mạ góc chiêm, góc mùa Một hạt một mọc, một thóc một nên Đừng cho sâu bông
Ngoài lễ cầu mùa ở miếu thờ vua Dù ở Đống Loóc (đồi Miếu), cũng có lễ cầu mùa thường được tổ chức vào tháng 2 hàng năm Người ta chọn ngày mồng
8 âm lịch (theo lịch Mường) để làm lễ, đó là ngày lành nhất trong tháng Tuy nhiên, quy mô của lễ cầu mùa Đống Loóc không được lớn và tiêu biểu như lễ cầu mùa ở Cộng Hoà trên miếu vua Dù
Trang 252.4 Lễ Cầu mưa của người Mường
Vào những năm hạn hán hay mùa mưa đến muộn, dân chúng đội nước để làm ruộng mà trời vẫn không cho mưa, dân làng tổ chức lễ cầu mưa Đây là lễ hội của người dân Mỹ Hoà, Tân Lạc Dân bản Đống Chuông thực hành lễ cầu mưa tại bãi Tênh Lìm do xóm Đon làm chủ lễ Lễ vật gồm một con gà trắng được luộc chín đặt lên mâm cùng hương và các sản vật khác Người ta chọn xóm Đon vì nơi đó có mó nước chảy từ núi đá ra, từ xa xưa dân ở đây đã thờ vua Nước Người dân quan niệm rằng, do ma Khú ngủ quên không nghe thấy sấm gọi nên không dậy lấy nước cho dân chúng làm mùa Vì thế, trên mâm lễ, ngoài
gà còn có trứng và gạo vì người ta nghĩ ma Khú ăn các thứ đó
Sau khi làm lễ xong, dân chúng kéo đến mó nước lấy đá ném xuống vũng nước cạn có ý đánh thức ma nước dậy Cùng với việc ném đá, người ta còn hò reo vang dậy như để cho ma Khú nghe thấy rõ mà dậy Nhiều người còn mang theo cả súng bắn chỉ thiên lên trời
Hai xóm Đon và Chuông còn bày binh diễn trận, trong đó xóm Chuông đóng vai bên giặc và hai bên đánh trận giả với nhau Khi đó, chủ tế xóm Đon mới cầu khấn vua Nước gây ra mưa để tiêu diệt quân của đối phương
2.5 Lễ rửa lá lúa của người Mường
Lễ rửa lá lúa thường được tổ chức vào lúc lúa đang đứng cái, khoảng tháng
7, tháng 8 âm lịch Các gia đình đan các sọt tre, có cắm 6 lông gà vòng quanh sọt và làm nhiều chiếc gậy cao trên 1m, có cắm chéo lông gà trên ngọn làm cánh rồi đem những sọt đó đặt ở đầu ruộng và đem những chiếc gậy ra cắm ở ruộng Người ta còn cho trẻ em đem lông gà ra cắm quanh bờ ruộng
Lễ vật cúng là một mâm bày nhiều bát cháo thịt gà Mâm lễ được mang đặt
ở đầu ruộng để thầy mo cúng Trong lời khấn của mình, thầy mo cầu mong cho mùa màng ít sâu bệnh, lúa tốt và kể về thời tiền sử, ngày đất đai chưa có hạt lúa
để nuôi người Vua Dịt Dàng sai các con vật đi tìm Cuối cùng, con chuột lên gặp bà Chu Mường ở trời cao xin về cho người hạt lúa đỏ cùng với 40 giống lúa ruộng, 30 giống lúa nương Cho nên, chuột giao ước với người là người nhận số giống đó gieo trồng đến khi cây ra hạt thì chuột được quyền đến ăn Bà Chu
Trang 26Mường cho giống và dạy cách trồng lúa Lúa nương để vậy gieo, lúa ruộng phải ngâm nước để cạn ra mầm mới gieo Bài mo còn kể tên nhiều người có công làm ruộng từ thời rất xưa trong lịch sử phát triển của người Mường Bi, như ở xã Địch Giáo có lễ rửa lúa để tưởng nhớ những con người mở đất là ông Ỏ bà Ỏ, ông Rạng bà Rạng
2.6 Lễ Cơm mới của người Mường
Lễ hội này mang tính chất gia đình nhiều hơn là cộng đồng, được tổ chức sau mùa thu hoạch vào tháng 10 âm lịch Người Mường chọn những mẻ lúa đầu tiên, sắm xôi, thịt cúng tổ tiên, thành hoàng và các vị thần đã phù hộ cho họ một mùa màng thắng lợi Vào ngày này, người Mường cũng trả công cho trâu, con vật đã giúp họ làm lụng cày bừa để có vụ mùa tốt Người ta cho trâu ăn một nắm xôi, miếng thịt Họ cũng cho chó là con vật trung thành, gần gũi, coi nhà cho chủ quanh năm ăn những thức ăn của lễ cơm mới cùng người
Đối với các nhà lang xưa ở một số nơi như Mường Bi, lễ cơm mới được tổ chức khá to, có làm bánh chưng và bắt cá về để cúng vía lúa
Việc lựa chọn một số bông lúa nhiều hạt và hạt chắc tập hợp lại thành bó để trên gác (róng) để giữ vía lúa là một tục lệ được người Mường coi trọng, biểu hiện của sự "giàu cơm lắm lúa"
2.7 Lễ hội đu tre của người Mường
Lễ hội này diễn ra vào dịp tiết khai hạ ở Mường Tre, xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn nhằm thờ thành hoàng làng, thờ Bụt Mọc (thần đá), thờ nàng Ả Đắng (thần đánh dơi) và thờ Đức Thánh Tản, Quốc Mẫu
Việc thờ Bụt Mọc (thần đá) của người Mường có lai lịch như sau: Ngày mới khai khẩn đất đai làm ruộng, dân làm hệ thống tưới tiêu trong cánh đồng, ở chỗ tiêu nước gọi là Dạng Nà có một hòn đá chắn dòng Dân bẩy đá đi chỗ khác
để cho dòng nước chảy dễ dàng Thế nhưng, đến hôm sau, người ta lại thấy hòn
đá trở về chỗ cũ Người ta bèn đẩy hòn đá đi xa hơn chỗ hôm trước Hôm sau đến lại thây hòn đá trở về chỗ cũ Nhiều lần như thế, người coi nước bèn đem rửa hòn đá và xem kỹ thì thấy có hình người, bèn đem về làng để thờ Từ đó,
Trang 27việc làm ăn phát đạt, khấm khá, mưa thuận gió hoà, dân Mường đã dựng miếu
để thờ hòn đá thần đó (còn gọi là Bụt Mọc)
Còn chuyện nàng Á Đắng kể rằng, có ả con gái nhà lang đi vào hang Đắng bắt con dơi (đắng tiếng Mường là con dơi), chẳng may bị kẹt trong hốc đá rồi chết Dân Mường đồn rằng nàng thiêng lắm nên lập miếu thờ để cầu nàng phù
hộ cho dân Mường Vào dịp thờ nàng, dân dựng bốn cột tre đu để tưởng nhớ nàng với cái chết đu giữa vòm hang
Hội đu tre chính là hội tưởng nhớ nàng Ả Đắng kết hợp thờ các thần khác của vùng Mường Văn Lạng Mường Văn Lạng có bốn xóm: Tre, Đổn, Ấm, Đồi
Ra giêng, sau Tết Nguyên đán, bốn ậu của bốn xóm họp lại bàn việc tổ chức hội
đu tre Từ mùng năm, bốn ậu đã vác bốn cây tre để cả ngọn, dựng lên làm cột đu tại thửa ruộng Nà Hổm, một bãi rộng không xa hang Đắng và miếu Bụt Mọc Trước khi dựng tre, người ta dâng một mâm cúng các thần Mâm cơm cúng ấy các ậu phải tìm được thịt hoẵng hay sơn dương cùng với bánh, cơm, rượu, thịt
Trong ngày hội đu tre, tất cả những người dự hội đều được ăn uống tại chỗ, việc này các ậu phải cùng nhau tổ chức Lang Mường Văn Lạng đã phân công
và chia ruộng đất cho các ậu để lo việc này Ậu chiếm khách được phần ruộng 1.000 bó mạ, lo ăn uống cho đầu đạo, chúa quan và dân chúng Ậu chúa cấy 1.000 bó mạ lo tổ chức ăn uống và giải thưởng cho các đoàn trẩy hội, các môn thi đấu trong lễ hội Ậu cả, ậu khà cấy 1.500 bó mạ lo việc cúng lễ và phần ăn uống của ậu, lang
Khi cột tre đã được dựng lên, bốn ậu, mỗi ậu cầm một chiếc khăn trắng bằng vải thô Mường, trèo lên cột buộc ngọn tre lại rồi thả dây đu Dây đu làm bằng tre hoặc cây giang thẳng, cả đầu trên và dưới đều kết cấu bằng trục ngang bền chắc, đảm bảo an toàn cho hai người cùng đu Trong khi dựng đu, từ sáng sớm, phường bùa tổ chức lễ dấy chiêng, tức là đánh cồng đi rước thần Đến xung quanh cột đu, phường bùa đi sau thầy cúng gióng lên những bài cồng, còn thầy cúng vừa đi vừa vãi thóc ra xung quanh cột đu
Trang 28Hội đu tre tổ chức nhiều trò chơi, trong đó chủ yếu là chơi du, thi bắn nỏ, thi hát rằng thường, thi ném còn Mỗi trò chơi có một ậu điều khiển và nhiều ậu, lang khác giám sát Người thắng cuộc được nhận phần thưởng bằng vuông vải nhiễu màu đỏ, được ngồi ăn uống chung với cỗ nhất, cỗ nhì dành cho các lang đạo
Cách chơi đu là sau khi cột đu dựng lên, trên ngọn tre có buộc vuông vải nhiễu đỏ, từng cặp chàng trai bước vào đu Khởi đầu phải có người kéo thả dây
đu để lấy đà, sau đó tự người đu phải nhún đu để bay cao lên, cho đến khi chạm tay vào vuông vải nhiễu là thắng cuộc Người thắng cuộc thường là các cặp chàng trai tâm đồng ý hợp, có sức mạnh ngang nhau, có bản lĩnh, tự tin, có ý chí
và lòng dũng cảm Bởi vì đu phải bay một vòng cung khá cao mới chạm tới vuông vải nhiễu, nên rất ít cặp về được tới đích nếu không có sức mạnh và sự khéo léo
Chơi còn thì dành cho thanh niên nam nữ vui chơi chứ không có giải thưởng Nhưng, chính từ cuộc chơi này mà nam nữ tỏ tình, biết tài năng của nhau để sau hội là những mốì tình nên duyên vợ chồng Khi các chàng trai, cô gái ở làng khác đến dự hội, vừa gióng cồng ba vòng vào sân thì các chàng trai,
cô gái làng sở tại nghênh tiếp bằng những đường còn tung lên chấp chới mời mọc Cuộc ném còn bắt đầu, từng đôi trai gái tung hứng với nhau Khi những đường còn đã đủ tình ý thì đôi trai gái rút dần khoảng cách, họ vờ tung không tới
để hai người tiến lại gần nhau hơn Người khách nhặt quả còn trao cho chủ (tức
là chàng trai hay cô gái làng sở tại) Nếu chủ trao tặng lại cho khách thì đó chính
Trang 29Ngày hội kết thúc vào hôm mùng 8 tháng giêng, gọi là ngày "rút tải đu" Bốn ậu hạ bốn cột tre xuống Trước khi trời sáng, ậu vá vác cày, dắt trâu ra đồng cày bất cứ ruộng nhà ai, sau đó cày một đường thẳng trên ruộng Nà Hốm, thửa ruộng chung để làm quỹ hội đu tre hàng năm Các thửa ruộng của xóm cỏ (Mỹ Thành), xóm Tre (Văn Nghĩa), xóm Đồi, Ấm, Pheo, Trạc Lại (Văn Nghĩa) cũng được các ậu mở những đường cày bắt đầu cho một năm lao động sản xuất
2.8 Lễ hội đình cổi
Diễn ra ở xã Bình Chân, huyện Lạc Sơn Tương truyền, Quốc Mẫu cùng hai con gái là Vua Ả, Vua út cưỡi voi từ núi Ba Vì về tới đồng Khậm Mụ (thuộc Bình Chân bây giờ) thì dừng chân nghỉ trưa Quốc Mẫu giả trang thành người ăn mày tiếp xúc với đám trẻ chăn trâu, dạy chúng múa hát Sau đó, mẹ con Quốc Mẫu (Hoàng Bà) biến lên đỉnh núi Bật cạnh đó, còn lại hai mẹ con voi biến thành hai hòn đá to trên đồng Khậm Mụ Từ đấy, dân dựng đình thờ Hoàng Bà ở Côi Đang, Khậm Mụ
Để tưởng nhớ công lao Quốc Mẫu (Hoàng Bà), người xóm Cành, nơi có những đứa trẻ chăn trâu học múa hát với Hoàng Bà, được dân trong vùng phân công chuyên trông coi về múa chèo đình, còn gọi là vá chèo
Ngày mở hội đình, khu vực này sặc sỡ cờ lọng, có long nghi, kiệu đòn sơn son thếp vàng Không chỉ khấn lễ tại đình, người dân khi cúng tổ tiên tại gia đình cũng cúng luôn cả Hoàng Bà, thành hoàng mường với lời tôn kính: "Đền Khoông Lu cái sao, đền Khoông Lao cái sáng", "Quốc Mẫu Hoàng Bà cao xa đức mẹ” và thỉnh mời cả Vua út, Vua Ả, Thánh Tản núi Ba Vì, vua Cun, vua Hải ở đền Trắng, đền Vành
Hội đình cổi còn có nghi lễ "đổ cờ" Người ta vẽ một vòng tròn trên sân đình, các chức sắc của mường cho hạ đổ cột cờ, nếu lá cờ ngả vào vòng tròn đó, đuôi cờ hướng về phía đình là điềm tốt
Những năm hạn hán thì có lễ cầu Quốc Mẫu và các vị thần để xin mưa
Lễ cầu mưa làm tại địa điểm ven suối Vó Đuống, Vó Cối Trên dòng suối này có hòn đá hình giống con trâu nửa nằm nửa ngồi, ghếch mõm lên trên mặt nước Phần mõm ghếch lên ấy có một lỗ thủng tựa như mũi con trâu Ngày lễ cầu mưa,
Trang 30người có chức vị cao nhất mường trèo lên lưng trâu đá, tay cầm thừng, tay cầm
mõ, rung liên hồi, miệng hô to: "mưa, mưa, mưa" Tất cả mọi người dự lễ hô theo: "mưa rồi, mưa rồi"
Ngoài ra, trong lễ hội Đình Cổi còn có lễ xuống đồng gọi là "đậm bừa cắt",
lễ cơm mới, múa chèo đình, thi hát rằng thường, lễ đập bát ăn thề "Thề giữ gìn
sự đoàn kết giữa lang đạo với dân chúng” cùng nhiều trò chơi khác
2.9 Lễ hội đình Vai
Đình và đền Vai nằm ở giữa xóm Vai thuộc xã Thanh Nông, huyện Kim Bôi Đình Vai thờ tam vị Tản Viên Sơn là những vị công thần bậc nhẩt của Hùng Vương Đền Vai thờ Cảnh Tiên công chúa
Tương truyền, đình Vai được xây dựng từ lâu đời, nhưng trải qua thời gian
và chiến tranh nên nhiều phần kiến trúc đã bị phá huỷ Dấu tích còn lại là nhà đại đình, hậu cung, giếng đình và một số di vật như cỗ kiệu, bát hương
Đền Vai được xây dựng gần đình Trước đây, đền làm bằng bương, tre nên
bị dột nát và hư hỏng qua thời gian Dân làng đem hết đồ thờ của đền đặt nhờ trong hậu cung của đình Mãi đến năm 1998, đền mới được xây dựng lại và các
đồ thờ được trở về vị trí cũ của nó Đền được xây thành ba gian tường gạch, bít đốc, lợp ngói, trước đền có ba cửa cuốn vòm Trong đền có khám thờ bằng gạch chia làm ba cấp, trên đó có bài trí bát hương, bình hoa, mâm bồng Trên cùng là phù điêu bằng gỗ chạm khắc sơn mài hình một nữ thần đầu dội mũ có thêu phượng chầu mặt nguyệt, mặt áo thụng đỏ, tay phải cầm quạt, tay trái đặt trên đùi, tai và cổ đeo vòng trang sức, trên đầu có vòng hào quang toả sáng, bên cạnh
là các hình người Hàng năm, vào ngày 11 tháng 11 âm lịch, dân làng tập trung
mở hội kéo dài đến ngày 13 tháng 11 mới kết thúc Ngày 11 tháng 11, dân làng đưa kiệu đến nhà trưởng hàng giáp để rước sắc về đình thờ Đoàn kiệu được dẫn đầu bằng kiệu đặt bài vị của thần thành hoàng, tiếp đến là kiệu đặt hoa quả, xôi, gạo, bánh chưng sau đó là tàn lọng, cấm đao, mũ, hia Đi trước kiệu có đội múa sinh tiền
Sau khi đã rước sắc về đình, dân làng tổ chức rước cỗ của các gia đình có
Trang 31thờ gọi là cỗ Đốn và tổ chức thi cỗ Cỗ nhà ai to nhất, ngon nhất, đẹp nhất thì được đặt ở bàn thứ nhất và theo thứ tự mà đặt ở các bàn nhì, ba
Ngày 12 tháng 11 là ngày chính hội Sáng hôm đó, dân làng tổ chức rước
cỗ lễ của hàng giáp về đình thờ Buổi lễ này do ông lang làm chủ tế Sau buổi lễ,
lý trưởng đọc hương ước của làng để dân nghe và thực hiện trong năm mới Buổi chiều là các trò vui hội Thanh niên nam nữ tổ chức chơi còn, bắn nỏ, đánh đu, bịt mắt bắt dê Tối đến có hát chèo Hội là sự kết hợp của cả người Mường và người Kinh trong vùng
Đến hết ngày 13 tháng 11 thì hội kết thúc
2.10 Hội chùa Kè
Hội chùa Kè tổ chức vào ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm với sự tham gia của cả người Kinh và Mường trong vùng Mường Bi đến dự Đây là một hội chùa lớn của vùng Mường Bi
Người đến lễ chùa rất đông, nhưng chủ là để tham gia các sinh hoạt lễ hội ở không gian quanh chùa với bãi ném còn thanh niên nam nữ, bãi đánh quay cho thiếu niên và bãi thi bắn tên, bắn sung hỏa mai Người thắng cuộc được thưởng rượu cần
Những năm được mùa, dân sở tại còn tổ chức mổ trâu làm lễ thờ Phật, tổ chức thổi khèn, hát sắc bùa làm không khí ngày hội vô cùng nhộn nhịp Trai gái ném còn, bắn thi, trẻ đánh quay, nô đùa, các bố mế vây quanh các ché rượu cần Con nhà lang khoe những khẩu súng hoả mai đẹp của mình và cùng nhau trổ tài Các cô gái khoe những bộ áo váy mới của mình thể hiện tài thêu thùa trước những cặp mắt háo hức của các chàng dự hội
Cứ như vậy, hội chùa diễn ra trong không khí náo nhiệt và ăn sâu vào ký ức những người dự hội
2.11 Lễ hội đền và miếu Trung Báo
Đền và miếu Trung Báo thuộc xã Cao Thắng (còn gọi là Cao Đăng), huyện Kim Bôi Cách đền và miếu không xa là di tích hang động trên núi Báo, một di tích văn hóa nơi cư trú của người tiền sử với nhiều công cụ bằng xương và đá đã được các nhà khảo cổ tìm thấy Đền Trung Báo còn có tên nôm là đền Beo