BÀi tiểu luận đạt 9.5 điểm do GV Minh Tuấn đánh giá. Nội dung tiểu luận đúc kết 90% từ bài giảng thực tế trên giảng đường của GV. TIỂU LUẬN LOGIC học Trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh. Lưu ý: các bạn chỉ nên tham khảo và chế biến thành sản phẩm của bản thân, không nên copy toàn bộ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ LỚP HP: INLO220405_01 GVHD: ThS ĐẶNG THỊ MINH TUẤN NHÓM THỰC HIỆN: THE LOGICAL MEN HỌC KỲ: 2 – NĂM HỌC: 2016 – 2017
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 05 – 2017
CẤU TRÚC, LOẠI HÌNH VÀ CÁC QUY TẮC CỦA TAM ĐOẠN LUẬN ĐƠN
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA (Môn học: Nhập môn Logic học)
Trang 21 Lữ Hồng Anh - 16147114
Giảng viên hướng dẫn: ThS ĐẶNG THỊ MINH TUẤN
ĐIỂM:
NHẬN XÉT CỦA GV:
GV ký tên
Trang 3PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng 2
PHẦN 2 NỘI DUNG 3
Chương 1 CẤU TRÚC, CÁC LOẠI HÌNH VÀ KIỂU CỦA TAM ĐOẠN LUẬN ĐƠN 3
1.1 Định nghĩa và cấu trúc của tam đoạn luận đơn 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Cấu trúc của tam đoạn luận đơn 3
1.1.2.1 Các loại thuật ngữ 3
1.1.2.2 Các loại tiền đề 4
1.2 Hình và kiểu của tam đoạn luận đơn 4
1.2.1 Hình của tam đoạn luận đơn 4
1.2.2 Kiểu của tam đoạn luận đơn 6
CHƯƠNG 2 CÁC QUY TẮC CỦA TAM ĐOẠN LUẬN ĐƠN 7
2.1 Tiên đề 7
2.1.1 Định nghĩa 7
2.1.2 Nội dung của tiên đề 7
2.2 Các quy tắc của tam đoạn luận đơn 7
2.2.1 Các quy tắc đối với khái niệm 7
2.2.2 Các quy tắc đối với mệnh đề 9
2.2.3 Các quy tắc hình 10
2.3 Xem xét tính toán đúng đắn của tam đoạn luận 11
PHẦN 3 KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Trong cuộc sống thường ngày, mọi hoạt động của con người từ đơn giản đến phức tạp đều thông qua tư duy Cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức, con người càng ngày càng có sự hiểu biết đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, chính xác hơn về bản thân tư duy đang nhận thức
Nói về tư duy, phải nhắc đến các hình thức cơ bản của tư duy: khái niệm, phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ, ngụy biện Trong đó, suy luận chính là một trong những hình thức quan trọng nhất của tư duy Nếu như khái niệm hay phán đoán là các hình thức biểu thị tư tưởng thì suy luận lại được xem là một loại hình thức sản sinh ra tư tưởng mới từ các tư tưởng đã có, rút ra các tri thức mới từ tri thức đã biết Suy luận có vai trò vô cùng to lớn trong nhận thức và trong đời sống Nghiên cứu suy luận chính là vấn đề trọng tâm của logic học Suy luận có hai hình thức chính là suy luận quy nạp và suy luận diễn dịch, và trong suy luận diễn dịch,
ta có hai dạng suy luận trực tiếp và gián tiếp
Dạng suy luận diễn dịch gián tiếp (tam đoạn luận) được nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristote nghiên cứu kỹ lưỡng từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên Ngày nay trong logic học người ta đã dùng những phương pháp hiện đại để nghiên cứu loại suy luận này, và đưa ra những hệ thống chuẩn hóa khác nhau về nó Đặc biệt, đã
có nhiều chương trình về tam đoạn luận đơn được viết cho máy tính Có thể nói rằng, thái độ hoài nghi hay thậm chí là phủ nhận đối với tam đoạn luận đơn đã từng có lúc ngự trị trong logic học đã vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng Trong tư duy hàng ngày, tam đoạn luận đơn vẫn có một giá trị không gì có thể thay thế
Nhằm tìm hiểu về tính quan trọng của dạng suy luận diễn dịch gián tiếp (tam
đoạn luận) trong tư duy, nhóm đã lựa chọn đề tài: “Cấu trúc, loại hình và các quy
tắc của tam đoạn luận đơn”
Trang 52 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài sẽ nghiên cứu làm rõ các vấn đề về:
- Định nghĩa và các thành phần cấu trúc chính của tam đoạn luận đơn
- Các loại hình và kiểu của tam đoạn luận đơn
- Tiên đề và các quy tắc của tam đoạn luận đơn
3 Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng:
- Phương pháp thu thập phân tích tài liệu: thông qua các giáo trình, sách tham khảo, các bài báo khoa học để làm rõ nội dung của mục tiêu nghiên cứu
- Phương pháp phân loại hệ thống hóa kiến thức: thông qua các tài liệu thu thập được nhằm hệ thống và sắp xếp các tài liệu khoa học theo chủ đề, theo đơn
vị kiến thức để nội dung của bài tiểu luận dễ nhận biết và nghiên cứu
Trang 6PHẦN 2 NỘI DUNG
Chương 1 CẤU TRÚC, CÁC LOẠI HÌNH VÀ KIỂU CỦA TAM ĐOẠN LUẬN ĐƠN
1.1 Định nghĩa và cấu trúc của tam đoạn luận đơn:
1.1.1 Định nghĩa:
Tam đoạn luận được hiểu là một cách suy luận trong suy luận diễn dịch, trong
đó kết luận được rút ra từ hai tiền đề Tam đoạn luận là hệ thống suy diễn tiền đề
cổ xưa nhất do Aristote xây dựng Trong tam đoạn luận các tiền đề và kết luận đều là những phán đoán đơn, thuộc các dạng: A, I, E, O, với đúng ba thuật ngữ khác nhau
Tam đoạn luận là một phát minh lớn của Aristote Trong học thuyết lôgíc học
của mình, ông đã xây dựng tam đoạn luận làm cơ sở cho chứng minh: “Cần phải
nói về tam đoạn luận trước khi nói về chứng minh, bởi tam đoạn luận là một cái
gì đó chung hơn và chứng minh là một loại tam đoạn luận nào đó, nhưng không phải bất kỳ tam đoạn luận nào cũng là chứng minh” 1
1.1.2 Cấu trúc của tam đoạn luận đơn:
1.1.2.1 Các loại thuật ngữ:
Như đã nhắc trong phần định nghĩa, ta dễ dàng thấy rằng, một tam đoạn luận
đơn có cấu trúc bao gồm hai tiền đề và một kết luận, và chúng đều là những phán
đoán đơn, thuộc các dạng: A, E, I, O
Ví dụ 1: (1) Mọi động vật đều sinh sản
(2) Rùa là động vật
(3) Rùa sinh sản
1 Nguyễn Gia Thơ, Vũ Thị Thu Hương (2016), Tam đoạn luận trong học thuyết logic của Aristote – một “công cụ” của
nhận thức khoa học, truy cập tại <http://philosophy.vass.gov.vn>, [12/05/2017]
Trang 7Ta có, hai tiền đề là (1) và (2), kết luận là (3), cả tiền đề và kết luận đều ở dạng các phán đoán đơn
Trong mỗi một tam đoạn luận, ta chỉ có ba khái niệm là ba thuật ngữ, ký hiệu là: S, P, M Trong đó, S được gọi là tiểu thuật ngữ, M là thuật ngữ giữa hay trung gian và P là đại thuật ngữ Thuật ngữ trung gian (M) có mặt trong cả hai tiền đề nhưng lại không có mặt trong kết luận
Như ví dụ tam đoạn luận ở trên, ta có “động vật” là thuật ngữ trung gian (M),
“sinh sản” là đại thuật ngữ (P) và “rùa” là tiểu thuật ngữ (S) Tiền đề lớn là: Mọi động vật đều sinh sản, tiên đề nhỏ: Rùa là động vật, và kết luận: Rùa sinh sản
Như vậy ta có thể viết tam đoạn luận trên dưới dạng:
MP MaP
SM hay đầy đủ hơn SaM
SP SaP
1.1.2.2 Các loại tiền đề:
Ở ví dụ phía trên, ta thấy phán đoán (1) chứa đại thuật ngữ P, nên nó được gọi
là đại tiền đề, còn phán đoán (2) chứa tiểu thuật ngữ S nên là tiểu tiền đề
Trong tam đoạn luận đơn, ta không nhất thiết phải viết đại tiền đề trước và tiểu tiền đề sau Nên để xác định một tiền đề là đại tiền đề hay tiểu tiền đề thì ta không thể dựa vào vị trí của nó trong tam đoạn luận đơn, mà ta phải xét xem tiền đề đó chứa đại thuật ngữ hay là tiểu thuật ngữ
1.2 Hình và kiểu của tam đoạn luận đơn:
1.2.1 Hình của tam đoạn luận đơn:
Thuật ngữ trung gian (M) – hay còn gọi là trung từ – có thể chiếm các vị trí khác nhau trong các tiền đề, trung từ có thể là chủ từ hoặc thuộc từ trong đại tiền
đề và tiểu tiền đề Mỗi vị trí của trung từ trong các tiền đề sẽ cho ra một hình của
Trang 8tam đoạn luận đơn Và theo Aristote, hình 1 được xem là quan trọng nhất Ở đây,
ta có chính xác bốn hình khác nhau của tam đoạn luận dựa theo đặc điểm trên:
Hình 1 Hình 2 Hình 3 Hình 4
* Hình 1: Trung từ là chủ từ trong đại tiền đề và là thuộc từ trong tiểu tiền đề
Ví dụ 2: Mọi sinh viên đều phải thi
Nam là sinh viên
Vậy Nam phải thi
* Hình 2: Trung từ là thuộc từ trong cả hai tiền đề
Ví dụ 3: Tháng 6 rất nóng
Tháng này không nóng
Vậy tháng này không phải là tháng 6
* Hình 3: Trung từ là chủ từ trong cả hai tiền đề
Ví dụ 4: Con người có thể tư duy
Con người là động vật
Vậy động vật có thể tư duy
* Hình 4: Trung từ là thuộc từ trong đại tiền đề và là chủ từ trong tiểu tiền đề
Ví dụ 5: Thuốc trừ sâu là chất độc
Độc là chất nguy hiểm đối với con người
Vậy có chất nguy hiểm với con người là thuốc trừ sâu
M
M
M
M
M
M
Trang 91.2.2 Kiểu của tam đoạn luận đơn:
Như đã nói ở phần cấu trúc của tam đoạn luận, các phán đoán tiền đề và kết
luận có thể là các phán đoán đơn dạng A, E, I, hoặc O “Kiểu của một tam đoạn
luận đơn là khái niệm cho biết các phán đoán tiền đề và kết luận của nó có dạng nào Vì có 4 dạng phán đoán đơn, nên có tất cả 4 3 kiểu tam đoạn luận đơn Nếu phân biệt kiểu tam đoạn luận đơn theo các hình khác nhau thì có thể nói đến 64×4
= 256 kiểu tam đoạn luận đơn tất cả” 2 Nghĩa là chỉ cần với ba khái niệm M, S,
P ta có thể xây dựng 256 kiểu tam đoạn luận khác nhau Điều này giúp ta hiểu rằng: với một vấn đề được đưa ra ta có thể suy nghĩ ở 256 khía cạnh khác nhau
Vậy nên mới có câu “Lưỡi không xương trăm đường lắt léo”, trước khi nói gì đó phải “Uốn lưỡi bảy lần”, xem xét sự đúng sai của vấn đề Ta có 256 kiểu của tam
đoạn luận, nhưng không phải tất cả các kiểu đều đúng, để xác định được các kiểu
đúng của tam đoạn luận, phải dựa vào các quy tắc chung của tam đoạn luận để
loại bỏ các kiểu sai
Một suy luận được xem là đúng đắn khi thỏa mãn đồng thời hai yêu cầu: hợp
logic và xuất phát từ tiền đề đúng
Theo nghiên cứu của các nhà logic học, chỉ có 19 trong tổng số 256 kiểu của tam đoạn luận là đúng Các kiểu đúng tương ứng với các hình như sau:
- Hình thứ nhất: AAA, EAE, AII, EIO
- Hình thứ hai: EAE, AEE, EIO, AOO
- Hình thứ ba: AAI, IAI, AII, EAO, OAO, EIO
- Hình thứ tư: AAI, AEE, IAI, EAO, EIO 3
Như vậy, để xác định được các kiểu đúng trên, ta sẽ dựa trên các quy tắc của
tam đoạn luận bao gồm các quy tắc đối với khái niệm và các quy tắc đối với mệnh
đề sẽ được trình bày và làm rõ trong chương 2
2 Phạm Đình Nghiêm (2009), Nhập môn logic học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 99
3 Trần Hoàng (2003), Logic học nhập môn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 62
Trang 10CHƯƠNG 2 CÁC QUY TẮC CỦA TAM ĐOẠN LUẬN ĐƠN
2.1 Tiên đề
2.1.1 Định nghĩa:
Theo Phạm Đình Nghiêm - Nhập môn Logic học: “Tiên đề của một lý thuyết
là một mệnh đề được thừa nhận - thông thường là nhờ tính chất hiển nhiên của
nó - và không thể chứng minh hay bác bỏ Tiên đề của tam đoạn luận là mệnh đề được thừa nhận làm cơ sở cho học thuyết về tam đoạn luận, và không thể chứng minh hay bác bỏ nó trong khuôn khổ của chính học thuyết này.” 4
Theo đó, tiên đề cùng với các quy tắc của tam đoạn luận đơn sẽ là cơ sở để chúng ta suy xét sự đúng sai của tam đoạn luận
2.1.2 Nội dung của tiên đề:
Nội dung của tiên đề được phát biểu qua hai mặt ngoại diên và nội hàm:
- Về mặt ngoại diên: Khẳng định hay phủ định toàn bộ một loại đối tượng là đã phủ định hay khẳng định từng đối tượng thuộc loại ấy
- Về mặt nội hàm: Thuộc tính của thuộc tính của đối tượng là thuộc tính của bản thân đối tượng Cái gì không thuộc về thuộc tính của đối tượng thì cũng không thuộc về đối tượng
2.2 Các quy tắc của tam đoạn luận đơn:
Các quy tắc trong tam đoạn luận được rút ra từ các tiên đề Ta có thể phân chia các quy tắc này ra làm hai loại: các quy tắc đối với khái niệm và đối với mệnh đề
2.2.1 Các quy tắc đối với khái niệm:
* Quy tắc 1: Mỗi một tam đoạn luận chỉ có ba khái niệm và chỉ luôn có ba
khái niệm Nghĩa là ta luôn có ba khái niệm không hơn không kém trong tam
4 Phạm Đình Nghiêm (2009), Nhập môn logic học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 100
Trang 11đoạn luận đơn
Ví dụ 6: Tất cả sinh viên đều học Logic học
Minh là sinh viên
Minh học Toán
Ở ví dụ trên, ta thấy có nhiều hơn ba khái niệm: “Sinh viên”, “Logic học”,
“Minh”, “Toán”, như vậy ví dụ trên quy phạm quy tắc số 1, không phải là tam
đoạn luận đơn
* Quy tắc 2: Trung từ chỉ có mặt trong tiền đề và không có mặt trong kết
luận
Xem lại phần 1.1.2.1 trang 4, ta có cấu trúc của tam đoạn luận đơn được viết như sau:
MP
SM
SP
Ở đây, trung từ M chỉ luôn xuất hiện trong hai tiền đề và không xuất hiện ở kết
luận Như ví dụ 1, “động vật” được xem là trung từ, chỉ xuất hiện trong hai tiền
đề và không có mặt ở kết luận “Rùa sinh sản”
* Quy tắc 3: Khái niệm nào không chu diên trong tiền đề thì cũng không chu
diên trong kết luận
Trong quy tắc này chúng ta chỉ đề cập đến đại thuật ngữ và tiểu thuật ngữ Quy tắc này thể hiện yêu cầu cơ bản của suy luận diễn dịch đó là những thông tin chứa đựng trong kết luận không được nhiều hơn thông tin đã có trong các tiền đề Như đã được học ở phần phán đoán, ta đều biết rằng, một từ chu diên trong phán đoán thì các đối tượng mà nó phản ánh sẽ có lượng thông tin đầy đủ và ngược lại Như vậy, người ta dễ dàng suy ra được quy tắc 3
Trang 12* Quy tắc 4: Trung từ phải chu diên ít nhất một lần trong tiền đề
Theo quy tắc này, trung từ phải chu diên ít nhất ở một tiền đề, như vậy quan hệ giữa các đối tượng được cặp thuật ngữ M – P, M – S phản ánh sẽ xác định chính
xác “Cụ thể là khi biết đối tượng a có tính chất M, ta hoàn toàn không biết đối
tượng a có tính chất S và tính chất P hay không Vì vậy, M không làm được vai trò trung gian giữa S và P.” 5
2.2.2 Các quy tắc đối với mệnh đề:
* Quy tắc 1: Có ít nhất một trong hai tiền đề là phán đoán khẳng định
Điều này là đương nhiên, bởi vì trung từ đóng vai trò là cầu nối giữ đại thuật ngữ và tiểu thuật ngữ, một khi cả hai tiền đề đều là phán đoán phủ định, trung từ
sẽ hoàn toàn không có quan hệ gì với các phần đối tượng phản ánh tương ứng của đại thuật ngữ và tiểu thuật ngữ, như vậy ta không thể rút ra được kết luận
Ví dụ 7: Dạy học không phải là lao động chân tay
Dạy học không phải là công việc đơn giản
Không thể rút ra bất cứ kết luận nào từ hai tiền đề trên, vì ta không biết được
mối quan hệ giữa lao dộng chân tay và tính chất đơn giản hay phức tạp của công việc
* Quy tắc 2: Có ít nhất một trong hai tiền đề là phán đoán toàn thể
Trong tam đoạn luận, nếu cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận thì ta không thể rút ra được kết luận Ít nhất một trong chúng phải là phán đoán toàn thể
Ví dụ 8: Một số sinh viên là sinh viên giỏi
Một số vận động viên là sinh viên
Cả hai tiền đề trên đều là phán đoán bộ phận, đại thuật ngữ và tiểu thuật ngữ chỉ có quan hệ với nhau một phần thông qua trung từ, phần còn lại ta không thể
5 Phạm Đình Nghiêm (2009), Nhập môn logic học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 102
Trang 13xác định được quan hệ bởi chúng không có liên hệ với trung từ Và kết luận thu được sẽ không được logic
* Quy tắc 3: Từ một trong hai tiền đề là phán đoán bộ phận thì kết luận phải
là phán đoán bộ phận và từ một trong hai tiền đề là phán đoán phủ định thì kết luận phải là phán đoán phủ định
Ví dụ 9: Một số nữ sinh là đoàn viên
Tất cả đoàn viên đều có sổ đoàn
Vậy, một số người có sổ đoàn là nữ sinh
Đối với ví dụ trên, cả đại tiền đề và tiểu tiền đề đều chỉ có một phần đối tượng được xét đến ở tiền đề nên trong kết luận các lớp đối tượng chỉ được đề cập dưới
dạng phán đoán bộ phận để đảm bảo tính nhất quán và có căn cứ của nhận thức
* Quy tắc 4: Từ hai tiền đề là phán đoán phủ định thì không rút ra được kết
luận và từ hai tiền đề là phán đoán bộ phận thì cũng không rút ra được kết luận
Quy tắc này xét về ý nghĩa giống với quy tắc số 1 với cách giải thích tương tự
2.2.3 Các quy tắc hình:
Đối với hình 1, ta có hai quy tắc:
Quy tắc 1.1 Đại tiền đề là phán đoán toàn thể
Quy tắc 1.2 Tiểu tiền đề là phán đoán khẳng định
Đối với hình 2, ta cũng có hai quy tắc:
Quy tắc 2.1 Đại tiền đề là phán đoán toàn thể
Quy tắc 2.2 Một trong hai tiền đề là phán đoán phủ định
Hình 3 có hai quy tắc:
Quy tắc 3.1 Tiểu tiền đề là phán đoán khẳng định