Tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triển, ý nghĩa văn hóa tốt đẹp của ngày giỗ tổ Hùng Vương qua đó chứng minh đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam, vốn có từ rất lâu đời và trở thành bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc ta. Trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa lễ hội và tín ngưỡng, vai trò của lễ hội đối với bảo tồn di sản trong giai đoạn hiện nay, đề tài nhằm phân tích, đánh giá thực trạng việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa lễ hội để phát triển kinh tế, làm rõ hơn những giá trị của các di sản văn hóa lễ hội Đền Hùng đối với tín ngưỡng của nhân dân, từ đó xuất các giải pháp nhằm phát huy các giá trị của lễ hội trên địa bàn tỉnh phú thọ góp phần phát triển đời sống tín ngưỡng và phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Như ông cha thường nói: “Sông có nguồn, cây có cội, con người có tổ có tông” Từ bao đời nay, trong tâm niệm của người Việt giỗ tổ Hùng Vương là thiêng liêng, cao cả không thể lãng quên:
“Dù ai đi gần về xa Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Câu ca dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi sâu vào lòng người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong sâu thẳm tâm thức của mỗi người dân đất Việt từ miền ngược đến miền xuôi, từ miền Nam ra miền Bắc, đều có ý thức tìm về cội nguồn của dân tộc Hàng ngàn năm nay, truyền thống Giỗ Tổ Hùng Vương tưởng nhớ cha Rồng, mẹ Tiên và mười tám đời vua Hùng đã trở thành biểu tượng văn hoá tâm linh, tín ngưỡng, điểm hội tụ tinh thần đại đoàn kết của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nơi để đồng bào cả nước và Kiều bào ta ở nước ngoài có điều kiện thắp những nén nhang bày tỏ lòng thành kính của mình trước anh linh của các vị Vua Hùng
Tín ngưỡng thờ Quốc Tổ Hùng Vương trên đất nước ta có mối quan hệ mật thiết với truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, phải nói rằng tín ngưỡng thờ Quốc Tổ ở Việt Nam
có cơ sở nguồn gốc từ truyền thuyết về thời đại Hùng Vương Phải có truyền thuyết với những nhân vật, địa danh lịch sử cụ thể về thời đại Hùng Vương thì mới có nghi lễ, niềm
Trang 2tin thiêng liêng về ngày giỗ Tổ, mới có những hoạt động lễ hội làm sống lại và tưởng nhớ các vua Hùng dựng nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triển, ý nghĩa văn hóa tốt đẹp của ngày giỗ
tổ Hùng Vương qua đó chứng minh đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam, vốn có từ rất lâu đời và trở thành bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc ta Trên cơ sở làm
rõ mối quan hệ giữa lễ hội và tín ngưỡng, vai trò của lễ hội đối với bảo tồn di sản trong giai đoạn hiện nay, đề tài nhằm phân tích, đánh giá thực trạng việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa lễ hội để phát triển kinh tế, làm rõ hơn những giá trị của các di sản văn hóa lễ hội Đền Hùng đối với tín ngưỡng của nhân dân, từ đó xuất các giải pháp nhằm phát huy các giá trị của lễ hội trên địa bàn tỉnh phú thọ góp phần phát triển đời sống tín ngưỡng và phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững
Trang 3CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHONG
TỤC GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn nhằm tưởng nhớ và
tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc
“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”
Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam
Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng Lễ hội Đền Hùng còn được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày
mồng mười tháng ba âm lịch hàng năm tại Đền
Hùng, Việt Trì, Phú Thọ Trước đó hàng tuần, lễ hội
đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hoá dân gian và
kết thúc vào ngày mười tháng ba âm lịch với Lễ
rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng
Theo Giáo sư sử học Lê Văn Lan, câu ca dao
“Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng
Mười tháng Ba” nằm trong một bài ca gồm bốn câu
Hai câu tiếp theo ở cuối bài là “… Khắp miền
Trang 4truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm” Đó là một bài ca mà từ cú pháp đến thi pháp đều khá mới mẻ Đặc biệt, ý tứ của câu cuối cùng khá gần gũi với những sáng tác trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, thường dùng chủ đề Hùng Vương và Đền Hùng để cổ vũ niềm tin vào vận mệnh non sông, chẳng hạn như những câu đối của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
“Có tổ có tông, có tông có tổ, tổ tổ tông tông, tông tổ cũ
Còn non còn nước, còn nước còn non, non non nước nước, nước non nhà”
Hoặc như của Vũ Đình Khôi:
“Cháu chắt còn, tông tổ hãy còn, nòi giống nhà ta sinh sản mãi
Nắng mưa thế, miếu lăng vẫn thế, non sông đất nước vững bền lâu”!
Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương, từ xa xưa, chọn nhật kỳ tiến hành vào mùa thu, là mùa tổ chức các lễ hội có lịch sử cổ xưa hơn các lễ hội mùa xuân Đến năm 1917 mới có quy định chính thức của triều Nguyễn (đời vua Khải Định) lấy ngày mồng Mười tháng Ba hàng năm làm ngày “quốc tế” (Quốc lễ, quốc giỗ) Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ (là) Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ mười tám một ngày Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”
Định kì mồng Mười tháng Ba (âm lịch) làm ngày giỗ Tổ Hùng Vương, vậy là chỉ bắt đầu từ năm 1917 Tuy nhiên, với tuổi gần trăm năm, với tinh thần kế thừa truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhất là ý thức về nguồn, chung cội được tăng cường mạnh mẽ trong điều kiện lịch sử hiện tại Mồng Mười tháng Ba đã trở thành một ngày Quốc lễ, một ngày thiêng liêng trọng đại đối với cả dân tộc: Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
Trang 5Từ xa xưa Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “ Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi ”
Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày mười tháng ba âm lịch Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính
Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ hai (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày mười tháng ba âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc
lễ, Quốc giỗ) Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân
sở tại làm lễ” Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày mười tháng ba âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có hai lần về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962) Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước -Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù đang sống và làm việc ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều
Trang 6nhìn về cùng một hướng Trong ngày này, nhân dân cả nước còn có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước
Trong hồ sơ đề trình UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hoá thế giới đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong năm tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó Vì vậy, ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
1.2 Mối quan hệ giữa truyền thuyết và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Từ truyền thuyết về thời Hùng Vương, người Việt đã dựng lên cho ông Tổ của mình một lý lịch hoàn chỉnh, có cả ngày mất (kỵ)
Tín ngưỡng và đức tin tâm linh vào ngày giỗ Tổ của người Việt bắt nguồn từ truyền thuyết thời Hùng Vương Từ đó mà hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ Quốc Tổ với
Trang 7niềm tôn kính thiêng liêng, trong tín ngưỡng này đạo lý là nội dung nổi trội Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên đã có công dựng nước Mặt khác, thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối ơn đức của của
tổ tiên, ơn đức các vua Hùng Trách nhiệm của mỗi người Việt Nam được biểu hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các hành vi cúng tế cụ thể Cây có gốc Nước có nguồn Chim tìm tổ Người tìm tông Ngày mồng mười tháng ba hàng năm cả nước hướng
về vùng Đất Tổ, người người trẩy hội Đền Hùng Lễ hội Đền Hùng đã trở thành ngày hội chung của toàn dân
Sở dĩ niềm tin vào Quốc Tổ Hùng Vương có sức sống lâu bền trong lòng dân tộc Việt Nam, một phần do có những câu chuyện truyền thuyết về thời các vua Hùng được sáng tác và truyền lưu rộng rãi đã phủ lên các vua Hùng Vương vầng hào quang huyền thoại linh thiêng Truyền thuyết thời các vua Hùng dựng nước làm xương cốt, bệ đứng, chỗ dựa cho niềm tin vào Quốc Tổ, còn niềm tin cùng những hành động nghi lễ, lễ hội tưởng niệm làm sống động, phong phú hơn nội dung truyền thuyết về Quốc Tổ Hùng Vương Mối quan hệ đó giữa tín ngưỡng thờ Quốc Tổ và truyền thuyết lịch sử về thời đại Hùng Vương song song tồn tại, hòa quyện chặt chẽ, thẩm thấu qua nhau trong sinh hoạt cộng đồng người Việt Nam như một chỉnh thể không thể tách rời
Trang 8CHƯƠNG 2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRONG NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
2.1 Lễ
Hội Đền Hùng có nhiều hoạt động văn hóa trong đó có các hoạt động phục vụ việc lễ
và những trò vui giải trí phục vụ người dự hội Khi xưa trong lễ hội có diễn xướng mô phỏng lại cảnh sinh hoạt thời dựng nước như cảnh đi săn, rước voi, chạy địch, rước lúa Thần (trò Trám- Tứ Xã), rước chúa gái ( Ngọc Hoa) Không chỉ có xã sở tại Hy Cương làm giỗ mà nhiều xã khác ở Lâm Thao, Phù Ninh cũng thờ Hùng Vương, vợ con tướng lĩnh Vua Hùng cũng mở hội tại làng và rước kiệu về Đền Hùng Xưa này có đến mấy chục cỗ kiệu được rước từ đình làng các xã đến chầu ở Đền Hùng Kiệu được xếp hàng ở chân núi để chấm giải Kiệu nào được giải nhất lần sau được rước lên Đền Thượng
Một đám rước như vậy được các làng, xã tổ chức rất công phu gồm ba kiệu đi liền nhau
Cỗ kiệu đầu đầy hương hoa, đèn nến, trầu cau, bình nước, nậm rượu Cỗ kiệu thứ hai rước bài vị thánh có lọng vàng che Cỗ thứ ba rước bánh chưng, bánh dầy hoặc xôi, thủ lợn Tiếng trống tiếng chiêng trang nghiêm thôi thúc, phường bát âm hòa tấu nhịp nhàng theo điệu Lưu thủy hành vân, trai thanh mang đồ tế khí, nữ tú mang hương hoa, hộp trầu, quạt; các bô lão và các chức dịch hàng đôi trang nghiêm trước sau kiệu Có thể nói khắp con
Trang 9đường vào hôi rực rỡ sắc màu, rộn một không khí vừa trang nghiêm vừa huyền bí, vừa náo nức lòng người
2.2 Hội
Hội đền Hùng xưa có khá nhiều trò chơi: đu tiên, ném còn, tổ tôm múa rối, cờ tướng,
cờ người, kéo lửa nấu cơm thi Đặc biệt là hát xoan của các phường Xoan gốc Kinh Đức,
An Thái trình diễn ở đền Thượng Ngoài hát xoan còn có hát nhà tơ của phường Do Nghĩa, Trinh Nữ tham gia hát thờ Trai gái đến hội Hùng còn hát ví giao duyên có khi cuộc hát kéo dài hết đêm
Đu tiên trong Hội là trò chơi có sức thu hút thanh niên nam nữ Đu tiên là hình thức đu
xe làm theo hình chiếc bàn đu, mỗi bàn có một cô gái xinh đẹp của xã sở tại mang y phục
lễ hội, đội mũ hoa sen Các cô gái vừa đu và hát ví giao duyên với các chàng trai dự hội Trò bách nghệ khôi hài (trò Trám) của Tứ Xã cũng thu hút rất nhiều người xem Đây là loại trò diễn trình nghề "tứ dân": Sĩ, Nông, Công, Thương với những trang phục, câu nói của người tham gia đóng các nhân vật gây cười, mua vui cho dân làng và những người dự hội
Một số các hoạt động vui chơi và hội thi trong ngày hội
Trang 10Hội Đền Hùng còn có trò diễn dân gian của đồng bào Mường- Thanh Sơn, Yên Lập: Chàm thau, đâm đuống, biểu diễn cồng chiêng đã đem đến lễ hội những âm thanh rộn rã, gợi nhớ hình bóng xã hội Hùng Vương thuở xưa Ngày nay, hội Đền Hùng ngoài các sinh hoạt văn hóa văn nghệ trò diễn dân gian, đặc sắc của vùng Đất Tổ như: gói bánh chưng, hát xoan, đánh trống đồng, đâm đuống, biểu diễn cồng chiêng, cờ người, rước kiệu còn có biểu diễn nghệ thuật của đoàn chèo và kịch nói, đốt cây bông, thả đèn trời ở khu trung tâm lễ hội; về hoạt động thể thao có bắn nỏ, cờ tướng cờ người…
Về Phú Thọ trong những ngày hội làng và nhất là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, khách thập phương được chứng kiến những cảnh sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú, hấp dẫn Nổi bật là hình thức diễn tấu trống đồng - một biểu hiện rực rỡ của nền văn mình nông nghiệp thời các Vua Hùng dựng nước Ngày xưa trống đồng được cất giữ trong các gia đình lang đạo Mường và chỉ đem ra đánh vào dịp hội hè tế lễ Khác với những hội cồng, chiêng để cầu sinh sôi nảy nở, hội đánh trống đồng nhằm mục đích cầu mưa và cầu dứt mưa Trên mặt trống có tượng cóc gắn với quan niệm cổ truyền "Con Cóc là cậu ông Trời", biểu hiện sự cầu mong mưa gió thuận hòa để làm ăn được thuận lợi dễ dàng Âm thanh của trống đồng nghe náo động và hùng vĩ, có sức cuốn hút mọi người Trống đồng thuộc loại nhạc cụ không định âm, dùng tiết tấu để hòa tấu và đệm cho hát múa Trong ngày hội đánh trống đồng những người đánh trống đều ăn mặc, hóa trang mô phỏng trang phục của hình người khắc trên trống đồng xưa
Trang 11CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM GÌN GIỮ, PHÁT HUY VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ “LỄ HỘI ĐỀN HÙNG”
3.1 Giỗ tổ Hùng Vương – Cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt Nam
3.1.1 Gìn giữ nét đẹp văn hóa của Lễ hội Đền Hùng
Trên thế giới, khó tìm thấy đất nước nào mà cả dân tộc cùng thừa nhận một tổ tiên chung, cùng thờ cúng một con người cụ thể, là vị vua đầu tiên lập nên Nhà nước Văn Lang - Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, trải qua mười tám đời cha truyền con nối; từ
đó có chung một ngày Giỗ Tổ như dân tộc ta Từ huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên rừng, đã khơi dậy ý thức về cội nguồn dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là khởi nguồn của tình yêu thương, đùm bọc, tạo nên sức mạnh Việt Nam Vì vậy, lễ hội Đền Hùng có một đặc thù riêng là phần lễ nặng hơn phần hội Điều đó nói lên những người tới dự hội tâm tưởng luôn hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc
Dân gian có câu " Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba." Ngày giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành ngày lễ truyền thống trọng đại của dân tộc Đền Hùng