1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tiểu luận TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

25 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 655,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kế hoạch học tập thích hợp” và “việc hiểu được tính chất xã hội của dạy học và ảnhhưởng to lớn của xã hội với nhà trường sẽ giúp GV điều khiển QTDH thuận lợi”.Tích cực hoá hoạt động nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA VẬT LÝ - -

BÀI TIỂU LUẬN

THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

Giảng viên giảng dạy : PGS TS Lê Văn Giáo

Trang 2

MỞ ĐẦU

Chúng ta đang ở vào giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế - xã hội sâurộng Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển, lượng thông tin khổng lồ, công nghệthông tin có những bước tiến như vũ bão,… kéo theo yêu cầu đối với con ngườingày một cao hơn Trong tình hình đó, nhiệm vụ của giáo dục càng nặng nề thêm.Mục đích cuối cùng của giáo dục là đào tạo ra những con người có nhân cách hoànthiện, thích ứng với mọi hoàn cảnh và biến đổi của xã hội Trước yêu cầu đổi mớigiáo dục thì việc tích cực hóa HĐNT của HS càng trở nên bức thiết hơn

Nếu bạn làm việc (học tập) tích cực thì kết quả thường như thế nào? Rất tốt và

ít nhất bạn cảm thấy hưng phấn để tiếp tục làm (học) những việc tiếp theo Nếu bạnluôn làm việc tích cực chắc chắn công việc của bạn sẽ trôi chảy, tiến bộ nhanh, đượcnâng lương, thăng chức, cảm thấy hạnh phúc hơn, cuộc sống sung túc hơn… Nếubạn luôn học tập tích cực thì tất nhiên bạn sẽ phát triển tư duy, có kết quả tốt, có họcbổng, điểm cao,… Tại sao lại không truyền tính tích cực đó cho học sinh (HS)?

Nếu HS luôn tích cực trong hoạt động nhận thức thì tính tích cực sẽ được rènluyện thường xuyên, dần trở thành một phần tính cách của HS, về sau các em sẽ dễthành công trong cuộc sống, hữu ích cho xã hội

Là giáo viên, tôi nhận thấy sự cần thiết của việc tích cực hoạt động nhận thức

của học sinh Vậy nên tôi xin trình bày bài viết về “Một số vấn đề liên quan đến

việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lý”.

Trang 3

1.1.1.1 Bản chất của quá trình dạy học

Quá trình dạy học là một quá trình đặc biệt, trong đó HS vừa là khách thể vừa

là chủ thể chiếm lĩnh tri thức Bản thân người học (chủ thể) không tích cực thìkhông thể thực hiện tốt việc học tập

Khi bàn về phương pháp giáo dục J.Piaget đã rất nhấn mạnh đến vai trò hoạtđộng của HS Ông nói: “Trẻ em được phú cho tính hoạt động thực sự và giáo dụckhông thể thành công nếu không sử dụng và không thực sự kéo dài tính hoạt độngđó”

Như vậy có thể nói sự hoạt động của trẻ trong quá trình giáo dục và giáodưỡng là yếu tố không thể thiếu được và theo tôi để kéo dài hoạt động đó thì việctích cực hoá được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất

Mặt khác, quá trình dạy học có tính nhiều mặt Quá trình dạy học chứa đựngtrong nó nhiều quá trình khác nhau như: quá trình nhận thức, quá trình tâm lý vàquá trình xã hội Các quá trình này luôn tồn tại trong hoạt đông dạy học, chúng tácđộng qua lại lẫn nhau và tạo nên hiệu quả của quá trính dạy học (QTDH)

* Dạy học là một quá trình tâm lý

Chủ thể của QTDH là con người Các yếu tố tâm lý như cảm giác, tri giác, ghinhớ, động cơ, hứng thú, ý chí… không thể tách rời quá trình dạy học

Trong dạy học, vấn đề xây dựng động cơ, phát triển hứng thú học tập của HS

có một ý nghĩa rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập.Trong dạy học, bên cạnh quá trình nhận thức chúng ta cần chú ý đến quá trình diễnbiến tâm lý trong tư duy HS Quá trình tâm lý và quá trình nhận thức có mối liên hệchặt chẽ với nhau trong hoạt động học tập Do đó cần phải tạo ra quá trình tâm lýtích cực trong QTDH nhằm làm biến đổi cấu trúc tư duy và đưa đến sự phát triểncủa HS

* Dạy học là một quá trình nhận thức

Trang 4

Mục đích của dạy học là giúp HS lĩnh hội tri thức, phát triển tư duy, trí tuệ vàtình cảm Vì thế QTDH trước hết phải là quá trình nhận thức Đó là quá trình nhậnthức có chọn lọc, không phải cái gì cũng đem dạy cho HS và không phải cái gì cũngđược HS tiếp nhận Quá trình nhận thức của HS phải là một quá trình đi từ việc giảiquyết mâu thuẫn này đến mâu thuẫn khác, từ đó tư duy của HS sẽ được phát triển.Mục đích của dạy học là đem đến sự phát triển toàn diện cho HS Điều đó nóilên rằng giữa dạy học và phát triển có mối quan hệ với nhau Đó là mối quan hệ haichiều, biện chứng: Trước hết phát triển là mục đích cuối cùng của hoạt động dạyhọc, đồng thời khi tư duy HS phát triển thì việc thu nhận và vận dụng kiến thức của

HS sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn, quá trình dạy học diễn ra một cách thuận lợihơn Nghĩa là sự hoạt động và trí tuệ của con người có mối quan hệ mật thiết vớinhau Không có hoạt động thì trí tuệ không thể phát triển tốt được, bởi vì “Trí tuệ cóbản chất hoạt động, không phải cái gì cũng “nhất thành bất biến”, trí tuệ được hìnhthành dần trong mỗi hoạt động cá nhân”

kế hoạch học tập thích hợp” và “việc hiểu được tính chất xã hội của dạy học và ảnhhưởng to lớn của xã hội với nhà trường sẽ giúp GV điều khiển QTDH thuận lợi”.Tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là một trong những nhiệm vụ củathầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chấtlượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạyhọc hiện nay thì việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là một vấn đề đượcđặc biệt quan tâm Nhiều nhà vật lý học trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếmcon đường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, nhiều công trìnhluận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này Tất cả đều hướng tới việcthay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạyhọc nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó

HS chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cựctham gia tìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sangvai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để HS tự mình khám phá kiến thức mới

Trang 5

Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS sẽ góp phần làm cho mốiquan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn Tíchcực hoá vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó góp phần rènluyện cho HS những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ, năng động, sángtạo Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phải hướng tới.

Tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là biện pháp phát hiện những quanniệm sai lệch của HS qua đó thầy giáo có biện pháp để khắc phục những quan niệm

đó Vì thế việc khắc phục những quan niệm của HS có vai trò quan trọng trong nhàtrường nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS

1.1.1.2 Theo tâm lý học

Theo triết học, sự vật chỉ phát triển trong sự vận động Mục đích của quá trìnhdạy học là nhằm giúp HS phát triển toàn diện Như vậy, để quá trình này diễn rathuận lợi và đạt kết quả tốt thì bản thân HS phải vận động, phải tích cực hoạt động.Theo Vưgôtxki dạy học phải đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển.Nghĩa là trong dạy học người thầy phải đặt ra cho người học một nhiệm vụ cao hơntrình độ của họ (nhiệm vụ chứa đựng một khó khăn cần giải quyết) Dưới sự hướngdẫn, giúp đỡ của thầy giáo, các em tự vươn lên giải quyết được nhiệm vụ học tập vàđạt được trình độ mới Khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người học và nhiệm

vụ học tập đặt ra mà người học có thể giải quyết được với sự nỗ lực cố gắng củamình, Vưgôtxki gọi đó là vùng phát triển gần

Xuất phát từ luận điểm khoa học đó, Vưgôtxki cho rằng vùng phát triển gần làchỗ tốt nhất cho sự phát triển nhận thức Vùng phát triển gần là khoảng nằm giữatrình độ phát triển hiện tại được xác định bằng trình độ độc lập giải quyết vấn đề vàtrình độ gần nhất mà các em có thể đạt được với sự giúp đỡ của người lớn hay bạn

bè khi giải quyết vấn đề

Lý thuyết này chỉ ra rằng trẻ em khác nhau có vùng phát triển gần nhất rấtkhác nhau và nó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sư phạm và trình độ chuyên môncủa thầy giáo, phụ thuộc vào cách đặt ra nhiệm vụ học tập trước người học thôngqua nghệ thuật nêu vấn đề, nghệ thuật tạo tình huống và nghệ thuật đặt câu hỏi Đặcbiệt phụ thuộc vào thái độ tích cực tham gia hoạt động nhận thức của HS Việc tíchcực hoạt động của HS sẽ làm cho vùng phát triển gần của chính họ được mở rộngqua đó trình độ của HS được phát triển một cách tích cực, chủ động Đây chính là

cơ sở cho việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học.Theo Jean Piaget, trí tuệ con người hình thành trong một quá trình lâu dàithông qua những hoạt động của giác quan và vận động, kết hợp với những hoạtđộng của tư duy Trí óc con người không phải là cái tủ nhiều ngăn, cứ nhét vàonhiều đồ vật chừng nào hay chừng ấy Lí thuyết của J Piaget đề cao vai trò tích cực

Trang 6

của người học trong việc tạo sự thích nghi và cân bằng trước tự nhiên TheoJ.Piaget, mỗi khi có sự mất cân bằng xuất hiện, thì sự cân bằng phải được tạo qua

cơ chế đồng hoá và điều ứng để thích nghi

Trong dạy học, khi người học tiếp nhận thông tin thường đưa đến sự mất cânbằng về nhận thức Những điều mà họ được tiếp nhận trở nên mới mẻ so với những

gì đã biết, sẽ tạo nên mâu thuẫn về nhận thức trong tư duy người học (hay ta nói có

sự mất cân bằng về nhận thức) Thông qua cơ chế đồng hoá và điều ứng (tìm nhữngđiểm giống nhau và thay đổi những cái tương tự, những cái gần giống nhằm tạo ranhững cái mới có thể tiếp nhận được sau đó sắp xếp lại theo một trật tự thích hợpvới một cấu trúc mới) sẽ làm cho người học có sự thích nghi và đưa đến sự cânbằng trong nhận thức của họ Muốn quá trình điều ứng và đồng hóa diễn ra mộtcách nhanh chóng thì nhất định bản thân người học phải hoạt động tích cực

Như vậy, xuất phát từ cơ sở triết học, từ lý thuyết "vùng phát triển gần nhất"của Vưgôtxki và lý thuyết "cân bằng" của J Piaget cho thấy việc tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của HS trong quá trình dạy học là hết sức cần thiết HS thông quahoạt động của mình mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trítuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ của bản thân

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

1.1.2.1 Yêu cầu đổi mới mục tiêu giáo dục trong thời đại hiện nay

Sự phát triển KT-XH trong bối cảnh toàn cầu hóa đòi hỏi Ngành giáo dục phảithay đổi một cách toàn diện về mục tiêu, chương trình, nội dung và PPGD cũng nhưPPDH nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân lực trong thời đại CNH-HĐH

Nghị quyết lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ “cần phải đổi

mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học …Áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.

Chỉ thị 15/1999/CT-Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã nêu rõ yêu cầu của dạy học hiện nay là: “Phải đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên ”.

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã

nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với

đặc trưng của môn học, đặc điểm của đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học Bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận

Trang 7

dụng kiến thứcvào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.

Luật giáo dục, điều 28 đã qui định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS” Chỉ thị 15/1999/CT-Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã nêu rõ yêu cầu của dạy học hiện nay là: “Phải đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên ”.

1.1.2.2 Nhu cầu phát triển và hội nhập của xã hội

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trìnhhội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủphẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người laođộng phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạotri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đápứng yêu cầu của xã hội

Giáo dục không chỉ phục vụ số đông mà còn phục vụ cho nhu cầu của sốđông: nhu cầu về các lĩnh vực khác nhau, một người không chỉ giới hạn hiểu biết ởmột lĩnh vực mà có nhu cầu hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau, làm nhiều nghềkhác nhau Theo đó, giáo dục cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng cần thiết,với những khoảng thời gian linh hoạt, phù hợp, tôn trọng nhu cầu của mọi người.Con người vốn có sẵn tiềm năng, giáo dục cần và có thể khai thác tối đa tiềm năng

đó, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo Vì vậy có thể nói học tập là sáng tạo Giáo dụcgiúp con người qua học tập trở thành con người có tri thức và kỹ năng mới, tạo điềukiện cho con người thể hiện mình trên các lĩnh vực, phát triển nhân cách con người.Trên cơ sở hiểu biết, con người sống tốt hơn, có ích hơn cho bản thân và cộng đồng

1.1.2.3 Thời đại bùng nổ thông tin

Thời đại ngày nay lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hơn gấp nhiều lầnvài chục năm trước đây Khoa học phát triển mạnh mẽ kéo theo sự phát triển củanhiều ngành mới, cùng với đó là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin.Kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học Trẻ em ngày nay thu lượmkiến thức rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt, mỗi trẻ

em có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau Việc sử dụng côngnghệ mới khiến trẻ có khả năng giải quyết vấn đề và xử lý nhiều thông tin cùng một

Trang 8

lúc Nếu như dạy học không quan tâm đến đặc điểm của người học, giáo viên truyềnthụ một chiều, dạy kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năngtiếp thu của người học, người học hoàn toàn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thứcđồng thời cuãng sẽ thụ động trước những thách thức khó khăn của cuộc sống.

1.1.2.4 Thực trạng giáo dục hiện nay.

Hiện tại, giáo dục đã qua một số năm thực hiện đổi mới và đã thu được một sốkết quả khả quan, có mang lại hiệu quả Tuy nhiên, truyền thụ một chiều vẫn làphương pháp chủ đạo của nhiều giáo viên Số giáo viên thường xuyên chủ động,sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cuãng như sử dụng cácphương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS còn chưanhiều Dạy học vẫn nặng nề truyền thụ kiến thức lý thuyết Mặt khác, việc kiểm trađánh giá chưa đảm bảo yêu cầu khách quan, chính xác, công bằng, chưa rèn luyệnđược năng lực cần thiết cho HS Thực trạng này dẫn đến hệ quả nhiều HS phổ thôngcòn thụ động trong việc học tập, khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đãhọc để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế

Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, ở

đó con người có phong cách làm việc chậm rãi, thiếu tính tích cực, chủ động Điềunày ăn sâu vào tâm lý và ý thức của HS, làm các em có thói quen không tích cực từnhỏ, từ đó ảnh hưởng đến việc học tập trên lớp cũng như tác phong làm việc khitrưởng thành Vậy nên, càng cần phải tích cực hóa hoạt động nhận thức của các em

để thay đổi căn bản các thói quen này

Vây, mục đích của giáo dục là làm cho trẻ nhỏ tự chủ, phát triển tối đa tríthông minh, khả năng phán đoán, khả năng tư duy độc lập và phản biện Đây lànhững phương tiện quan trọng để các em tự tạo ra kiến thức cho mình, tạo ra thóiquen tự học không phải chỉ trong nhà trường mà suốt đời Tự chủ trong việc học tập

sẽ tạo thành tập tính nơi HS khi trưởng thành Người công dân tương lai sẽ có đủkhả năng làm chủ chính mình, làm chủ cuộc sống của mình, có khả năng tự thayđổi, biết phát hiện và có khả năng giải quyết, khắc phục những khó khăn - nhữngvấn đề do cuộc sống đặt ra cho cho mình, cũng như cho môi trường sống xungquanh

1.2 Hoạt động nhận thức vật lý

1.2.1 Hoạt động nhận thức vật lý

Vật lý học là bộ môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc, tính chất và các hìnhthức biến đổi cơ bản nhất của vật chất Quá trình nhận thức vật lý khá phức tạp,

Trang 9

cùng một lúc phải vận dụng nhiều phương pháp của riêng bộ môn vật lý cũng nhưphương pháp của các khoa học khác Muốn hoạt động nhận thức vật lý có kết quảtrước hết phải quan tâm đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao táctrên Bên cạnh đó phải có phương pháp suy luận, có khả năng tư duy trừu tượng, tưduy logic, tư duy sáng tạo.

– Xác định mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng

– Xây dựng những giả thiết hay mô hình để lý giải nguyên nhân của hiệntượng quan sát được Từ giả thiết, mô hình suy ra những hệ quả

– Xây dựng các phương án thí nghiệm để kiểm tra các hệ quả

– Đánh giá kết quả thu được từ thí nghiệm

– Khái quát hóa kết quả, rút ra tính chất, quy luật hình thành các khái niệm,định luật và thuyết vật lý

– Vận dụng kiến thức khái quát vào thực tiễn

1.3 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS

1.3.1 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS

Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS là một hiện tượng sư phạmbiểu hiện ở sự cố gắng hết sức cao về nhiều mặt trong hoạt động nhận thức của trẻnói chung Tính tích cực hoạt động học tập là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong

tư duy, đòi hỏi một quá trình hoạt động "bên trong" hết sức căng thẳng với một nghịlực cao của bản thân, nhằm đạt được mục đích là giải quyết vấn đề cụ thể nêu ra

Trang 10

Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS thể hiện ở những hoạt độngtrí tuệ là tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giảihay của một bài toán khó cũng như hoạt động chân tay là say sưa lắp ráp tiến hànhthí nghiệm Trong học tập hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau tuy cólúc biểu hiện riêng lẻ Các dấu hiệu về tính tích cực trong hoạt động nhận thức của

HS thường được biểu hiện:

– HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổsung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đềnêu ra

– HS hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề các em chưarõ

– HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã có để nhậnthức các vấn đề mới

– HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới nhận

từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học

Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS phổ thông có thể phân biệt theo 3 cấp độ sau:

- Sao chép, bắt chước: Kinh nghiệm hoạt động bản thân HS được tích luỹdần thông qua việc tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên và bạn bè Tronghoạt động bắt chước cũng có sự gắng sức của thần kinh và cơ bắp

- Tìm tòi, thực hiện: HS tìm cách độc lập suy nghĩ để giải quyết các bài tậpnêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau và từ đó tìm ra lời giải hợp lý nhất chovấn đề nêu ra

- Sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải mới, độc đáo, hoặc cấu tạo những bài tậpmới cũng như cố gắng tự lắp đặt những thí nghiệm để chứng minh cho bài học Lẽđương nhiên là mức độ sáng tạo của HS có hạn nhưng đó là mầm móng để pháttriển tính sáng tạo về sau

1.3.2 Những đặc trưng của tích cực hoá hoạt động nhận thức

Tích cực hóa hoạt động nhận thức trong học tập của HS thực chất là tập hợpcác hoạt động nhằm chuyển biến vị trí từ học bị động sang chủ động, tự bản thân đitìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

Trang 11

Đặc trưng cơ bản của tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trìnhhọc tập là sự linh hoạt của HS dưới sự định hướng, tổ chức của người tự từ bỏ vai

trò chủ thể (giáo viên) với mục đích cuối cùng là HS tự mình khám phá ra kiến thức

cùng với cách tìm ra kiến thức Trong quá trình dạy học, để phát huy tính tích cựctrong hoạt động nhận thức của HS thì quá trình dạy học đó phải diễn biến sao cho:

– HS được đặt ở vị trí chủ thể, tự giác, tích cực, sáng tạo trong hoạt độngnhận thức của bản thân

– Giáo viên là người định hướng trong hoạt động dạy học

– Quá trình dạy học phải dựa trên sự nghiên cứu những quan niệm, kiếnthức sẵn có của người học, khai thác những thuận lợi đồng thời nghiên cứu kỹnhững chướng ngại có khả năng xuất hiện trong quá trình dạy học

– Mục đích dạy học không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo mà còn phải dạy cho HS cách học, cách tự học, tự hoạt động nhận thứcnhằm đáp ứng các nhu cầu của bản thân và xã hội

1.4 Dạy học vật lý theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức

1.4.1 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng tích cực

Khi nói tới phương pháp tích cực, thực tế là nói tới một nhóm các phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS

Trong quá trình dạy học cần kích thích sự hứng thú trong học tập cho HS, cầnphát huy tính tích cực, tính tự lực sáng tạo trong học tập của HS Để làm điều đó đòihỏi người thầy giáo phải lựa chọn, tìm tòi những phương pháp dạy học phù hợp vớinội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất, và đây là một hoạtđộng sáng tạo của người thầy trong hoạt động dạy Phương pháp dạy học theohướng tích cực cần thể hiện được sự phản ánh quá trình hoạt động nhận thức của

HS nhằm đạt được mục đích đã đề ra trong đó giáo viên tổ chức cho HS hoạt độngtheo hướng tích cực, giúp HS tự giác tiếp nhận kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm đạtđược mục đích đề ra với kết quả cao

1.4.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học theo hướng tích cực

Phương pháp dạy học theo hướng tích cực có những điểm mạnh riêng của nó

mà các phương pháp khác không thể có được, đó là HS lĩnh hội kiến thức bằngchính sự hoạt động tích cực cao độ của bản thân, tự họ chủ động sáng tạo nên các

Trang 12

vấn đề, các tình huống để nghiên cứu Phương pháp dạy học theo hướng tích cựcthể hiện bởi các đặc trưng cơ bản sau:

1.4.2.1 Dạy học hướng vào HS

Dạy học hướng vào HS là lối dạy học do người học chủ động điều khiển, cánhân của người học vừa là mục đích vừa là chủ thể của quá trình học tập để chotiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ

Phương pháp dạy học tích cực đề cao vai trò chủ thể của người học, xem HSvừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình dạy học Dĩ nhiên việc đề cao vai tròcủa chủ thể tích cực chủ động của người học không phủ nhận vai trò chủ đạo củangười dạy

1.4.2.2 Dạy học bằng tổ chức các hoạt động cho HS

Theo lý thuyết hoạt động được Vưgôtxki khởi xướng và A.N.Lêônchip pháttriển: bằng hoạt động và thông qua hoạt động, mỗi người tự sinh thành ra mình, tạodựng và phát triển ý thức cũng như nhân cách cho bản thân

Vận dụng vào dạy học, việc học tập của HS có bản chất hoạt động: Bằng hoạtđộng và thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành vàphát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ Kết quả của việchọc tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của HS

Nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của HS đểthông qua hoạt động đó mà HS lĩnh hội được nền văn hoá xã hội, tạo ra sự pháttriển những phẩm chất, tâm lý và hình thành nhân cách cho chính bản thân Muốn tổchức, hướng dẫn tốt hoạt động học tập vật lý của HS mà thực chất là hoạt độngnhận thức vật lý, người giáo viên cần nắm vững quy luật chung nhất của quá trìnhnhận thức khoa học, lôgic hình thành các kiến thức vật lý, những hành động thườnggặp trong quá trình nhận thức vật lý, những phương pháp nhận thức vật lý phổ biến

để hoạch định những hành động, thao tác cần thiết của HS trong quá trình chiếmlĩnh một kiến thức hay một kỹ năng xác định và cuối cùng là nắm được những biệnpháp để động viên khuyến khích HS tích cực, tự lực thực hiện các hành động đó,đánh giá kết quả hành động

1.4.2.3 Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học,

tự nghiên cứu

Ngày đăng: 02/12/2017, 05:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w