1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH

131 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tín

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ CÔNG TRIÊM

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Đặng Thị Thu Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các quý thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất đến nhà giáo

PGS.TS Lê Công Triêm, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong quá trình thực

hiện luận văn cũng như trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các quý thầy

cô giáo đã trực tiếp giảng dạy cho lớp chúng tôi, xin cảm ơn tất cả những gương mặt thân quen của tập thể lớp LL&PPDHBM Vật lí K24 (2015 - 2017), gia đình và những người tôi yêu quý nhất đã luôn đồng hành và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học Đó là nguồn động lực, cổ vũ tôi rất lớn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Vật lí, các học sinh lớp 10 năm học 2016 -

2017 trường THPT Đặng Huy Trứ, tỉnh Thừa Thiên Huế cùng các thầy cô giáo gần

xa đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn

Thừa Thiên Huế, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Đặng Thị Thu Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9

3 Mục tiêu của đề tài 12

4 Giả thuyết khoa học 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

6 Đối tượng nghiên cứu 13

7 Phạm vi nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Đóng góp mới của đề tài 14

10 Cấu trúc luận văn 15

NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 16

1.1 Năng lực tự học 16

1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực tự học 16

1.1.2 Các năng lực thành tố của năng lực tự học 18

1.1.2.1 Năng lực xây dựng kế hoạch tự học 19

1.1.2.2 Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề 19

1.1.2.3 Năng lực giải quyết vấn đề 19

1.1.2.4 Năng lực nghe giảng và ghi chép 20

Trang 6

1.1.2.6 Năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn 21

1.1.2.7 Năng lực tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh 21

1.1.3 Các biểu hiện của năng lực tự học 22

1.2 Các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MVT 25

1.2.1 Tạo động cơ, hứng thú và hướng dẫn xây dựng kế hoạch tự học cho HS với sự hỗ trợ của MVT 26

1.2.2 Hướng dẫn phương pháp nghe giảng và ghi chép với sự hỗ trợ của MVT 27 1.2.3 Rèn luyện kĩ năng đọc sách, tài liệu; kĩ năng thu thập thông tin với sự hỗ trợ của MVT để hình thành năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề 28

1.2.4 Rèn luyện kĩ năng xử lí thông tin với sự hỗ trợ của MVT để hình thành năng lực giải quyết vấn đề 31

1.2.5 Bồi dưỡng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn cho HS với sự hỗ trợ của MVT 32

1.2.6 Bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh cho HS với sự hỗ trợ của MVT 33

1.2.7 Phối hợp các phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các PTDH hiện đại 34

1.2.8 Giảm tỉ lệ thuyết trình của GV, tăng cường thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS Giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo 35

1.2.9 Kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, đánh giá trong dạy học 36

1.3 Đánh giá năng lực tự học 37

1.3.1 Một số công cụ đánh giá năng lực 38

1.3.1.1 Thang đo năng lực 38

1.3.1.2 Các bài tập 38

1.3.2 Một số phương pháp đánh giá năng lực 38

1.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của HS 38

1.3.2.2 Phương pháp đặt câu hỏi trực tiếp (vấn đáp) 39

1.3.2.3 Phương pháp quan sát 39

1.3.2.4 Phương pháp tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng 39

1.3.3 Thiết kế thang đánh giá NLTH cho HS 40

Trang 7

1.3.3.1 Quy trình thiết kế 40

1.3.3.2 Thang đánh giá NLTH cho HS 41

1.3.3.3 Quy ước sử dụng thang đo 50

1.4 Kết luận chương 1 51

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ 10 THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 52

2.1 Đặc điểm chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT 52

2.1.1 Đặc điểm chung 52

2.1.2 Mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt được 55

2.1.3 Sơ đồ cấu trúc của chương 56

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn khi dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT 57

2.2 Một số biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của MVT 57

2.2.1 Sử dụng MVT bồi dưỡng NLTH cho HS trong giai đoạn mở đầu 57

2.2.2 Sử dụng MVT bồi dưỡng NLTH cho HS trong quá trình nghiên cứu kiến thức mới 58

2.2.3 Sử dụng MVT bồi dưỡng NLTH cho HS trong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức 60

2.2.4 Sử dụng MVT bồi dưỡng NLTH cho HS khi tự học ở nhà 62

2.3 Quy trình thiết kế bài dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MVT 63

2.3.1 Quy trình thiết kế bài dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của MVT 63

2.3.1.1 Xác định mục tiêu bài dạy học 63

2.3.1.2 Xác định kiến thức cơ bản và sắp xếp theo một lôgic thích hợp 63

2.3.1.3 Xác định phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp 64

2.3.1.4 Xác định các hoạt động chủ yếu trong tiến trình dạy học 64

Trang 8

2.3.2 Tiến trình dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của

MVT 64

2.3.3 Thiết kế một số giáo án chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT theo hướng bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của MVT 66

2.4 Kết luận chương 2 74

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 76

3.1.1 Mục đích 76

3.1.2 Nhiệm vụ 76

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 76

3.2.1 Đối tượng 76

3.2.2 Nội dung 77

3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm 77

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 77

3.3.2 Phương pháp tiến hành 77

3.3.2.1 Quan sát, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau 77

3.3.2.2 Bài kiểm tra 78

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 79

3.4.1 Đánh giá định tính 79

3.4.2 Đánh giá định lượng 79

3.4.2.1 Kết quả đánh giá hoạt động học tập chương “Các định luật bảo toàn” 79

3.4.2.2 Kết quả đánh giá bài kiểm tra 1 tiết chương “Các định luật bảo toàn”83 3.4.2.3 Tổng hợp kết quả ĐG hoạt động học tập và bài kiểm tra theo tỉ lệ % 83 3.5 Kết luận chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC P1

Trang 9

TNSP Thực nghiệm sƣ phạm THPT Trung học phổ thông

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 1.1 Biểu hiện NLTH cấp THPT theo Bộ Giáo dục và Đào tạo 24

Bảng 1.2 Biểu hiện của NLTH 25

Bảng 1.3 Thang đánh giá NLTH cho HS 41

Bảng 3.1 Bảng các mẫu TNSP 77

Bảng 3.2 Kết quả ĐG hoạt động học tập bài 23 (tiết2) nhóm TNg 79

Bảng 3.3 Kết quả ĐG hoạt động học tập bài 23 (tiết2) nhóm ĐC 80

Bảng 3.4 Kết quả ĐG hoạt động học tập bài 27 nhóm TNg 81

Bảng 3.5 Kết quả ĐG hoạt động học tập bài 27 nhóm ĐC 82

Bảng 3.6 Kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết nhóm TNg 83

Bảng 3.7 Kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết nhóm ĐC 83

Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả ĐG hoạt động học tập bài 23 (tiết 2) theo tỷ lệ % 83

Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả ĐG hoạt động học tập bài 27 theo tỷ lệ % 84

Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết theo tỉ lệ % 85

Bảng 3.11 Bảng các biểu đồ so sánh kết quả ĐG hoạt động học tập của nhóm TNg và nhóm ĐC trong buổi đầu và buổi cuối quá trình TNg 85

Bảng 3.12 Bảng các biểu đồ so sánh kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết của nhóm TNg và nhóm ĐC 91

Sơ đồ 1.1 Biểu hiện NLTH theo Candy 22

Sơ đồ 1.2 Biểu hiện NLTH theo Taylor 23

Sơ đồ 1.3 Quy trình thiết kế thang đo năng lực 40

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cấu trúc chương “Các định luật bảo toàn” vật lí 10 THPT 56

Sơ đồ 2.2 Hệ thống hoá kiến thức “Định luật bảo toàn động lượng” 61

Sơ đồ 2.3 Tiến trình dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của MVT 65

Hình 2.1 Chuyển động của tên lửa 58

Hình 2.2 Hình minh họa về “Xung của lực” 59

Hình 2.3 Minh họa phân tích lực 60

Hình 2.4 Ứng dụng của định luật “Bảo toàn động lượng” 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo ra sự biến đổi sâu sắc, toàn diện đối với cả nền kinh tế, từng bước chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức, với những đặc trưng cơ bản là coi tri thức khoa học, công nghệ là một tư liệu sản xuất quan trọng đã đặt ra nhiều yêu cầu mới cho ngành Giáo dục và Đào tạo Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khối lượng tri thức nhân loại tăng lên theo hàm số mũ, cùng với mạng viễn thông toàn cầu cho phép trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, việc tiếp cận của mỗi người với tri thức nhân loại rất thuận lợi và với khối lượng lớn như hiện nay, nhà trường không thể chỉ giới hạn ở việc trang bị cho người học một lượng tri thức nhất định Điều quan trọng hơn rất nhiều là nhà trường cần phải chú trọng đến việc bồi dưỡng

và rèn luyện cho học sinh (HS) phương pháp học tập, phương pháp khai thác và xử

lý tri thức, trong đó đặc biệt quan trọng là phương pháp tự học, tự nghiên cứu Chỉ

có nhờ vào phương pháp tự học, tự nghiên cứu HS mới có đủ khả năng để tự mình làm giàu vốn tri thức cho mình, phục vụ tốt hơn cho hoạt động thực tiễn Việc nâng cao năng lực tự học (NLTH) cho HS cần phải đặt vào nhiệm vụ trọng tâm của trường phổ thông, phải bồi dưỡng và rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự nghiên cứu, phương pháp học tập chủ động, tích cực

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta để đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp, hiện đại và hội nhập Quốc tế vào năm 2020 là phát triển nguồn nhân lực Ngành Giáo dục đã và đang có những đổi mới đồng bộ và toàn diện trên tất cả các phương diện, trong đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được xác định là nhiệm vụ trọng tâm theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, hướng đến mục tiêu cuối cùng là tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước

Yêu cầu của đổi mới PPDH là phải sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học của HS Việc tự học, tự đào tạo ngày càng có vai trò quan trọng đối với ngành Giáo dục nói chung và nhu

Trang 12

hiệu tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học để trang bị cho người học NLTH là nhu cầu bức thiết và mang ý nghĩa chiến lược đối với lợi ích trước mắt và lâu dài của ngành Giáo dục nói riêng và của đất nước nói chung

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII

đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo

đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [9]

Tư tưởng chỉ đạo đó lại được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX “Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét học vẹt, học chay” [10]

Điều 28 Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học

tập cho HS” [26]

Trong quá trình đổi mới PPDH, việc ứng dụng các phương tiện dạy học (PTDH) hiện đại vào quá trình dạy học (QTDH) có vai trò rất quan trọng, là điều kiện cơ bản để thực hiện đổi mới các PPDH Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong Giáo dục và Đào tạo đã tạo ra một bước chuyển biến cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, PPDH, học tập và quản lý giáo dục

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nêu định hướng phát triển Giáo dục - Đào tạo 2006 - 2010: “Phát triển mạnh và kết hợp chặt giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển

kinh tế tri thức…” [11]

Việc ứng dụng máy vi tính (MVT) vào QTDH sẽ góp phần vào việc cải tiến và nâng cao tính tích cực và chất lượng giáo dục toàn diện MVT được xem là một phương tiện hiện đại đa chức năng, MVT ngày càng tỏ ra ưu việt ở những chỗ mà

Trang 13

không một phương tiện truyền thống nào trước đây có thể giải quyết được Nhờ khả năng tương tác cao, sự tích hợp của nhiều khả năng mà MVT có được những đặc trưng mới về chất so với các PTDH trước đó Với ứng dụng những tính năng hiện đại của MVT vào QTDH, giáo viên (GV) có thể thay đổi PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức đồng thời người học có thể tạo ra được sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động, bồi dưỡng NLTH, tự chiếm lĩnh tri thức của nhân loại

Tôi cho rằng đã đến lúc phải thay đổi PPDH, sử dụng các hình thức dạy học thông qua việc giao nhiệm vụ học tập cho HS để bồi dưỡng NLTH, tự lĩnh hội kiến thức Có như vậy mới tạo cho HS lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, từ đó góp phần nâng cao kết quả học tập và về lâu dài sẽ trang bị cho các em phương pháp, năng lực học tập suốt đời

Tuy nhiên, thực tế việc bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của MVT cho HS ở các trường Trung học phổ thông (THPT) hiện nay còn nhiều bất cập Chính vì vậy, tôi

chọn nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính” là một việc làm cần thiết và cấp bách để góp phần đổi mới PPDH

ở nước ta hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” (1997)

và “Học và dạy cách học” (2002) đã dày công nghiên cứu về tự học, ông định nghĩa: tự học là tự mình động não, tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ (như giám sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, …) và có khi cả năng lực cơ bắp (như khi phải sử dụng công cụ, …) cùng các phẩm chất cá nhân của mình, rồi cả động cơ, tình cảm,

cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, cầu tiến, …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực, hiểu biết nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình” Theo ông, “Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh nhưng hiểu như vậy là hơi hẹp Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò Dạy dù sao cũng chỉ là ngoại

Trang 14

học trò Sự cố gắng này mới đúng là tự học” Như vậy, tự học có thể xảy ra khi có thầy, có sách; cả khi không có thầy, không có sách [34], [35]

Tác giả Đặng Thành Hưng trong tác phẩm “Một số vấn đề về phương pháp dạy học” (2000) đã đề cập đến khái niệm “học độc lập” Học độc lập là nhu cầu của người học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường và nếu nhu cầu này phát triển tốt thì khả năng học độc lập sau này của người học sẽ là con đường bảo đảm nhất, hiệu quả nhất việc học thường xuyên, học suốt đời của họ” [16]

Tác giả Trịnh Quốc Lập (2008) trong bài báo khoa học “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam” đăng trên tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ đã cho rằng năng lực tự học không chỉ là một phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói, sinh viên châu Á không phải là không có năng lực tự học; hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực tự học Kết quả nghiên cứu của tác giả bài viết này đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh [21]

Tác giả Nguyễn Thị Tính với Luận án Tiến sĩ về đề tài “Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Giáo dục học cho sinh viên các trường Đại học Sư phạm”, tác giả kết luận: Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao Tự học môn Giáo dục học mang tính đặc thù của bộ môn Nghiệp vụ sư phạm, vì vậy tự học môn Giáo dục học là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và hình thành tình cảm, thái độ nghề nghiệp của sinh viên dưới vai trò chủ đạo của cán bộ giảng dạy môn Giáo dục học

Tự học có thể diễn ra ở trên lớp, hoặc trong quá trình tự học ở nhà, hoặc trong các hoạt động ngoại khóa Ba khâu này có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau không thể tách rời, chúng bổ sung kết quả cho nhau [33]

Tác giả Đậu Thị Hòa trong bài báo khoa học “Phương pháp rèn luyện kỹ năng

tự học cho sinh viên địa lý trong dạy học học phần địa lí tự nhiên Việt Nam” (2010), đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 4(39) cũng tập trung vào sử dụng một số phương pháp dạy học nhằm rèn luyện kỹ năng tự học, giúp người học không chỉ học ở trường lớp mà có khả năng tự học suốt đời [14]

Trang 15

Đề tài luận văn Thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho HS” của Nguyễn Thị Thiên Nga đã góp phần xây dựng được hệ thống cơ sở lí luận về tự học và nghiên cứu đề xuất một số biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học qua việc tổ chức các hoạt động

tự học cho HS [22]

Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về việc sử dụng các PTDH như sách giáo khoa, bài tập, thí nghiệm (TN) và các ứng dụng công nghệ thông tin vào

dạy học Cụ thể: Việc sử dụng có hiệu quả sách giáo khoa có các đề tài: Đề tài

“Hình thành năng lực tự học vật lí cho học sinh Trung học phổ thông thông qua việc sử dụng sách giáo khoa” của tác giả Võ Lê Phương Dung Đề tài nghiên cứu này đã đưa ra một số giải pháp sử dụng sách giáo khoa trong dạy học một cách có hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lí ở trường THPT [7]; tác giả Nguyễn Văn Quang với “Bồi dưỡng năng lực tự học vật lí cho học sinh Trung học phổ thông thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”

đã kết hợp sách giáo khoa và bản đồ tư duy vào việc bồi dưỡng năng lực tự học cho

HS [25]; tác giả Trần Trọng Công với đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần “Nhiệt học” Vật lí 10 Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” [7]; tác giả Nguyễn Phú Đồng với đề tài “Nghiên cứu sử dụng bài tập vật lí theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học

phần “Dòng điện không đổi” Vật lí 11 Trung học phổ thông”; tác giả Võ Thị Cẩm

Quyên với đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong chương Động học chất điểm Vật lí 10 qua việc khai thác và sử dụng bài tập vật lí”, đã đề cập đến việc nghiên cứu, khai thác và sử dụng bài tập vật lí một cách hiệu quả nhất trong việc tổ chức hoạt động nhận thức của HS nhằm bồi dưỡng năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề phát huy tính tích cực của HS trong dạy học vật lí ở trường THPT [12], [27]; ngoài ra còn sử dụng TN và phiếu học tập vào dạy học để bồi dưỡng năng lực tự

học cho HS với các đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh qua phiếu học tập trong dạy học phần “Quang hình học”, Vật lí 11 nâng cao Trung học phổ thông”

của Hà Thế Nhân và “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm theo hướng bồi dưỡng năng

Trang 16

điện không đổi”, Vật lí 11 nâng cao Trung học phổ thông” của Nguyễn Tường Thảo Uyên [23], [43]

Về việc ứng dụng công nghệ thông tin có các tác giả: Trần Huy Hoàng trong Luận án Tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm với sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học một số kiến thức cơ học và nhiệt học Trung học phổ thông” đã tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng MVT trong việc hỗ trợ để tạo

ra các TN ảo và mô phỏng, từ đó thiết kế tiến trình dạy học cho một số bài thuộc phần cơ học và nhiệt học lớp 10 [15]; tác giả Mai Văn Trinh với “Nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường Trung học phổ thông nhờ việc sử dụng máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại” đã sử dụng ngôn ngữ lập trình như Turbo Pascal, Visual Basic, Pakma để xây dựng một số phần mềm dạy học vật lí [39]; tác giả Vương Đình Thắng với đề tài:“Nghiên cứu sử dụng máy vi tính với multimedia thông qua việc xây dựng và khai thác website dạy học môn vật lí 6 ở trường Trung học cơ sở” đã đề cập đến việc sử dụng MVT với hệ thống mutilmedia, mạng máy tính, internet và website vào QTDH [29]

Nhìn chung, các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề tự học dưới

nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính”

3 Mục tiêu của đề tài

Đề tài nghiên cứu xác định các năng lực thành tố, biểu hiện của NLTH trong dạy học vật lí, từ đó nghiên cứu đề xuất các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MVT và vận dụng vào dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được các năng lực thành tố, biểu hiện của NLTH trong dạy học vật lí; đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng NLTH có sự hỗ trợ của MVT và vận

dụng vào dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT thì sẽ bồi dưỡng

được năng lực tự học cho HS, qua đó góp phần đổi mới PPDH và nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường THPT

Trang 17

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong dạy học vật lí;

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS với sự

hỗ trợ của MVT trong dạy học vật lí;

- Xác định các năng lực thành tố, biểu hiện của NLTH và xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá NLTH của HS trong dạy học vật lí;

- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho HS với sự

hỗ trợ của MVT trong dạy học vật lí;

- Nghiên cứu thiết kế thang đánh giá NLTH cho HS;

- Nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT;

- Nghiên cứu quy trình thiết kế bài dạy học và tiến trình dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MVT;

- Thiết kế giáo án một số bài học cụ thể trong chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của MVT theo hướng phát triển NLTH cho HS;

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) ở các trường THPT để đánh giá mục tiêu, giả thuyết khoa học của đề tài và rút ra kết luận

6 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của MVT theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS

7 Phạm vi nghiên cứu

Trong thời gian và khả năng cho phép, tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc sử dụng MVT vào hỗ trợ dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS tại các trường THPT trên địa bàn

Trang 18

8 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước và của ngành Giáo dục về đổi mới PPDH ở trường phổ thông, về vấn đề tự học, tự nghiên cứu của HS;

- Nghiên cứu những cơ sở lí luận, những tài liệu liên quan, các bài báo, tạp chí

và ý kiến của các nhà khoa học giáo dục về vấn đề tự học và việc sử dụng MVT trong QTDH cho HS;

- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT

Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

- Trao đổi với GV và HS để tìm hiểu thực trạng dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học ở các trường THPT hiện nay

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT theo quy trình, phương pháp

và hình thức tổ chức đã đề xuất

Phương pháp thống kê toán học

- Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm để rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu

9 Đóng góp mới của đề tài

Về mặt lí luận:

Làm rõ cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS với sự hỗ

trợ của MVT trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT

Trang 19

góp phần vào việc đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học Vật lí ở trường THPT

- Làm cơ sở để GV phổ thông có thể vận dụng vào các phần khác nhau trong quá trình dạy học vật lí

10 Cấu trúc luận văn

Luận văn có cấu trúc như sau:

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 20

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC

SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 1.1 Năng lực tự học

1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực tự học

Năng lực

Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống

xã hội, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo Từ điển tiếng Việt

“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [20]

Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Galton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách [13]

Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định Theo Cosmovici thì: “năng lực là

tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác

ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định” [24]

Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó

là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt

động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực đó là năng

Trang 21

khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [42]

Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy [32]

Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [22]

Như vậy, năng lực được hiểu là bất kỳ yếu tố tâm lý của cá nhân nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí có thể giúp hoàn thành nhanh chóng công việc hay hành động nào

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [34]

Trang 22

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học [40]

Tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…[19]

Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng tự học là hình thức hoạt động nhận thức của

cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định [22]

Theo Trần Phương, học bao giờ cũng là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích luỹ được từ nhiều thế hệ cả nhân loại thành kiến thức của chính mình, tự cải tạo lại tư duy của chính mình, rèn luyện cho mình kĩ năng thực hiện… tự học càng chuyên cần, công phu bao nhiêu thì càng cải biến, cải tạo mình sâu sắc bấy nhiêu [22]

Theo tác giả Lê Công Triêm, năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao [36]

Như vậy, n ăng lực tự học được hiểu là khả năng tự mình tìm kiếm, thu thập thông tin, xử lý thông tin và vận dụng kiến thức vào tình huống cụ thể để giải quyết

có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, mang đến sự phát triển cho bản thân người học

1.1.2 Các năng lực thành tố của năng lực tự học

Thực tế cho thấy một năng lực nào đó thường là tổ hợp của nhiều năng lực con hợp thành Năng lực tự học cũng không nằm ngoài quy luật đó, cũng bao gồm nhiều năng lực khác nhau hợp thành Có thể thấy để hình thành và phát triển NLTH thì bản thân người học cần phải có các năng lực thành tố sau:

Trang 23

1.1.2.1 Năng lực xây dựng kế hoạch tự học

Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một

số điểm sau:

- Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể

là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn

cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình

- Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định

được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó

1.1.2.2 Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề, hết sức quan trọng đối với HS

Nhờ năng lực này HS vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi…

Năng lực này đòi hỏi người học phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so

sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ

sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng rõ… Đây là bước khởi đầu của sự nhận thức có tính phê phán, đòi hỏi nỗ lực trí tuệ cao Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau Dựa trên các kiến thức đã biết và các kiến thức mới này HS dần hoàn thiện bản thân Sự tiếp xúc của HS nhiều lần, sự tìm tòi đào sâu giúp HS hiểu rõ vấn đề Chính vì vậy khi đứng trước vấn đề, HS sẽ nhận biết nhanh chóng

1.1.2.3 Năng lực giải quyết vấn đề

Trang 24

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để làm “loé” ra con đường tiệm cận giả thiết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV trong việc dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho người học phương pháp tự học

1.1.2.4 Năng lực nghe giảng và ghi chép

Khi học tập trên lớp, HS phải biết vận dụng nhiều thao tác như nghe giảng, ghi chép, suy nghĩ, trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, hoạt động nhóm… Trong những hoạt động đó HS cần phải biết kết hợp các thao tác nghe, ghi chép và suy nghĩ trả lời câu hỏi Phát triển được năng lực này sẽ giúp HS học tập hiệu quả hơn, linh hoạt hơn trong tư duy, giáo dục ý thức tự giác, kiên nhẫn và khả năng tư duy nhanh Vì vậy trong quá trình nghe giảng hay nghe phần thuyết trình, HS phải biết chọn lọc kiến thức để ghi chép theo ý hiểu của cá nhân Để việc lắng nghe có hiệu quả, HS phải luôn chú ý đến hoạt động của GV, phải theo sát các mục mà GV ghi trên bảng

và kết hợp với SGK, trước khi nghe phải tìm hiểu qua nội dung (tên chủ đề, các câu hỏi, các nguồn tài liệu) chuẩn bị các công cụ ghi chép Tốc độ nói sẽ nhanh hơn tốc

độ ghi nên GV cần hướng dẫn HS cách ghi chép cho phù hợp, vừa ghi chép vừa suy nghĩ về vấn đề Một số kỹ năng trong ghi chép như ghi thành các mục để dễ theo dõi, ghi những ý chính, ghi theo ý hiểu, dùng các chữ viết tắt và kí hiệu quy ước một cách nhất quán, có những nội dung có thể khái quát bằng sơ đồ

1.1.2.5 Năng lực làm việc theo nhóm

Việc hoạt động nhóm dựa vào tính độc lập, tích cực của các thành viên trong nhóm Mục tiêu học tập được cấu trúc sao cho mọi thành viên quan tâm tới kết quả chung của toàn nhóm cũng như của mỗi cá nhân

Trang 25

Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên được xác định cụ thể khi giao nhiệm vụ và khi đánh giá kết quả Mỗi thành viên trong nhóm phải trực tiếp tham gia các hoạt động, tích cực, chủ động tìm kiếm, thu thập và xử lí thông tin để giải quyết các nhiệm vụ học tập được đặt ra Đồng thời, trong quá trình hoạt động nhóm các thành viên phải có trách nhiệm giúp đỡ, động viên lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung

HS học được những kĩ năng hợp tác: cùng nhau hợp tác trong công việc, kĩ năng giao tiếp, giải quyết các mâu thuẫn hoặc bất đồng phát sinh trong nhóm làm cho nhóm thành một tập thể thống nhất

1.1.2.6 Năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn

Sau khi thu nhận kiến thức, người học có thêm những tri thức mới, tuy nhiên nếu không được sử dụng thì những tri thức đó sẽ bị lãng quên hoặc mai một Vì thế, việc vận dụng tri thức vào thực tiễn vừa là mục đích tự thân của việc học, vừa là quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức Đồng thời cũng sẽ vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất đời sống, sinh hoạt hàng ngày Chẳng hạn như: lắp đặt, sửa chữa các mạng điện đơn giản trong gia đình, giải thích các hiện tượng gần gũi trong cuộc sống như hiện tượng sấm sét, hiện tượng cầu vồng, hiện tượng dính ướt và không dính ướt Như vậy, khi tự học kết quả cuối cùng của việc học đó là người học với những kiến thức thu nhận được sẽ vận dụng ngay vào thực tiễn cuộc sống, cải tạo thực tiễn Khi người học có kĩ năng vận dụng tốt thì người học sẽ nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có

1.1.2.7 Năng lực tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh

Tự kiểm tra, đánh giá là một kỹ năng quan trọng trong tự học, vì làm được điều này, người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt được mức độ nào và xác định điều chỉnh phương pháp tự học thích hợp, hiệu quả cao hơn Việc kiểm tra

Trang 26

tự trắc nghiệm bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan; trắc nghiệm tự luận, hoặc tự kiểm tra qua việc vận dụng kiến thức để làm các bài tập, thực hành, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá liên quan đến việc xây dựng các tiêu chí và chọn công cụ kiểm tra, đánh giá Trong quá trình dạy học, GV cần lưu ý tổ chức cho HS các việc làm cụ thể này theo những kế hoạch thích hợp Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục.

Việc tự học của HS là một quá trình diễn ra một cách thường xuyên và lâu dài Bởi vậy, cần phải có quá trình tự kiểm tra, đánh giá để các em tự hoàn thiện, tự

bổ sung kiến thức và năng lực của mình Chính vì vậy, người học cần có năng lực tự kiểm tra đánh giá, nó có tính chất thúc đẩy, củng cố, mở rộng vốn kiến thức, chỉnh

lí, sửa chữa và nâng cao kiến thức của chính bản thân người học

1.1.3 Các biểu hiện của năng lực tự học

- Tác giả Candy đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH Ông chia thành hai nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập Theo ông NLTH có những biểu hiện sau:

NLTH Tính cách Phương pháp học

1 Có kỹ năng tìm kiếm và thu hồi thông tin

2 Có kiến thức để thực hiện các hoạt động học tập

3 Có năng lực đánh giá, kỹ năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề

6 Có năng lực giao tiếp xã hội

7 Mạo hiểm, sáng tạo

8 Tự tin, tích cực

9 Có khả năng tự học

Sơ đồ 1.1 Biểu hiện NLTH theo Candy [45]

Trang 27

Nhóm đặc điểm bên ngoài (phương pháp học) chứa đựng các kỹ năng học tập cần

phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học,

do đó phương pháp dạy của GV sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì NLTH

Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua

các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bởi yếu tố tâm lý Chính vì điều đó mà GV nên tạo môi trường để HS được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích

lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học

- Tác giả Taylor khi nghiên cứu về vấn đề tự học của HS trong trường phổ thông đã xác định người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp Tác giả đã phân tích có ba yếu tố cơ bản của người tự học đó là thái độ, tính cách và kỹ năng Theo ông NLTH có những biểu hiện sau:

Người có NLTH Thái độ

3 Độc lập

4 Có tính kỉ luật

5 Tự tin

6 Hoạt động có mục đích

7 Thích học

8 Tò mò ở mức độ cao

9 Kiên nhẫn

1 Có kỹ năng thực hiện các hoạt động học tập

2 Có kỹ năng quản lí thời gian học tập

3 Lập kế hoạch

Sơ đồ 1.2 Biểu hiện NLTH theo Taylor [46]

Trang 28

- Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể sau năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố vào năm 2017 và xác định có 10 năng lực của học sinh

đó là: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực tính toán, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp và hợp tác Biểu hiện của năng lực tự học cấp THPT như sau:

Bảng 1.1 Biểu hiện NLTH cấp THPT theo Bộ Giáo dục và Đào tạo [3]

Tự học, tự hoàn

thiện

- Xác định nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những mặt còn hạn chế

- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết

- Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học

- Thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân

Như vậy, từ những quan điểm trên có thể xác định được các biểu hiện của NLTH như sau:

Trang 29

Bảng 1.2 Biểu hiện của NLTH

T.C Năng lực

giải quyết vấn đề

T.C.1 Phân tích thông tin vấn đề T.C.2 Đề xuất phương án giải quyết vấn đề T.C.3 Trình bày cách giải quyết vấn đề T.D Năng lực

nghe giảng và ghi

1.2 Các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MVT

Vật lý là môn khoa học TNg, hầu hết kiến thức vật lý đều gắn với thực tế nên

Trang 30

là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết Quá trình DH không chỉ là quá trình tái tạo kiến thức đơn thuần mà nhiệm vụ của quá trình DH là phải làm cho HS hình thành, phát triển được NLTH, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, vạch ra các bước thích hợp để giải các bài tập mới, cũng như nắm được những kĩ năng mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Do đó, GV cần có biện pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động tự học cho HS với sự hỗ trợ của MVT một cách hợp lý Vì vậy, có thể đưa ra các biện pháp để bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của MVT cho HS như sau:

1.2.1 Tạo động cơ, hứng thú và hướng dẫn xây dựng kế hoạch tự học cho HS với sự hỗ trợ của MVT

- Xác định được thái độ học tập đúng đắn, có động cơ học tập phù hợp

Với những phần mềm đã được xây dựng nhằm hỗ trợ cho quá trình tự học, tự tìm tòi của HS, qua đó kích thích được tính tích cực, tư duy độc lập, sáng tạo ở người học MVT được kết nối mạng Internet có thể đáp ứng được yêu cầu tự tìm tòi thông tin vì đây là nguồn tài nguyên thông tin vô tận Từ những tính ưu việt khi sử dụng MVT, tạo động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, với một niềm vui sáng tạo bất tận

Trong khi đó, nếu GV biết cách khai thác hệ thống tư liệu thông qua mạng internet thì bài lên lớp sẽ đạt hiệu quả cao hơn Các tư liệu đó chủ yếu gồm các hình ảnh, hoạt hình, phim thí nghiệm, phim minh họa các quá trình vật lý Chúng làm cho các định luật vật lý trở nên sống động hơn, các cấu trúc vi mô, mô hình vật lý trở nên gần gũi hơn… Vì mang tính trực quan nên chúng có thể kích thích sự say

mê, hứng thú học tập, đồng thời hỗ trợ rất tốt cho hoạt động nhận thức của HS

- Xây dựng kế hoạch, thời gian biểu tự học tùy vào nhu cầu của mình

Để việc học tập có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải chọn đúng trọng tâm công việc, phải xác định học cái gì là chính, là quan trọng nhất, có tác động trực tiếp đến mục đích Bởi vì nội dung cần phải học thì nhiều mà sức lực và thời gian thì có hạn, nếu việc học tập dàn trải, phân tán thì việc học sẽ không có hiệu quả Do đó, MVT hỗ trợ trong việc tóm tắt kến thức đã học thông qua các phần mềm Mindmap

Trang 31

Có thể chia các động cơ học tập thành hai nhóm lớn: Các động cơ hứng thú nhận thức, các động cơ trách nhiệm trong học tập

Điều cần chú ý là động cơ học tập không chỉ là một quá trình tự phát, không chỉ là một quá trình tự nhiên và phát sinh thầm lặng Cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ học tập của HS phù hợp với đặc điểm của từng em và điều quan trọng là dạy các em tự kích thích động cơ học tập của mình

GV có thể gợi ý cho HS một số phần mềm hỗ trợ cho sắp xếp thời gian học tập hợp lý như: Phần mềm Inclass, phần mềm Rescuetime

Phần mềm Inclass như một thời khóa biểu điện tử giúp các em quản lý lịch học, đồng thời tạo ghi chú bằng hình ảnh, ghi âm, đính kèm tập tin và tạo danh sách việc cần làm cho từng môn học ngay trên thời khóa biểu đó Toàn bộ đều được sắp xếp theo mức độ ưu tiên Ngoài ra, InClass còn giúp các em ghi lại thông tin liên lạc của thầy cô để tiện hỏi han bài vở

Với phần mềm Rescuetime cho phép các em đặt ra mục tiêu sử dụng thời gian hợp lý, ghi lại số thời gian các em dành cho các hoạt động như vậy, và cảnh báo mỗi khi các em dành quá nhiều thời gian chơi game trên facebook

Việc xây dựng kế hoạch sẽ giúp HS liệt kê được những việc phải làm trong ngày, phân biệt được việc chính việc phụ, việc làm ngay với việc sẽ phải làm và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu phấn đấu để từng bước cải thiện kết quả học tập Thông qua việc xây dựng kế hoạch, HS sẽ phân chia sử dụng thời gian cho từng công việc sao cho khoa học, hợp lý, giúp HS làm chủ được quỹ thời gian và không quên các việc sẽ phải làm, không bị động trước rất nhiều các tư liệu cần phải đọc và các công việc phải hoàn thành đúng hạn

1.2.2 Hướng dẫn phương pháp nghe giảng và ghi chép với sự hỗ trợ của MVT

Để ghi tốt, khi nghe giảng cần chú ý đến những điểm sau đây:

- Tập trung theo dõi bài giảng, nói chung chưa nên nghĩ đến việc sẽ làm gì vì điều đó sẽ phá hoại lôgic của quá trình nghe giảng

- Chú ý ghi dàn bài để nhìn được khái quát cấu trúc chung của bài giảng

- Tập trung vào những cái chính, những điểm quan trọng nhất mà GV thường

Trang 32

- Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ, các hình vẽ, tranh và các tài liệu trực quan khác mà GV giới thiệu, vì đây là lúc GV hệ thống hoá, so sánh, phân tích để

đi đến kết luận và rút ra cái mới

- Khi gặp chỗ khó, không hiểu hãy tạm thời gác lại và sẽ cố gắng tìm hiểu những điều đó trong các phần sau, để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn Khi bài giảng dừng lại, có thể nêu câu hỏi để đào sâu kiến thức và làm rõ những chỗ chưa hiểu

GV có thể gợi ý một số phần mềm hỗ trợ cho việc nghe giảng và ghi bài một cách khoa học và dễ nhớ như: Phần mềm Evernote

Phần mềm Evernote được sử dụng rộng rãi nhất Evernote có cách dùng đơn giản, dễ lưu trữ, phân loại, chưa kể những chức năng khác vượt xa cách ghi chép thông thường HS có thể ghi âm, tạo danh sách việc làm, hay đơn giản chụp lại bài giảng của GV Sử dụng Evernote cùng Evernote Peak giúp HS chuẩn bị bài kiểm tra trắc nghiệm tốt hơn

1.2.3 Rèn luyện kĩ năng đọc sách, tài liệu; kĩ năng thu thập thông tin với sự hỗ trợ của MVT để hình thành năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề

Để đọc sách đạt hiệu quả, GV cần rèn luyện cho HS một số kĩ năng đọc sau:

- Liên tục thúc đẩy và thử thách khả năng của HS

GV cần nhấn mạnh cho HS thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ gói gọn trong nội dung SGK, trong bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau Do

đó, GV cần giới thiệu cho HS những cuốn sách hay, những tài liệu bổ ích liên quan đến môn học và khuyến khích các em tự tìm kiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến thức GV cũng có thể giới thiệu địa chỉ một số trang web chuyên ngành, hoặc các trang diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập để HS tham khảo thêm

Trang 33

Một trong những ưu điểm của MVT là khả năng lặp đi lặp lại một cách tuỳ ý, phóng to, thu nhỏ, làm nhanh chậm các hiện tượng vật lý cần nghiên cứu, giúp cho

HS có thể nghe lại, xem lại thu thập thêm những thông tin cần thiết mà họ chưa kịp quan sát lần đầu để giải quyết nhiệm vụ học tập

Từ những thông tin thu được, HS sẽ hình thành mối liên hệ giữa cái “đã biết” với cái “chưa biết”, từ đó giải quyết được các yêu cầu đặt ra

Đặc biệt khi MVT được kết nối mạng internet có thể đáp ứng được yêu cầu tự tìm tòi thông tin vì đây là nguồn tài nguyên thông tin vô tận GV có thể tổ chức cho

HS tìm kiếm, thu thập thông tin từ internet bằng cách cung cấp địa chỉ các website dạy học vật lý hoặc xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học cho một phần kiến thức nào đó Chương trình Microsoft Word và Powerpoint hỗ trợ rất tốt cho việc lập bảng hệ thống, phần mềm Mindjet MindManager Pro (là sản phẩm số lấy ý tưởng từ MindMap kết hợp với phương pháp tư duy của Tony Buzan) và còn rất nhiều phần mềm khác nữa rất thích hợp cho hoạt động trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS Việc cung cấp cho HS địa chỉ của các website dạy học hoặc xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ sẽ giúp HS tiết kiệm được thời gian và tìm kiếm thông tin cần thiết một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả Với thông tin khai thác từ internet hoặc thư viện điện tử hỗ trợ kết hợp với nghiên cứu sách giáo khoa, GV có thể tổ chức cho HS tự lực tham gia các hoạt động: tìm hiểu một nội dung kiến thức nào đó, đưa

ra các hình ảnh minh hoạ, vận dụng những phần mềm mô phỏng hay minh họa các hiện tượng, các quá trình vật lý Thông qua việc dạy học trực tuyến, HS có thể trao đổi thông tin với GV, với các bạn HS khác thông qua MVT khi tự học ở nhà, HS dễ dàng nhận biết, so sánh và phân tích các hiện tượng Thông qua việc dạy học trực tuyến, HS có thể trao đổi thông tin với GV, với các bạn HS khác thông qua MVT khi tự học ở nhà Khi đó, mọi thông tin về bài học, bài tập, bài kiểm tra… được gửi

và nhận dưới dạng điện tử

Một số website hỗ trợ cho việc học tập môn vật lí ở trường phổ thông:

- http://www.hk-phy.org/resuores/images: website cung cấp nhiều hình ảnh cho dạy học vật lí bao gồm sơ đồ, đồ thị, hình ảnh mô tả TN với chất lượng cao;

Trang 34

- http://www.upscale.utoronto.ca: có nhiều hoạt ảnh mô phỏng quá trình vật lí rất đẹp làm cho bài giảng đa dạng, phong phú hơn hỗ trợ cho HS trong hoạt động nhận thức để hiểu rõ hơn bản chất của quá trình vật lí;

- http://www.hk-phy.org/resuores/mak_video: website cung cấp hơn 50 video clip nói về TN vật lí thực;

- http://pen.physik.unikl.de/medien/MNvideos/dowload: website cung cấp hơn

30 video clip phim TN về các lĩnh vực khác nhau của vật lí có thể khai thác và sử dụng cho bài giảng;

- http://thuvienvatly.com/Labiang/index.php truy cập website không những tải được các video clip mà con có cả giáo án, bài tập trắc nghiệm…;

- http://.bachkim.vn cung cấp nhiều tranh ảnh, TN mô phỏng, video clip;

- http://crocodile-clips.com: có thể download các phần mềm mô phỏng;

- http://scienceshareware.com: cung cấp một số TN mô phỏng có thể sử dụng cho bài giảng;

- http://www.youtube.com: cung cấp nhiều video clip hỗ trợ dạy học

Ngoài ra có thể sử dụng một số công cụ tìm kiếm như google.com, search.yahoo.com, bing.com, vinaseek.com cung cấp các tư liệu hỗ trợ cho dạy học

Để giúp HS phát hiện ra vấn đề một cách nhanh chóng và dễ dàng GV cần định hướng cho HS thực hiện theo các bước sau:

- Tái hiện kiến thức cũ có liên quan, GV có thể cho HS xem các hình ảnh, các

đoạn phim về các hiện tượng vật lý một cách trực quan, GV sử dụng MVT hỗ trợ trong việc tóm tắt kến thức đã học từ các bài trước và yêu cầu HS giải thích các hiện tượng đó

- Để tạo hình huống có vấn đề, GV có thể sử dụng MVT để giao nhiệm vụ cho

HS có tiềm ẩn vấn đề bằng những đoạn video clip, tranh ảnh, thí nghiệm mô phỏng, thí nghiệm định tính mô tả hiện tượng vật lý trái với quan niệm và giải pháp ban đầu của HS Khi HS xác định được mâu thuẫn từ tình huống chính là HS đã phát hiện được vấn đề cần nghiên cứu

Việc phát hiện, làm rõ mâu thuẫn từ tình huống có vấn đề thì HS ý thức được khó khăn, kích thích các em có nhu cầu tìm hiểu, giải thích… tạo điều kiện cho HS

Trang 35

tự học, tự nghiên cứu để giải quyết mâu thuẫn

Trong giai đoạn này để làm bộc lộ những quan điểm ban đầu của học sinh, GV

có thể sử dụng MVT để trình bày lại các TN thực đã quay phim lại và những TN ảo thực hiện trên các phần mềm vật lý…Sau đó cho học sinh dự đoán kết quả, hiện tượng xảy ra dựa vào các kiến thức và vốn hiểu biết có sẵn của mình

Thông thường thì những dự đoán, quan niệm HS là chưa đúng, từ đó xuất hiện mâu thuẫn giữa các quan niệm sẵn có của học sinh với kết quả của thí nghiệm mà

GV trình bày, điều đó tạo cho học sinh hứng thú, tò mò với vấn đề đưa ra

MVT trở thành phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập thông tin qua việc nắm bắt các yếu tố như:

* Quan sát diễn biến của hiện tượng, quá trình, những sự thay đổi của vật thể hoặc hành vi của vật thể tham gia vào hiện tượng hay quá trình đó;

* Sự biến đổi của một hay nhiều đại lượng vật lí trong mối liên hệ với các đại lượng khác, tìm ra nguyên nhân và kết quả;

* Sự giống nhau, khác nhau giữa những biểu hiện của nguyên nhân, kết quả, trong những điều kiện khác nhau và trong những lần làm thí nghiệm khác nhau;

* Chiều hướng sự biến đổi của vật thể tham gia trong hiện tượng, quá trình;

* Dấu hiệu bản chất, mối liên hệ diễn ra nhiều lần trong cùng một quá trình hay các quá trình khác nhau

Việc thu thập đúng, đủ lượng thông tin như vậy sẽ giúp HS giải quyết nhanh chóng, đúng đắn yêu cầu của vấn đề đặt ra và về lâu dài sẽ giúp cho các em có thói quen, cách thức thu thập thông tin liên quan đến yêu cầu của vấn đề đặt ra trong cuộc sống

1.2.4 Rèn luyện kĩ năng xử lí thông tin với sự hỗ trợ của MVT để hình thành năng lực giải quyết vấn đề

MVT hỗ trợ GV tìm kiếm và tích lũy tài liệu chuẩn bị cho chủ đề cần bồi dưỡng cho HS tự học như: phim thí nghiệm, phim học tập…; tạo điều kiện thuận lợi

cả về thời gian và không gian để GV có nhiều cơ hội trao đổi với nhiều người khác

có cùng hứng thú với chủ đề bồi dưỡng NLTH cho học sinh

Trang 36

Khi HS đã ý thức được vấn đề, MVT có nhiệm vụ hỗ trợ việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS Từ những thông tin thu thập được, để sử dụng được và có hiệu quả, người học cần phải biết xử lí các thông tin đó Xử lí thông tin sẽ giúp người học nâng cao sự hiểu biết về thông tin, từ đó có thể rút ra được các kết luận, các qui luật…Sau khi quan sát các quá trình, hiện tượng vật lí xảy ra, đòi hỏi người học phải sử dụng một loạt các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, mô hình hoá, suy luận, diễn dịch… để giải thích Từ đó, kĩ năng xử lí thông tin

cụ thể tương ứng như kĩ năng phân tích, kĩ năng tổng hợp, kĩ năng so sánh, kĩ năng khái quát hoá được hình thành và phát triển

Chẳng hạn, trong TN, sử dụng MVT để lập phương án TN, lựa chọn dụng cụ,

bố trí TN, tiến hành đo đạc, thu thập, biểu diễn và xử lí số liệu nhằm mục đích xây dựng và kiểm tra các giả thuyết đã đưa ra Đối với những TN khó thực hiện hoặc không thực hiện được ở trên lớp thì MVT có thể hỗ trợ xây dựng, thiết kế các TN

ảo, TN mô phỏng có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức của HS Khi quan sát HS hành động độc lập tự chủ, GV có thể phát hiện những khó khăn, vướng mắc của HS rồi sử dụng MVT đưa ra những định hướng kịp thời giúp HS vượt qua khó khăn

Như vậy, MVT là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu, bồi dưỡng NLTH cho HS

1.2.5 Bồi dưỡng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn cho HS với sự hỗ trợ của MVT

Sau khi thu nhận những kiến thức mới, bước tiếp theo là người học phải vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn GV có thể sử dụng MVT hỗ trợ trong việc khắc sâu lại kiến thức cơ bản cho HS một cách nhanh chóng, hiệu quả và MVT hỗ trợ trình chiếu các đoạn video, clip, tranh ảnh… về các hiện tượng, quá trình vật lý

liên quan đến bài học để cho HS vận dụng các kiến thức đã học

Vật lý là môn học có liên quan chặt chẽ với đời sống và kĩ thuật nên việc sử dụng MVT có thể hình thành cho các em những năng lực vận dụng như:

- Năng lực giải thích những hiện tượng, quá trình;

- Năng lực sử dụng các công thức để tính toán;

Trang 37

- Năng lực chế tạo, thiết kế những thiết bị đơn giản trong đời sống;

- Năng lực tìm hiểu những vận dụng của vật lí trong kĩ thuật và đời sống;

- Năng lực vận dụng những kiến thức đã biết để phát hiện những vấn đề mới, những qui luật mới

Ví dụ: Thông qua các mô hình mô phỏng các hiện tượng vật lý, các đoạn video clip chưa được sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiến thức đã học để giúp HS củng cố, ôn tập, đào sâu, mở rộng,

hệ thống hoá kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành của HS (dùng kiến thức về định luật bảo toàn động lượng để giải thích hiện tượng giật lùi của sung khi bắn hay có

thể chế tạo ra tên lửa nước) Do đó trong QTDH, GV phải tăng cường sử dụng

MVT sẽ rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách sáng tạo, hiệu quả và làm cho việc rèn luyện tri thức tri thức trở nên bền vững hơn

1.2.6 Bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh cho HS với sự

hỗ trợ của MVT

Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng và là khâu quan trọng để đánh giá kết quả

tự học của HS Để HS có thể tự đánh giá năng lực tự học của mình và từ đó HS tự điều chỉnh cách học và tự đổi mới phương pháp học của mình đạt hiệu quả cao hơn

Để thực hiện tốt việc tự kiểm tra, đánh giá, người học cần có các kĩ năng sau:

- Kĩ năng xây dựng và chọn lựa tiêu chí

Xác định tiêu chí cần đánh giá

Việc xác định tiêu chí đánh giá cần căn cứ váo các yêu cầu cụ thể sau:

Thứ nhất: Có đảm bảo thực hiện được mục tiêu đã đề ra hay không;

Thứ hai: Nếu thực hiện giải pháp đó thì có làm nảy sinh vấn đề mới không; Thứ ba: Có thõa mãn các điều kiện thực tế không như về mặt thời gian, thiết bị phương tiện hỗ trợ hay không

Các tiêu chí đưa ra có thể “định lượng” (tính toán được, cho điểm được) hoặc định tính (đánh giá dựa theo cảm tính)

Sau khi đưa ra được các tiêu chí cần xác định mức độ quan trọng của từng tiêu chí để khi phân tích ưu và nhược điểm của từng giải pháp dựa vào các tiêu chí này

Trang 38

- Kĩ năng so sánh, đối chiếu sản phẩm của mình với chuẩn

Kết quả đánh giá cần được so sánh dựa trên một chuẩn nhất định Xây dựng chuẩn đánh giá cần phải rõ ràng, phù hợp với các tiêu chí đánh giá

- Kĩ năng phát hiện những sai sót

Trong trường hợp còn tồn tại những những hạn chế hay thiếu sót cần được xem xét và đưa ra biện pháp khắc phục để tránh mắc phải trong những tính huống tương tự

đó Việc này có thể giúp cho HS thấy được những sai lầm, thiếu sót để có những biện pháp điều chỉnh cho phù hợp nhằm nâng cao được hiệu quả tự học

1.2.7 Phối hợp các phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các PTDH hiện đại

Để có thể phát huy tính tích cực của HS đồng thời nâng cao năng lực tự học của HS, khi lên lớp GVcần hạn chế sử dụng một phương pháp mà cần phải tăng cường sử dụng phối hợp nhiều nhóm phương pháp như phương pháp thuyết trình, phương pháp trực quan, phương pháp thực nghiệm Hiện nay, với sự phổ biến của MVT, các phần mềm dạy học, phương tiện trình chiếu sẽ tăng kênh hình và kênh tiếng trong các hoạt động học tập của HS Nhờ có các phương tiện hỗ trợ này, GV

có thể trực quan hoá các hiện tượng, quá trình giúp HS dễ dàng nhận ra bản chất của vấn đề

Trong dạy học vật lý, MVT sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực quan trọng như:

Trang 39

- Sử dụng MVT trong mô phỏng các đối tượng vật lý nghiên cứu;

- Sử dụng MVT hỗ trợ việc xây dựng các mô hình toán học (đồ thị, biểu thức, phương trình) của các hiện tượng, quá trình vật lý;

- Sử dụng MVT hỗ trợ các thí nghiệm vật lý;

- Sử dụng MVT hỗ trợ việc phân tích băng hình ghi quá trình vật lý thực

Vì vậy việc sử dụng MVT trong dạy học là rất cần thiết Các vấn đề trừu tượng như chuyển động tên lửa, hiện tượng va chạm, súng giật lùi, sự lan truyền của sóng cơ học, sự truyền nhiệt… nếu có sự hỗ trợ của các PTDH hiện đại (MVT, phần mềm mô phỏng) sẽ giúp HS dễ dàng nhận ra bản chất của vấn đề, điều này sẽ nâng cao chất lượng của giờ học

1.2.8 Giảm tỉ lệ thuyết trình của GV, tăng cường thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS Giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo

- Muốn bồi dưỡng năng lực tự học cho HS, khi lên lớp GV cần tránh cho HS thụ động nghe giảng mà đòi hỏi các em phải có một trình độ phát triển cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn thông qua quá trình tự học, tự nghiên cứu MVT là phương tiện rèn luyện cho HS các kĩ năng: thu thập thông tin, xử lí thông tin, vận dụng tri thức vào thực tiễn, kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh HS từ chỗ nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, suy xét từ nhiều góc độ có hệ thống trên cơ

sở những lý luận hiểu biết đã có của mình, phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn cần được giải quyết, bổ sung, làm sáng tỏ Sau đó trình bày giả thuyết, xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết Cuối cùng, đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận, khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề áp dụng, vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn Vì vậy, GV tăng cường sử dụng MVT trong việc dạy học vừa tiết kiệm được thời gian vừa truyền đạt được nhiều tri thức cho HS, giúp cho việc dạy học có hiệu quả cao hơn

- Để phát huy tối đa năng lực tự học và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tự học, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS Có như thế, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo Sau khi đã tiếp nhận được kiến

Trang 40

có thể truy cập để tìm kiếm thông tin liên quan đến nội dung mà GV giao nhiệm vụ

về nhà Khi có sự chuẩn bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn rất nhiều

Vấn đề tự học ở HS là một vấn đề không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập đạt kết quả cao, đòi hỏi HS phải tự giác, không ngừng tìm tòi học hỏi Ngoài ra,

sự định hướng của người thầy đóng vai trò quyết định thúc đẩy sự thành công trong

việc chiếm lĩnh tri thức của người học

1.2.9 Kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, đánh giá trong dạy học

Một bài kiểm tra cần đạt các yêu cầu sau:

- Nội dung kiểm tra là những kiến thức và kĩ năng cơ bản, trọng tâm của bài, chương, có ý nghĩa thiết thực đối với HS;

- Chú trọng cả kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực Trong kiến thức, có cả câu hỏi sự kiện, kiểm tra trí nhớ và câu hỏi suy luận

- Độ khó của bài phù hợp với chuẩn đánh giá của môn học, nội dung bài làm phù hợp với thời lượng qui định

- Có sự phân hoá HS, tạo cơ hội bộc lộ sự sáng tạo của các em

Tùy mục đích, đối tượng và điều kiện, có các hình thức kiểm tra, đánh giá khác nhau: quan sát, câu hỏi kiểm tra (kiểm tra nói, kiểm tra viết), bài tập, HS tự đánh giá, thực hành, trắc nghiệm khách quan

Ngoài ra, để rèn luyện cho HS năng lực và kĩ năng tự học một cách toàn diện hơn, chúng ta cần phải phối hợp một số biện pháp sau:

* Đối với GV:

- Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn HS cách tự học, luôn là tấm gương sáng cho HS noi theo;

- Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của GV, dành thời gian thích đáng cho HS tự học, tự nghiên cứu, semina, thảo luận, giải đáp thắc mắc;

- Tăng cường thiết kế giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lực nhận thức cho

HS, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các PTDH cần thiết Tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các loại bài tập trong tổ chuyên môn;

Ngày đăng: 04/04/2018, 08:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w