Các hoạt động tự học của HS như: tự tìm hiểu kiến thức, tựthao tác thực hành, tự phát hiện và giải quyết vấn đề không được GV chú trọng dẫnđến tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THƠ THƠ
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THƠ THƠ
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ PHƯỚC LƯỢNG
Thừa Thiên Huế, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Họ tên tác giả
Hoàng Thơ Thơ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được luận văn này, tôi đã được sự giúp đỡ tận tình củaPGS TS Lê Phước Lượng Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy.Tôi xin cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa vật lý, trường Đại học Sư phạm Huế
đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong những nămtháng trên giảng đường đại học
Tôi xin cảm ơn Giám hiệu và quí Thầy Cô tổ Vật lí trường THPT Thuận An đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình và bạn hữu đã động viên giúp đỡ đểhoàn thành tốt luận văn này
Huế, tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn Hoàng Thơ Thơ
Trang 5MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC 1
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3 Mục tiêu của đề tài 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Đối tượng nghiên cứu 10
7 Phạm vi nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ 12
1.1 Tự học và năng lực tự học 12
1.1.1 Khái niệm về tự học 12
1.1.2 Động cơ tự học 13
1.1.3 Các hình thức tự học 14
1.1.4 Vai trò của tự học 15
1.1.5 Năng lực tự học 17
1.1.6 Bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học vật lí 23
1.2 Dạy và học vật lí theo hướng tự học của học sinh 24
1.2.1 Dạy học vật lí theo hướng tự học của học sinh 24
1.2.2 Tự học của học sinh 27 1.3 Bài tập có nội dung thực tế trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh29
Trang 61.3.1 Khái niệm bài tập có nội dung thực tế 291.3.2 Phân loại bài tập có nội dung thực tế và định hướng trả lời 291.3.3 Vai trò của bài tập thực tế trong việc bồi dưỡng năng lực tự học vật lícho học sinh 331.4 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của bàitập thực tế 351.4.1 Tăng cường sử dụng bài tập thực tế rèn luyện kỹ năng tự học cho họcsinh trong giai đoạn mở đầu và nghiên cứu tài liệu mới 351.4.2 Tăng cường sử dụng bài tập thực tế rèn luyện kỹ năng cho học sinhtrong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức 361.4.3 Tăng cường sử dụng bài tập thực tế rèn luyện kỹ năng tự học cho họcsinh khi tự học ở nhà 371.4.4 Tăng cường sử dụng bài tập thực tế rèn luyện kỹ năng tự học cho họcsinh trong bài học ngoại khóa vật lí 381.4.5 Tăng cường giám sát, hướng dẫn và kiểm tra đánh giá hoạt động tự họccủa học sinh 381.5 Thực trạng sử dụng bài tập thực tế trong dạy học vật lí ở một số trườngTrung học phổ thông hiện nay 391.5.1 Việc vận dụng kiến thức vật lí vào thực tế của học sinh 391.5.2 Việc khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập thực tế trong dạy học vật lí401.5.3 Những thuận lợi, khó khăn khi sử dụng bài tập thực tế trong dạy họcvật lí ở các trường Trung học phổ thông hiện nay 411.5.4 Một số nguyên nhân cơ bản 421.6 Kết luận chương 1 43
CHƯƠNG 2 BIÊN SOẠN MỘT SỐ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ ĐỂ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN"QUANG HÌNH HỌC", VẬT LÍ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 44
2.1 Cấu trúc, nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” và chương “Mắt Các dụng cụ quang học”, vật lí 11 Trung học phổ thông 442.1.1 Đặc điểm, cấu trúc phần “Quang hình học” vật lí 11 Trung học phổ thông 44
Trang 72.1.2 Nội dung kiến thức của chương “Khúc xạ ánh sáng” và chương “Mắt
-Các dụng cụ quang học”, vật lí 11 Trung học phổ thông 45
2.2 Mục tiêu dạy học của phần “Quang hình học” vật lí 11 trung học phổ thông46 2.3 Xây dựng kho dữ liệu về các bài tập có nội dung thực tế phần “Quang hình học”, vật lí 11 Trung học phổ thông 48
2.4 Thiết kế và biên soạn tiến trình dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh qua sử dụng các bài tập thực tế 67
2.4.1 Quy trình thiết kế bài dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh qua sử dụng các bài tập thực tế 67
2.4.2 Một số tiến trình dạy học chương “Khúc xạ ánh sáng” và chương “Mắt - Các dụng cụ quang học”, vật lí 11 Trung học phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 68
2.5 Kết luận chương 2 75
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 76
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 76
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 76
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 76
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 77
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 77
3.3.2 Quan sát giờ học 77
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 77
3.4.1 Đánh giá định tính 77
3.4.2 Đánh giá định lượng 78
3.5 Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC P1
Trang 8CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủBTTT bài tập thực tế
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là mục tiêu quan trọng trong đườnglối xây dựng và phát triển của nước ta, điều này được khẳng định trong báo cáo củaBan chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: “ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [1] Để thực hiện mục tiêu này, nhân tốquyết định thắng lợi chính là nguồn nhân lực Từ đại hội Đảng lần thứ IX nghịquyết nêu rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và nănglực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thí nghiệm, làm chủ kiến thức,tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay” [2]
Tinh thần đó được nhấn mạnh trong Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, Điều
24, Chương 2 là: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải biết phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mônhọc; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩnăng vận dụng kĩ thuật vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứngthú học tập cho mọi HS” [19] Như vậy, giáo dục Việt Nam cần đổi mới một cáchtoàn diện về cả mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.Trong đó, vấn đề đổi mới PPDH và hình thức dạy học nhằm tích cực hóa hoạt độngnhận thức của HS, phát huy tính chủ động, sáng tạo và NLTH, tự nghiên cứu cho
HS là một yêu cầu cấp thiết và thực tiễn nhất
Để đáp ứng mục tiêu này, trong những năm qua, nền giáo dục nước ta đã cónhiều đổi mới: từ đổi mới chương trình, đổi mới sách giáo khoa, đến đổi mới PPDHnhằm nâng cao chất lượng giáo dục Trong đó, việc đổi mới PPDH đã được nhiềunhà giáo dục nghiên cứu và thử nghiệm Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vấn đề màchúng ta chưa thể giải quyết như: truyền thụ một chiều từ thầy đến trò vẫn tồn tại ởnhiều nơi và ở các cấp Các hoạt động tự học của HS như: tự tìm hiểu kiến thức, tựthao tác thực hành, tự phát hiện và giải quyết vấn đề không được GV chú trọng dẫnđến tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức
Trang 10không được phát huy Thực trạng dạy học hiện nay ở các trường THPT vẫn nặng vềthông báo, thuyết trình và diễn giải Nội dung bài dạy học còn gò bó theo sách giáokhoa Điều kiện để HS mở rộng kiến thức, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn khôngđược quan tâm HS vẫn học theo lối ghi nhớ và tái hiện nên khả năng vận dụng kiếnthức vào thực tiễn rất hạn chế Do đó, vấn đề đổi mới PPDH cần thực hiện theo cácđịnh hướng cụ thể như sau: tăng cường sử dụng các PPDH nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động và sáng tạo của HS; chuyển mạnh từ phương pháp nặng về diễngiảng của GV sang phương pháp nặng về tổ chức cho HS hoạt động để tự chiếmlĩnh tri thức và kĩ năng; tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa vớihọc tập hợp tác nhóm; coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học; coi trọng việcrèn luyện kỹ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức, tăng cường khai thác, sửdụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong dạy học.
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm Dạy vật lí không chỉ cung cấp kiếnthức cho HS mà còn hướng dẫn họ thực hiện các thao tác tư duy như phân tích, sosánh, tổng hợp, và những phương pháp suy luận lôgic như quy nạp, diễn dịch, Nhờ đó, HS có thể tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính, mặt định lượng của cáchiện tượng và đại lượng vật lí, dự đoán các hệ quả mới từ các lí thuyết, áp dụng líthuyết vào thực tiễn Do vậy, việc bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học nóichung và dạy học môn Vật lí nói riêng là cần thiết
Mặt khác, bài tập đóng vai trò quan trọng trong dạy học vật lí, nhất là bài tập
có nội dung thực tế Khi giải bài tập có nội dung thực tế, HS có điều kiện phân tíchcác hiện tượng, phát triển tư duy, hình thành thói quen nghiên cứu, rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức Sử dụng BTTT giúp lý thuyết gắn liền với thực tiễn, thựchiện tốt nguyên lí giáo dục “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sảnxuất, lý luận gắn liền thực tiễn” Từ đó làm cho HS cảm thấy hứng thú hơn tronghọc tập, thấy được ý nghĩa của việc học vật lí nhất là khi thấy được tầm quan trọngcủa vật lí và việc vận dụng chúng vào trong thực tiễn hàng ngày Vì vậy, nếu sửdụng các BTTT một cách phù hợp trong tổ chức dạy học thì vừa có thể làm tăngniềm say mê, hứng thú, tăng tính chủ động, tích cực tự học tập của HS, vừa giúp HS
có kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn
Trang 11Từ những lí do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh qua bài tập có nội dung thực tế trong dạy học phần
“Quang hình học” vật lí 11 Trung học phổ thông".
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vựcnghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy vấn đề hướng dẫn HS cách tự học rấtđược các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Từ trước công nguyên, các nhà giáo dục đã đề cao việc tự học Socrate đã đưa
ra quan niệm rất nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình
Vì thế, trong dạy học, ông đã đề xuất và thực hiện triệt để một PPDH rất tiến bộ lúcbấy giờ đó là hỏi - đáp Người thầy sẽ đặt ra những câu hỏi có tính gợi ý để dẫn dắthọc trò tìm đến với chân lí [4]
Đến thế kỉ 17, nhà giáo dục vĩ đại J A Comenski (1592 - 1670) đã đưa ranhiều tư tưởng giáo dục tiến bộ, tạo nên bước ngoặt lịch sử cho nền giáo dục thếgiới, trong đó quan điểm về dạy học trực quan tức phải cho người học tiếp xúc trựctiếp với sự vật, hiện tượng đã tiếp cận rất gần với tư tưởng lấy người học làm trungtâm tức yêu cầu dạy học phải phát huy tính tích cực nhận thức của người học dưới
sự hướng dẫn của GV [4] [17]
Tiếp nối Comenski, ở thế kỉ 18, 19, nhà giáo dục Pestalozzi (1746 -1827) đãđược mệnh danh là người đặt nền móng cho việc tạo ra môi trường tự học cho mọingười Ông chủ trương nhà trường phải áp dụng một hệ thống đặc biệt không chỉtruyền thụ cho HS những kiến thức đã được đời trước tích lũy mà phải giúp các emtrở thành những người tự do ý chí, có khả năng hòa nhập xã hội và là những cá nhânđộc lập, tự chủ [17]
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, bằng những nghiên cứu khoa học, bài bản củamình, nhà giáo dục người Nga A K Krupskaya (1869 - 1939) đã đưa ra nhiều cảicách giáo dục có ý nghĩa quan trọng với nền giáo dục Xô Viết, trong đó bà kêu gọimọi người không ngừng học tập qua việc tự giáo dục, luôn làm giàu cả kiến thứcchung và kiến thức chuyên môn trong suốt cuộc đời Trong nhiều bài báo,
Trang 12Krupskaya đã trình bày về nội dung, hình thức và các phương pháp hoặc sự hỗ trợnhiều mặt dành cho người tự học [4] [17]
Cùng giai đoạn với Krupskaya, nhà giáo dục Nhật Bản TsunesaburoMakiguchi (1871 - 1944) cũng cổ vũ mạnh mẽ cho việc tự học thông qua nhấnmạnh việc giáo dục sự sáng tạo cho con người Ông khẳng định truyền đạt tri thứckhông phải và không bao giờ là mục đích của giáo dục Giáo dục chính là quá trìnhhướng dẫn việc học tập cho người học và kết quả giáo dục phụ thuộc vào sự nổ lựccủa người học Chính vì thế, ông tập trung vào việc đào tạo những GV có thể làmnhững người hướng dẫn có hiệu quả cho HS khi học tập chứ không phải là ngườitruyền thụ những mảng tri thức chết [4] [17]
Từ những nền tảng nghiên cứu này, các nhà giáo dục thế kỉ 20, 21 đã khôngngừng nghiên cứu bổ sung những lí thuyết mới mẻ, cụ thể hơn về vai trò của tự học
và cách thức hình thành NLTH cho người học Ví dụ như các tác giả như B P.Exipop, M P Đôrôphêencô, A V Muraviep, N A Rubaskin với các công trìnhnghiên cứu: “Hoạt động độc lập của học sinh trong quá trình dạy học”, “Giáo dục
kỹ xảo làm việc tự lập cho học sinh”, “ Dạy thế nào cho học sinh tự lực nắm kiếnthức vật lí”, "Tự học như thế nào"
2.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài cả
về lí luận và thực tiễn Mặc dù đi sau so với giáo dục thế giới nhưng những thànhquả nghiên cứu về hoạt động tự học cũng rất phong phú
Tác giả Nguyễn Hiến Lê với cuốn "Tự học – một nhu cầu của thời đại" đã bànluận sâu sắc, thấu đáo về ý nghĩa của việc tự học và làm thế nào để tự học tốt, đồngthời khẳng định không tự học thì không thể thành công [10]
Tác giả Thái Duy Tuyên với "Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh", tácgiả Nguyễn Kỳ với "Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học", tác giả NguyễnDuy Cần với "Tôi tự học" và nhiều tác giả khác như Lê Công Triêm, Vũ Văn Tảo,Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo cũng chú trọng đến việc bồidưỡng NLTH cho HS Các tác giả đã đưa ra những cơ sở lí luận về dạy học HShọc dựa trên cách tiếp cận mới về dạy học tích cực, quán triệt quan điểm dạy họclấy HS làm trung tâm [9] [14] [20] [15]
Trang 13Gần đây cũng có một số luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề tự học và sử dụngBTTT, chẳng hạn như:
- Phạm Thị Hương, “Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực
tế trong dạy học phần cơ học lớp 10 Trung học phổ thông góp phần tích cực hóahoạt động học tập của học sinh” (Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐHSP Huế, 2009) Tácgiả đã đưa ra các biện pháp cụ thể giúp GV có thể sử dụng BTTT trong tổ chức hoạtđộng nhận thức của HS [18]
- Võ Thị Cẩm Quyên, “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy họcchương "Động học chất điểm" vật lí 10 qua khai thác và sử dụng bài tập vật lí"(Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐHSP Huế, 2009) Tác giả trình bày đầy đủ cơ sở lí luận
về tự học, khai thác hệ thống bài tập và đưa ra các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho
HS trong giờ lên lớp, tự học ở nhà và thông qua kiểm tra đánh giá [22]
- Nguyễn Văn Quang, "Bồi dưỡng năng lực tự học vật lí cho học sinh trunghọc phổ thông thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tưduy” (Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐHSP Huế, 2010) Tác giả đã trình bày khá đầy đủ
về vấn đề sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học vật lí và đưa ra một số biện phápnhằm bồi dưỡng NLTH cho HS THPT thông qua bản đồ tư duy [16]
Trong đề tài của mình, chúng tôi sẽ kế thừa những cơ sở lí luận của các côngtrình nghiên cứu trước đây, nhưng chú trọng hơn vào việc sử dụng và hướng dẫn
HS các BTTT trong phần “Quang hình học” theo hướng bồi dưỡng NLTH
3 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng được các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS thông qua BTTT vàvận dụng vào dạy học phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS và vận dụng biệnpháp đó thông qua BTTT trong dạy học phần “Quang hình học” vật lí 11 thì sẽ nângcao NLTH và chất lượng dạy học vật lí ở THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng NLTH cho HS trong
DH vật lí ở trường THPT
Trang 14- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng các BTTT trong DHvật lí ở trường THPT.
- Nghiên cứu thực trạng về DH vật lí theo hướng bồi dưỡng NLTH của HShiện nay
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo vàcác tài liệu liên quan đến đề tài
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng BTTT để bồi dưỡng NLTH cho HS trongdạy học vật lí ở trường THPT
- Thiết kế và xây dựng tiến trình tổ chức dạy học phần “Quang hình học” theohướng bồi dưỡng NLTH cho HS qua bài tập có nội dung thực tế
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi, hiệu quả của đề tài
6 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học phần “Quang hình học” theo hướng bồi dưỡng NLTH qua BTTT
7 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung chương trình vật lí phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT ở thành phố Huế
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành theo các phương pháp sau đây:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước, các chỉ thịcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học ởtrường phổ thông, nâng cao NLTH, tự nghiên cứu của HS
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến đề tài
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thăm dò, trao đổi ý kiến với các GV có kinh nghiệm và xây dựng phiếu điềutra đối với HS ở một số trường THPT tỉnh Thừa Thiên - Huế để nắm bắt thực trạng
Trang 158.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng để kiểm tra lại giả thuyết của đề tài
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí và kiểm định các kết quảthực nghiệm sư phạm
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng NLTH cho HS
THPT qua BTTT
Chương 2: Biên soạn một số tiến trình DH với sự hỗ trợ của BTTT để bồi
dưỡng NLTH cho HS trong dạy học phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG QUA BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ
1.1 Tự học và năng lực tự học
1.1.1 Khái niệm về tự học
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất quan tâm đến vấn đề TH - tự đàotạo Người đã chỉ ra rằng: TH chính là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làmviệc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập, lạicòn cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và sự quản lí chỉ đạo giúp vào [5].Theo Nguyễn Cảnh Toàn, TH là tự mình động não, sử dụng các năng lực trítuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụngcông cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinhquan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khóngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khănthành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biếnlĩnh vực đó thành sở hữu của mình [8]
Tác giả Võ Quang Phúc cho rằng: TH là một bộ phận của học, nó được tạothành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệthống tương tác của hoạt động dạy học TH phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tậpcủa người học, phản ánh tính tự giác và nổ lực của người học, phản ánh tính tự giác
và nổ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người họcnhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tậpnhất định [23]
Tác giả Nguyễn Kỳ viết khẳng định TH nghĩa là người học tích cực chủ động
tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn,học bạn, học thầy và học mọi người TH là tự đặt mình vào tình huống học, vào vịtrí của người tự nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra chomình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lí thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giảiquyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…[14]
Trang 17Nguyễn Hiến Lê cho rằng: TH là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi
để hiểu biết thêm Có thầy hay không ta không cần biết Người TH hoàn toàn làmchủ mình, muốn học môn nào là tùy ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điềuquan trọng [10]
Theo Thái Duy Tuyên: TH là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng
kỹ xảo… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thânngười học [20]
Theo quan điểm của R.Retzke thì TH là việc hoàn thiện các nhiệm vụ khoahọc khác không nằm trong các bước tổ chức bài giảng của GV Nó là một bộ phậnquan trọng của công tác khoa học trong học tập không phụ thuộc vào hình thức tổchức (cá nhân hay tập thể) và vào mục đích khác nhau của công việc Việc THtrong bất kì công việc nào cũng là s ự tiếp thu kiến thức, tích lũy, rèn luyện kĩ năng,nâng cao trình độ [6]
Tuy cách diễn đạt khác nhau ở trên, nhưng các định nghĩa trên đều thống nhấtlà: TH là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng,
kĩ xảo của chính bản thân người học Trong qua trình đó, người học thực sự là chủthể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lí, tiến hành hoạtđộng nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định TH là “nội lực” quyết định chấtlượng học tập, sáng tạo cho hôm nay và mai sau
1.1.2 Động cơ tự học
Ngày nay, khái niệm về động cơ được sử dụng hầu như ở tất cả các ngànhnghề trong cuộc sống: trong công việc, lao động, thể thao, học tập Kleinbeck chorằng, động cơ là nền tảng cơ bản của hiệu quả lao động và học tập Năng suất laođộng và học tập không chỉ được xác định bởi khả năng làm việc và học tập, mà còndựa vào động cơ của nó
Willis J Edmondson cho rằng động cơ học tập là sự sẵn sàng đầu tư thời gian,sức lực và tiềm lực khác của con người trong một khoảng thời gian dài, để đạt đượcmục đích đã đặt ra trước của bản thân Động cơ học tập bên trong do xuất phát từđam mê, yêu thích, niềm vui và có nhu cầu thực sự, động cơ học tập bên ngoài do
Trang 18chịu tác động của ngoại cảnh như khen ngợi của thầy cô và cha mẹ, môi trườnggiảng dạy, tài liệu học tập [3].
Theo tôi, động cơ là yếu tố nung nấu con người suy nghĩ và hành động, nóđược tạo ra từ những hoài bão, nhu cầu, cảm hứng, kích thích được hình thành ởngười trong quá trình giao tiếp, sống và làm việc, suy nghĩ có được do phản ánh sựvật hiện tượng Một động cơ có thể tạo nhiều hành động và một hành động có thể
do nhiều động cơ thúc đẩy, những động cơ này xen lẫn với nhau tạo nên thái độ(hành vi và cử chỉ) và hành động
Động cơ TH hoàn toàn không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay do ngườikhác mang đến mà chỉ có thể nảy sinh một cách có ý thức trong từng cá nhân nhờcác tác động phù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể được nâng cao khi quá trình TH cóhiệu quả Động cơ TH hình thành từ những xúc cảm, nhu cầu, và hoài bão làm chongười học suy nghĩ và hành động học tập, là yếu tố kích thích, nung nấu thúc đẩytính tích cực trong người học nhằm tiếp thu kiến thức và phát triển nhân cách, nókhông có sẵn hay tự phát mà hình thành dần trong quá trình học tập của người họcdưới hướng dẫn của cha mẹ và thầy cô Vì vậy, cha mẹ, thầy cô và nhà trường thôngqua chương trình, kế hoạch hoạt động đã được chuẩn bị trước mà tác động một cáchtích cực, có tập trung lên con em, HS của mình nhằm tạo nên hưng phấn, hứng thú,lòng ưa khen ngợi, chiều chuộng, quý mến, thương mến HS có động cơ học tập tốt
có những phẩm chất như tính tích cực, tự giác, chăm chỉ, siêng năng học tập; HSkhông có động cơ học tập thì chán nản, bỏ học, lưu ban Một HS chán học do mộttrong nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh, những yếu tố như nội dung môn học nặng,bài vở dồn nén không đủ thời gian học bài - làm bài, sức khỏe yếu, do bị bệnh hoặchoàn cảnh gia đình có khó khăn kinh tế, thiếu hụt tình cảm cha mẹ, gia đình do đókhông thể tiếp thu kiến thức dẫn đến ức chế, tụt hậu
Trang 19- TH giáp mặt: Những hoạt động như nghe giảng, ghi chép bài, thảo luậnnhóm, làm việc với sách, làm thí nghiệm, quan sát của HS, được HS thực hiện mộtcách chủ động, tích cực thì đều được coi là hoạt động TH , hoạt động này diễn ratrong quá trình dạy học với sự điều khiển của GV đứng lớp.
- TH không giáp mặt: Đó là sự TH không có sự điều khiển trực tiếp của GV,
mà do HS tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập để tựmình chiếm lĩnh tri thức và tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập Hìnhthức này có thể tồn tại ở ba mức:
+ TH ở mức cao: người học TH qua sách, qua các phương tiện thông tin.Người học TH tập một cách độc lập hoàn toàn
+ TH với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có sách giáo khoa,
có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương tiệnthông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti vi, internet, các phần mềm dạy học Sựhướng dẫn TH chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức, hướngdẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm Dưới sựhướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoànthành các hành động để hoàn thành các nhiệm vụ học tập Hiện nay hình thức THnày rất được khuyến khích nhưng chất lượng của nó là vấn đề cần quan tâm
+ TH có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: người học nhận nhiệm vụ và TH ởnhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập Có thể gọi hình thức này là TH cóhướng dẫn hay TH sau giờ lên lớp
1.1.4 Vai trò của tự học
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và cùng với nó là sựbùng nổ thông tin, thì đối với HS nói riêng và người học nói chung việc TH có vaitrò vô cùng quan trọng TH là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quanniệm học suốt đời, xã hội học tập
- TH đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệuquả học tập
Trang 20Khi TH, người học phải vận dụng các năng lực trí tuệ tới mức tối đa để mìnhgiải quyết vấn đề Vì vậy, trong quá trình dạy học, người học không chỉ là khách thểchịu sự tác động của các hoạt động giáo dục mà còn là chủ thể của quá trình nhậnthức Điều này đòi hỏi người học phải tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động não… từ
đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu kiến thức sâu sắc hơn Lê-nin viết: “không có sựlao động tự lực thì không thể tìm thấy chân lí trong bất kì vấn đề hệ trọng nào và ai
sợ tốn công sức thì không sao tìm ra sự thật được”
- TH là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học
Trong hoạt động dạy học, việc tạo ra kiến thức cho người học gắn liền vớinhận thức của chính họ, kiến thức chỉ có được qua hoạt động tư duy của người học.Kết quả của TH cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến kiến thức chung của nhân loạithành kiến thức riêng của mình Người học không thể nhớ lâu và cũng không thểvận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn nếu như kiến thức đó chưaphải là của họ Vì thế, TH là một hoạt động cốt lõi của việc học
- TH là con đường tự hoàn thiện cá nhân
Khi TH, các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lầngóp phần hình thành kĩ năng, phương pháp cho người học Trước cũng một tìnhhuống xảy ra, một vấn đề được nêu lên thì khả năng tự lí giải sự vật, hiện tượng củatừng người sẽ đạt các mức độ không bằng nhau Rõ ràng, trong hoạt động học tập,chất lượng và hiệu quả phụ thuộc vào mức độ tích cực tham gia (thái độ) và khảnăng xử lí (kĩ năng, phương pháp) của người học
Như vậy, TH là cách để tiếp nhận tri thức mới, so sánh với kiến thức sẵn cótrước đó, tự đúc rút kinh nghiệm để dần dần hoàn thiện bản than mình
- TH có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy
Trong quá trình TH , người học phải sử dụng các thao tác tư duy như so sánh,phân tích, tổng hợp, quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hoá… để giải quyết vấn đềmột cách sáng tạo Vì vậy các thao tác tư duy cần được rèn luyện thường xuyên.Với cùng một lượng kiến thức nhưng các nhiệm vụ học tập đặt ra ngày càng cao,điều này sẽ giúp cho HS rèn luyện các nhiệm vụ học tập đặt ra ngày càng cao, điều
Trang 21này sẽ giúp cho HS rèn luyện được những kĩ năng, hình thành năng lực giải quyếtvấn đề Từ đó sẽ góp phần nâng cao dần khả năng tư duy cho HS.
- TH có vai trò to lớn trong sự phát triển toàn diện ở mỗi cá nhân
Ngày nay, nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú từ sách, mạnginternet, băng, đĩa CD… nên nếu có kĩ năng TH tốt thì sẽ tận dụng được nguồnthông tin phong phú, đa dạng đó trong việc thu nhận kiến thức cho mỗi cá nhân.Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, TH có vai trò quan trọng hơn baogiờ hết, TH là điều kiện quyết định sự thành công của mỗi người Một triết gia đãtừng nói: “Anh đang tư duy nghĩa là anh đang tồn tại” Vì thế con người muốn tồntại đúng nghĩa thì phải TH, TH là tự khẳng định mình
TH có vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển trí tuệ và phát triển toàndiện con người Chính vì thế mà hiện nay TH không chỉ được xem là một hình thứchọc tập quan trọng mà còn được xem là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiếnlược của giáo dục Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
1.1.5 Năng lực tự học
1.1.5.1 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thànhmột loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao
Theo Lê Công Triêm, NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vậndụng kiếm thức vào tính huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao [7] Tác giảNguyễn Kim Thành thì cho rằng NLTH là tổng thể các năng lực cá thể, năng lựcchuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đếnnội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu chiếm lĩnh tri thức,
kĩ năng NLTH cần phải được rèn luyện trong thực tế cuộc sống mới trở thành sứcmạnh thực sự của người học [12] [13] Theo Nguyễn Kỳ, trong bất cứ con ngườiViệt Nam nào trừ những người bị khuyết tật, tâm thần đều tiềm ẩn một tiềm lực,một tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tựgiải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hằng ngày gọichung là NLTH [14]
Trang 22Vậy, NLTH là khả năng người học tự mình nhận thức tri thức của nhân loạihoặc tìm ra các tri thức mới và vận dụng chúng vào thực tiễn bằng chính khả năngsẵn có của mình ở mức độ cao nhất.
1.1.5.2 Các năng lực thành phần của năng lực tự học
Các năng lực thành phần của NLTH bao gồm: xác định được nhiệm vụ và mụctiêu học tập; lập kế hoạch và thực hiện các phương pháp TH; tự đánh giá và điềuchỉnh việc TH của mình
- Xác định nhiệm vụ và mục tiêu học tập
Để quá trình học tập có hiệu quả thì cần phải xác định nhiệm vụ và mục tiêuhọc tập Bởi nếu không xác định được nhiệm vụ và mục tiêu thì người học sẽ mấtphương hướng trong quá trình học tập, sẽ không biết được mình cần phải làm gì,phải cố gắng thế nào cho đúng
Trước hết, HS nắm được thông tin về môn học, giải quyết các tình huống họctập trên lớp theo hướng dẫn của GV, được GV hướng dẫn cách TH HS làm quen,hình thành dần ý thức và thói quen TH Sau khi được làm quen, HS có thể tự xácđịnh được cho mình nhiệm vụ và tự đặt được mục tiêu học tập cho mình
- Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập
Để việc học tập có hiệu quả, điều quan trọng nhất là chọn đúng trọng tâm côngviệc, phải xác định học cái gì là chính, là quan trọng nhất, có tác động trực tiếp đếnmục tiêu học tập Bởi vì nội dung cần phải học thì rất nhiều, mà sức lực và thời gianthì có hạn, nếu việc học tập dàn trải, phân tán thì việc học sẽ không có hiệu quả.Muốn vậy, HS phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ sở khung đã đượcthiết lập, HS có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng
HS nắm nội dung bài học, tự lập kế hoạch TH cho bản thân, xác định đượcphương pháp TH HS có thể tìm tòi các tài liệu, phối hợp các cách học với nhau đểtìm ra được phương pháp học hiệu quả nhất như học nhóm, học cá nhân có thể THvới sự hướng dẫn của GV Từ đó, HS biết cách để thực hiện kế hoạch đặt ra để đạtđược kết quả tốt nhất
Trang 23- Tự đánh giá và điều chỉnh việc TH của mình.
Dạy học cần vai trò tự chủ của HS đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyếnkhích, bắt buộc HS phải đánh giá và tự đánh giá, chỉ có như vậy học mới suy nghĩ,chịu trách nhiệm và luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới, cái hợp lí, cái có hiệu quả
Theo tác giả Vũ Quốc Chung, sự đánh giá trong nhận thức có thể hiểu làngười học ra những quyết định hay đưa ra những nhận định, kết luận, phán xét, lựachọn liên quan tới tính chính xác, chân lí, sự xác đáng đúng đắn, sự mong muốnphù hợp với những tiêu chuẩn, với những ý tưởng, với những mục tiêu đã đượcchuẩn hóa nhằm đáp ứng mục đích của vấn đề đang được đặt ra Một đề thi, một đềkiểm tra cũng nhằm đánh giá và đo đếm mức thang nhận thức của thí sinh Chuẩnmực của các đề thi và đề kiểm tra là đáp án của đề thi hoặc đề kiểm tra đó Công cụ
về đánh giá các mức thang nhận thức là biểu điểm, thang điểm, là đánh giá nhận xétcủa người chấm Mỗi một chương có rất nhiều kiến thức (bài tập) được đưa ra đểđánh giá và đo đếm mức độ nắm vững các kiến thức trong chương đó Các dạng câuhỏi và bài tập có thể yêu cầu người học phải hiểu, phải suy nghĩ, phân tích, tổnghợp, ứng dụng Nếu người học trả lời đúng các câu hỏi, và giải được các bài tập củachương đó có nghĩa là người học đã đưa ra được các quyết định, phán xét, lựa chọn,giải pháp đúng đắn, phù hợp và đã nắm vững chương đó
Sau khi tự đánh giá được kết quả học tập của mình, HS tự rút ra bài học kinhnghiệm cho bản thân; từ đó, HS tìm kiếm sự góp ý, giúp đỡ và các thông tin phảnhồi từ người khác (ví dụ như bạn bè, thầy cô) HS chủ động xin ý kiến GV về kếtquả học tập của mình để mong muốn được tư vấn giúp đỡ về phương pháp học.Cuối cùng, trên cơ sở các thông tin đó, HS có thể thu thập, tổng hợp và tự điềuchỉnh phương pháp TH
Trang 241.1.5.3 Các biểu hiện của năng lực tự học
- Xác định được nhiệm vụ học môn học
- Xác định được mục tiêu môn học
- Tự xác định những khía cạnh còn yếu kém của mình
Lập kế hoạch
và thực hiện
kế hoạch học
tập
- Lập kế hoach học tập và thực hiện nhiệm vụ học tập môn học
- Tìm kiếm và sử dụng tài liệu phục vụ học tập môn học
- Tìm kiếm và lựa chọn bài tập phù hợp nội dung lí thuyết đượchọc
- Tìm tòi, mở rộng, đào sâu kiến thức có liên quan đến thực tiễn,giải thích các vấn đề trong thực tiễn môn học
- Phát hiện và trình bày những thắc mắc về môn học
- Tự đánh giá kết quả học tập của mình thông qua nhận xét GV
- Tự đánh giá kết quả học tập của mình thông qua phản hồi của các
Trang 251.1.5.4 Bộ tiêu chí đánh giá năng lực tự học
tiêu môn học
Xác định mục tiêu môn học
3
Tự xác định nhữngkhía cạnh còn yếukém của mình
Có kế hoạch tìm kiếm tài liệu 2
Sử dụng tài liệu hiệu quả 4
10 Tìm kiếm và lựa chọn
bài tập phù hợp nộidung lí thuyết đượchọc
Tìm kiếm và lựa chọn hệ thống bài
Tìm được các bài toán thực tiễn có
giải thích được các bài toán thực tiễn
5
10 Phát hiện và trình bày
những thắc mắc vềmôn học
Phát hiện những vướng mắc trong
Trang 2610 Phối hợp các phương
pháp học
Xác định được phương pháp, số giờ
Thực hiện được phương pháp và số
GV xây dựng
Tự đánh giá chính xác sản phẩm củamình theo tiêu chí, có kèm theo tựnhận xét sai sót và nguyên nhân, đưa
ra biện pháp khắc phục
5
Tự đánh giá kết quảhọc tập của mìnhthông qua nhận xétGV
Đánh giá sản phẩm của mình sau khi
có giúp đỡ của GV
3
Tự đánh giá kết quảhọc tập của mìnhthông qua phản hồicủa các HS trongnhóm
Đánh giá sản phẩm của mình sau khi
Tự rút ra nhận xét về bản thân vànêu kế hoạch điều chỉnh bản thân 4
Trang 27Có thể xây dựng cách đánh giá như sau:
1.1.6 Bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học vật lí
1.1.6.1 Bồi dưỡng năng lực tự xác định nhiệm vụ và mục tiêu học tập
Để HS có thể xác định nhiệm vụ và mục tiêu học tập một cách rõ ràng, GVcần hướng dẫn, bồi dưỡng cho HS:
- Về kiến thức: nắm kiến thức cơ bản các phương pháp nhận thức, phươngpháp TH , tự bồi dưỡng, phát triển những năng lực nhận thức chú ý, ghi nhớ, quansát, tưởng tượng, tư duy
- Về kĩ năng: hình thành cá kĩ năng, kĩ x ảo học tập; kĩ năng vận dụng; giảiquyết các nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn
- Về thái độ: cách nhìn nhận, tiêu chuẩn đánh giá sự vật, hiện tượng ; pháttriển cảm xúc, ý chí
Đồng thời hướng dẫn, bồi dưỡng cho HS cách xác định những mục tiêu ưutiên, những mục tiêu phù hợp với lí tưởng, chí hướng và đặc điểm, sự hứng thú tìmtòi của bản thân trong quá trình học tập nhằm nâng cao NLTH cho HS
1.1.6.2 Bồi dưỡng năng lực tự lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập
Trong quá trình hướng dẫn HS lập kế hoạch cần chú ý một số điểm sau:
- Thứ nhất, HS phải xác định được mục đích của kế hoạch Đó có thể là kêhoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạchphải được tạo lập rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể saocho phù hợp với mục tiêu học tập và điều kiện hoàn cảnh của mình
- Thứ hai, khi lập kế hoạch, HS phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định đượccái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó
Để thực hiện thành công kế hoạch đã tạo lập, GV cần bồi dưỡng và hình thành
ở HS một số kĩ năng sau:
Trang 28- Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồnkhác nhau và từ những hoạt động đã đư ợc xác định như đọc tài liệu tham khảo,nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu internet, làm thí nghiệm Trong hoạt độngnày rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt.
- Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình TH không bao giờ diễn ratrong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này
có thể được tiến hành thông qua các kĩ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược,tổng hợp, so sánh
- Vận dụng thông tin: thể hiện qua việc vận dụng thông tin, tri thức khoa học
để giải quyết các vấn đề liện quan như giải bài tập, thực hành, thảo luận, xử lí cáctình huống, viết bài thu hoạch
- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin trithức thông qua các hình thức thảo luận, thuyết trình, tranh luận là công việc cuốicùng của quá trình tiếp nhận tri thức
1.1.6.3 Bồi dưỡng năng lực tự đánh giá và điều chỉnh bản thân
Để bồi dưỡng kĩ năng tự đánh giá ở HS, GV cần bồi dưỡng cho HS việc:
- Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câuhỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lờitrước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra lỗi sai từ đó khắc phục
- Tự đặt câu hỏi để tự tìm mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè
- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếmsau đó do tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm
- Chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
- Tự điều chỉnh các kiến thức về các vấn đề bản thân còn bị “hổng”, “thiếu”hoặc hiểu chưa đúng
1.2 Dạy và học vật lí theo hướng tự học của học sinh
1.2.1 Dạy học vật lí theo hướng tự học của học sinh
Hoạt động dạy là hoạt động của GV định hướng tổ chức, điều khiển hoạt độngnhận thức – học tập của người học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm
lí, hình thành nhân cách bản thân
Trang 29Bản chất của hoạt động dạy học là dạy cho HS biết hành động (hành độngchiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) Mỗi hoạt động là một sự tácđộng tương hỗ có định hướng của người dạy, người học và đối tượng nghiên cứu.Hoạt động tổ chức và định hướng hoạt động học của HS trong dạy học khoahọc phù hợp với tâm lí học nhận thức và với khoa học.
1.2.1.1 Nhiệm vụ vủa người thầy trong việc bồi dưỡng hoạt động tự học vật lí cho học sinh
Trong hoạt động dạy vật lí nhằm bồi dưỡng NLTH của HS, người GV ngoàivai trò là người truyền đạt tri thức còn là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn vàgiúp đỡ cho HS trong việc học tập Nhiệm vụ của người GV là phải hình thành ở
HS NLTH, độc lập suy nghĩ, khơi dậy tính hiếu kì, sự say mê tìm tòi để các em thực
sự hứng khởi khi đi tìm chân lí khoa học Nhờ đó, phát triển ở HS những kĩ năng cơ
sở của sự quan sát, thu thập thông tin, đưa ra những suy luận, phán đoán và kếtluận Những công việc cụ thể của GV trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động
TH vật lí của HS bao gồm:
- Chuẩn bị nhiều tình huống có vấn đề đưa ra cho HS tự lực xử lí Ứng vớimỗi tình huống là một hình thức hoạt động học tập như: tiến hành thí nghiệm, tracứu tài liệu, thảo luận nhóm, phát biểu các nhân
- Kiểm soát diễn biến hoạt động TH của HS và cho kết luận cuối cùng, mụcđích là để giúp người học tìm ra chân lí
- Tác động người học tham gia một cách tích cực vào quá trình học tập Vềmặt tâm lí, không phải tất cả HS đều sẵn sàng hưởng ứng, tham gia vào các hoạtđộng học tập do GV đề ra, đặc biệt là các hoạt động mang tính tập thể Do đó, GVcần phải có biện pháp tác động để mọi người đều phải tham gia
1.2.1.2 Vai trò của giáo viên trong việc bồi dưỡng hoạt động tự học vật lí cho học sinh
Hoạt động TH là một hoạt động đòi hỏi nhiều nỗ lực, sự chuyên cần, sự hứngthú của chủ thể Đáp ứng được những điều này, đối với HS phổ thông, cần phải cónhững điều kiện thiết yếu như: phải nhận thức đúng tầm quan trọng của TH , phải
có động lực TH và phải có tài liệu để TH
Trang 30Chúng ta thường không thiết tha tham gia công việc hoặc có tham gia cũngkhông đến nơi đến chốn khi không xác định được tầm quan trọng của công việc Do
đó, điều kiện đầu tiên cho hoạt động TH chính là nhận thức đúng tầm quan trọngcủa TH Nhận thức đúng đắn dẫn đến hành động đúng đắn, hành động là kết quảcủa nhận thức, người học chỉ có thể tiến hành TH một cách tự giác khi hiểu đượctầm quan trọng của TH
Để nâng cao nhận thức cho HS về tầm quan trọng của TH , GV phải là ngườithường xuyên giáo dục cho các em hiểu mục đích của TH qua các hoạt động:
- Giao công việc cụ thể cho từng các nhân và từng nhóm Chỉ định người đạidiện nhóm trình bày vấn đề, không để trong nhóm cử đại diện dẫn đến trình trạngchỉ một số HS thực sự tham gia hoạt động TH , một số khác có khuynh hướng trôngchờ, ỷ lại, đối phó với sự may rủi
- Khen ngợi, biểu dương thành quả hoạt động TH của cá thể hoặc của cá thểtrong sự hợp tác của nhóm Những tư tưởng thụ động, trông chờ và ỷ lại vào ngườikhác cần phải bị phê phán nghiêm khắc
- Rèn luyện thói quen TH cho HS bằng việc theo dõi sát sao, kiểm tra thườngxuyên quá trình TH của HS
Đối với HS phổ thông, việc nhận thức tầm quan trọng của học tập còn phụthuộc vào người thầy Do vậy, muốn người học có động lực TH cần có tác nhânkhuyến khích từ người thầy Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là phát triển conngười, cho dù muốn đạt được mục tiêu đó phải bằng phương pháp này hay phươngpháp khác Nhưng phương pháp nào cũng cần phải có tác nhân khuyến khích đểkhơi dậy thông minh của người học, khích thích nhằm phát huy tiềm năng conngười Hình thức khuyến khích TH ở trường phổ thông chủ yếu tập trung ở khâuđánh giá kết quả các hoạt động TH Việc đánh giá kết quả các hoạt động TH cầnphải công bằng và hợp lí sao cho người thực hiện được bằng nhiều công việc hoặcthực hiện công việc ít hơn hoặc nhẹ nhàng hơn Do đó, khi phân công các nhân hoặc
tổ nhóm phần công việc, GV phải đưa ra trọng số Trong quá trình thảo luận tại lớp,những HS nào tích cực phát biểu và phát biểu hay hoặc nêu những thắc mắc có giátrị cần phải có điểm thưởng Như vậy, trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS, cáchđánh giá kết quả học tập sẽ khác so với PPDH truyền thống GV không chỉ căn cứ
Trang 31vào điểm số của các bài kiểm tra viết để đánh giá mà còn phải căn cứ vào hoạt động
cụ thể của các em trong giờ học
Ngoài ra, tài liệu là vấn đề then chốt trong quá trình TH của HS vì nó đóng vaitrò như một người thầy khi không có mặt thầy Tài liệu phải bao gồm sách giáokhoa, sách tham khảo, các địa chỉ truy cập internet và các địa chỉ tham quan Tênsách tham khảo và những địa chỉ trên mạng do GV cung cấp, đây là phần mà GVphải chuẩn bị kĩ, GV càng chuẩn bị kĩ phần này thì hiệu quả việc TH qua tài liệucàng cao, HS sẽ không mất nhiều thời gian tìm kiếm nhưng có thông tin cần thiết
1.2.2 Tự học của học sinh
Học là một hoạt động nhận thức đặc biệt, làm một nhu cầu cơ bản để conngười tồn tại và phát triển Nó không phải là một sự tiếp thu máy móc, sao chépnguyên bản mà thực chất là tạo một sự chuyển hóa, một sự vận động bên trong củachủ thể nhằm làm phong phú kiến thức của bản thân và tự biến đổi mình
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, “cốt lõi của học là TH ” và “ khi nói TH chỉxét riêng nội lực ở người học” Như vậy, HS ôn bài, ở nhà là một hoạt động TH,phải suy nghĩ trả lời câu hỏi của thầy là một hoạt động TH, tự tra cứu sách vở đểgiải đáp thắc mắc của chính bản thân cũng là một hoạt động TH Có nhiều hình thứchoạt động TH khác nhau nhưng nhìn chung, ta có thể phân ra hai dạng hoạt động
TH chính cho HS THPT, đó là: TH có sự hướng dẫn của thầy và TH hoàn toàn
1.2.2.1 Tự học có hướng dẫn của thầy
Trong TH có hướng dẫn của thầy, GV phải dạy cho người học cách tìm lấy vàlàm chủ kiến thức GV phải giúp HS:
Chọn lọc kiến thức: kiến thức khoa học nói chung và kiến thức vật lí nói riêng làmột biển kiến thức mênh mông và hiển nhiên là mới lạ và khó hiểu đối với HS Domục tiêu học tập và thời gian học của một khóa học hay một cấp, bậc học mà ngườihọc không thể thu nhận hết tất cả các kiến thức hoặc đi sâu tìm hiểu một kiến thức nào
đó, nghĩa là phải có sự chọn lọc, vấn đề nào đang cần và vấn đề nào chưa cần
Nắm bắt kiến thức: để thâm nhập vào một vấn đề vật lí nào đó cần có sự gợi ýban đầu của GV, nghĩa là cần có sự hỗ trợ nhất định từ người thầy Bản thân HS,nhất là các em không phải HS giỏi, thường không thể tự tìm hiểu sâu nội dung vấn
Trang 32đề bằng hình thức tự đọc các tài liệu hay sách giáo khoa Mức độ nhận thức ý nghĩamột câu nói, một câu phát biểu còn tùy thuộc vào năng lực trí tuệ như các em Khiđọc một định nghĩa vật lí, một khái niệm vật lí hay một định luật vật lí, HS có thểgặp phải một trong những khó khăn sau:
- Không nắm được câu phát biểu hàm chứa bao nhiêu ý và ý nào là ý chính, ýnào là ý phụ
- Không hiểu được ngữ nghĩa của những từ và cụm từ mang tính chuyên môn
- Không hình dung được hiện tượng vì chưa từng thấy những biểu hiện củahiện tượng trong thực tế
Khi đó, người dạy sẽ bằng những câu hỏi dẫn dắt giúp người học khám phávấn đề và nắm bắt nó
Tạo niềm tin khoa học: cho dù trên cơ sở suy luận, người học có thể nhận thứcđược sự đúng đắn của một vấn đề vật lí, tuy nhiên vẫn cần có sự cũng cố niềm tin.Những yếu tố giúp người học cũng cố niềm tin bao gồm: sự trùng khớp với suy luậncủa bạn bè, kết quả từ thí nghiệm và sự khẳng định của người dạy Chỉ khi có niềmtin thì người học mới thực sự làm chủ kiến thức
Định hướng hoạt động: muốn việc TH đạt hiệu quả cao thì người học cần cómột phương pháp hoạt động TH hợp lí Nếu người học hoạt động không theo mộtphương pháp nào sẽ dẫn đến tình trạng lẩn quẩn, lúng túng trong quá trình tự tìmhiểu vấn đề Hoạt động có phương pháp vừa mang lại lợi ích cho cá nhân vừa manglại lợi ích cho tập thể Đặc biệt, khi người học học theo trường lớp, hoạt động họctập của cá nhân này có thể ảnh hưởng đến hoạt động học tập của các cá nhân khác.Khi này, GV sẽ là người chỉ đạo, định hướng chung
1.2.2.2 Tự học hoàn toàn
Trong một số điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt, người học không thể thườngxuyên đến lớp, phải TH không có sự hướng dẫn của thầy, khi đó người học phải tựtiến hành hoạt động của mình bằng cả ý chí và năng lực trí tuệ, bằng vốn kinhnghiệm của cá nhân để hướng tới làm thay đổi chính mình Người học chỉ gặp mặtthầy khi tập trung sau một đợt học hay một kì học nào đó nhằm kiểm tra, đánh giácác kết quả quá trình TH được gọi là TH hoàn toàn
Trang 33Ưu điểm của TH hoàn toàn là người học có nhiều sáng tạo nảy sinh trong quátrình tự tìm hiểu, học được tính tự tin vì phải tự giải thích vấn đề và tư khẳng địnhnhững kết luận rút ra từ những bài học theo lập luận cá nhân; rèn cho người học tínhvượt khó vì trong TH hoàn toàn người học sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm lấykiến thức Hệ quả của những ưu điểm trên là người học khi bước vào thực tế, ápdụng các kiến thức đã học sẽ không lúng túng khi tự mình phải giải quyết một vấn
đề phức tạp
Nhược điểm của TH hoàn toàn là người học sẽ mất nhiều thời gian hơn để tìmlấy kiến thức so với những người TH có sự hướng dẫn của người thầy Trong THhoàn toàn cũng thiếu tính cạnh tranh, người học dễ tự mãn với những gì đạt được dokhông có một đối tượng nào khác để so sánh Một nhược điểm lớn nhất trong THhoàn toàn là người học có thể hiểu lệch một vấn đề, hoặc nắm một vấn đề chưa thậttoàn diện với những khía cạnh và tính chất vốn có của nó
Vì những nhược điểm trên, trong luận văn này chúng tôi chủ trương khôngkhuyến khích TH hoàn toàn mà chỉ đi sâu vào phương pháp TH có sự hướng dẫncủa thầy
1.3 Bài tập có nội dung thực tế trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 1.3.1 Khái niệm bài tập có nội dung thực tế
Bài tập có nội dung thực tế là những bài tập liên quan đến vấn đề rất gần gũivới thực tế đời sống mà khi trả lời HS không những phải vận dụng linh hoạt cáckhái niệm, quy tắc, định luật vật lí mà còn phải nắm chắc và vận dụng tốt các hệ quảcủa chúng Các BTTT chú trọng đến việc chuyển tải kiến thức từ lí thuyết sangnhững ứng dụng kỹ thuật tương ứng
1.3.2 Phân loại bài tập có nội dung thực tế và định hướng trả lời
1.3.2.1 Phân loại bài tập có nội dung thực tế
Với mục đích nghiên cứu sử dụng BTTT cho đối tượng HS THPT, dựa vàomức độ kiến thức được trang bị, kết hợp với “vốn hiểu biết”, “kinh nghiệm sống”của chính bản thân HS, có thể chia làm hai loại: BTTT tập dượt và BTTT sáng tạo
- BTTT tập dượt: là loại câu hỏi thường đặt ra những ứng dụng kĩ thuật đơn
giản (cách làm) thường gặp trong cuộc sống và yêu cầu HS nhận diện những kiến
Trang 34thức vật lí nào đã được ứng dụng Khi trả lời các câu hỏi loại này, HS không nhữngcảm nhận được sự gắn kết chặt chẽ giữa kiến thức vật lí với thực tiễn cuộc sống màcòn làm gia tăng vốn kinh nghiệm, rèn luyện tư duy kĩ thuật, kĩ năng vận dụng kiếnthức vào thực tế cuộc sống của chính bản thân các em.
- BTTT sáng tạo: là loại câu hỏi mà khi giải, HS phải dựa vào vốn kiến thức của
mình về sự hiểu biết của các quy tắc, định luật, trên cơ sở các phép suy luận logic tựlực tìm ra những phương án kỹ thuật tốt nhất để giải quyết yêu cầu đặt ra của câu hỏi
1.3.2.2 Các hình thức thể hiện bài tập có nội dung thực tế
Do đặc điểm BTTT là nội dung của chúng gắn liền với những hiện tượng, sựvật gần gũi với thực tế đời sống và chú trọng đến những ứng dụng kĩ thuật đơngiản tương ứng nên phần lớn các câu hỏi thường được thể hiện bằng lời, một sốcâu hỏi mà nội dung chứa đựng nhiều thông tin có thể thể hiện dưới dạng hình vẽ,hình ảnh, hay các đoạn phim video clip ngắn để minh hoạ
Thể hiện BTTT bằng lời
Cách thể hiện BTTT bằng lời chỉ sử dụng khi sự vật, hiện tượng hay các thaotác kĩ thuật được đề cập đến hoàn toàn có thể mô tả một cách ngắn gọn, súc tích, dễhiểu, dễ tưởng tượng Khi nghe xong câu hỏi HS có thể hiểu và tưởng tượng ngaymột cách chính xác những thông tin về vấn đề mà các em cần phải giải thích
Thể hiện BTTT bằng cách dùng hình vẽ, ảnh chụp minh họa
Cách thể hiện BTTT thông qua hình vẽ, hình ảnh minh họa được sử dụngtrong những trường hợp có nhiều thao tác kỹ thuật phải trải qua nhiều giaiđoạn khác nhau, nên chỉ mô tả bằng lời thì sẽ rất dài dòng, khó hiểu, HS khótưởng tượng
Thể hiện BTTT bằng các đoạn phim video clip ngắn minh họa
Trong những điều kiện cho phép, việc thể hiện BTTT thông qua những đoạnphim video clip ngắn minh họa có tác dụng rất cao vì khi quan sát, HS có cái nhìn kháiquát, theo dõi được trình tự thực của hiện tượng xảy ra, các thao tác kĩ thuật… nhờ đó
có thể nhận biết được các dấu hiệu cơ bản, liên tưởng nhanh đến các kiến thức vật lítương ứng
Trang 351.3.2.3 Định hướng trả lời các bài tập có nội dung thực tế
Đối với loại BTTT tập dượt
- Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết và các yêu cầu của bài tập
Đọc kĩ nội dung câu hỏi để tìm các thuật ngữ chưa biết, tên gọi của các bộphận cấu trúc,… đặc biệt quan tâm đến các thao tác kĩ thuật nêu trong câu hỏi (bằngcách tự đặt ra và trả lời các câu hỏi phụ như “làm cái gì?”, “làm như thế nào?”) Xácđịnh ý nghĩa vật lí của các thuật ngữ, tóm tắt đầy đủ các giả thiết và hiểu rõ yêu cầucủa các câu hỏi (cần giải thích cái gì?) Đối với các bài tập thể hiện bằng hình ảnh,phim minh họa, cần quan sát kĩ và khảo sát chi tiết các thông tin minh họa, nếu cầnthiết phải vẽ hình để diễn đạt những điều kiện của câu hỏi để so sánh các trườnghợp riêng, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện mối liên quan giữa
sự vật, hiện tượng nêu trong câu hỏi với các kiến thức vật lí tương ứng
- Phân tích hiện tượng và các thao tác kĩ thuật
Nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của câu hỏi (những hiện tượng gì, sự kiện gì,các tác động kĩ thuật nào…) để nhận biết chúng có thể liên quan đến những kháiniệm nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật lí Nếu các thao tác kĩ thuật diễn ratheo nhiều giai đoạn, cần xác định đâu là những giai đoạn chính, trong đó động tác
kĩ thuật nào là cơ bản Khảo sát xem mỗi giai đoạn diễn biến đó bị chi phối bởi cácquy tắc nào, định luật nào…trên cơ sở đó hình dung toàn bộ diễn biến của hiệntượng và các định luật, quy tắc chi phối nó
- Xây dựng lập luận và xác lập bài tập
Giải thích về các thao tác kĩ thuật (cách làm) thực chất là cho biết các thao tác
kĩ thuật đó là sự vận dụng của kiến thức vật lí nào và tại sao làm như thế có thể đạthiệu quả cao Muốn vậy, phải định hướng và thiết lập được mối quan hệ giữa đặctính của sự vật và cách làm cụ thể nêu trong câu hỏi với một số hiện tượng hay địnhluật vật lí, tức là phải thực hiện các phép suy luận logic, trong đó cơ sở kiến thứcphải là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có tính tổng quát áp dụngvào những điều kiện cụ thể của đề bài mà kết quả cuối cùng là việc nêu bật tính ứngdụng của kiến thức vật lí vào hiện tượng hay cách làm đã được nêu trong đề bài.Thực tế cho thấy, các BTTT thường rất đa dạng vì nó phản ánh chân thực
Trang 36thoạt nhìn thì khó có thể phát hiện ngay được mối quan hệ giữa hiện tượng, sự việc
đã cho với những định luật vật lí đã biết Trong những trường hợp như thế, cũng cầnphân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản sao cho mỗi hiện tượngđơn giản chỉ tuân theo một định luật hay một quy tắc nhất định
- Kiểm tra tính chính xác của bài tập
Đối với loại BTTT tập dượt, vì trong đề bài nêu rõ sự kiện và các thao tác kĩthuật (cách làm) tương ứng nên cũng có trường hợp lời giải thích có chỗ bị sai màkhông xác định được mình sai ở điểm nào Nên hết sức thận trọng khi phát biểu cácđịnh luật, các quy tắc làm cơ sở lập luận, chú ý các điều kiện áp dụng các quy tắc,các định luật bởi vì nhiều quy tắc, định luật vật lý chỉ được áp dụng trong một phạm
vi hẹp nào đó, trong khi đó các sự kiện diễn ra trong thực tế đời sống chịu tác độngcủa rất nhiều yếu tố khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vấp dụng của các quy tắc,định luật đã vận dụng trong quá trình lập luận Thông thường để có thể kiểm tra tínhhợp lí của các câu trả lời cần đối chiếu phạm vi áp dụng các quy tắc hay định luậtvật lý đã sử dụng với các yếu tố tác động sự kiện được nêu trong câu hỏi xem chúng
có tương đồng và có thể chấp nhận hay không Trong nhiều trường hợp có thể làmnhững thí nghiệm, mô hình đơn giản (có tính tương đồng với sự kiện đã nêu trongbài tập) để kiểm chứng lời giải thích
Đối với loại BTTT sáng tạo, mục tiêu cuối cùng đòi hỏi phải lựa chọn và tìm
ra những phương án kĩ thuật tốt nhất (trong điều kiện cho phép) để giải quyết yêucầu đặt ra của bài tập, ta có thể áp dụng lần lượt các bước tiến hành như sau:
- Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết và yêu cầu của bài tập
Đọc kĩ câu hỏi để hiểu rõ sự vật, hiện tượng hay sự kiện nêu trong bài tập cóthể liên quan đến những lĩnh vực nào của vật lí để từ đó có sự “khoanh vùng” hợp
lí Cần chú ý đến các điều kiện cho trước để thu hẹp phạm vi ứng dụng các kiếnthức vật lí tương ứng Nhìn chung việc nắm vững giả thiết và yêu cầu của câu hỏiquy về việc phải trả lời được các câu hỏi như: Cần phải làm gì? Làm bằng cái gì?
- Phân tích sự kiện và xây dựng các phương án thực hiện
Xuất phát từ những dữ kiện ban đầu (sự kiện gì, các mục đích cuối cùngcần đạt được là gì), cần liên tưởng đến các quy tắc hay định luật tương ứng, từ
đó vạch ra một số phương án khả dĩ có thể thực hiện được Nói chung, đích cuối
Trang 37cùng của bước này là trả lời được các vấn đề đặt ra của bài tập: có bao nhiêucách làm? làm như thế nào?
- Lựa chọn phương án và xác lập câu trả lời
Trong bước này, cần căn cứ vào những phương án đã đưa ra để lựa chọn phương
án khả thi nhất, PP chủ yếu để lựa chọn là phân tích, so sánh dạng bài tập cần phải đặt
ra và giải thích được là tại sao phải làm thế này? Làm như thế này có lợi gì?
Thực tế cho thấy, khi trả lời các BTTT sáng tạo, HS thường chỉ đưa ra cáchthực hiện cuối cùng theo cảm tính mà “giấu” đi phần lập luận cần thiết, chính vì vậytrong giờ học vật lí, GV nên thường xuyên chỉ rõ những ứng dụng về mặt kĩ thuậtcủa các quy tắc, các định luật vật lí trong đời sống thực tế, nhằm rèn luyện tư duy kĩthuật và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS
- Kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của phương án lựa chọn
Bên cạnh việc dùng lí thuyết (kiến thức vật lí) để kiểm tra thì một trong cácbiện pháp có hiệu quả nhất để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của phương án đãlựa chọn là tiến hành thực nghiệm Ở các trường THPT hiện nay, do những khókhăn về cơ sở vật chất nên biện pháp này khó có thể thực hiện được một cách triệt
để, trong những điều kiện như thế nên tận dụng những thí nghiệm đơn giản có thể
tự làm bằng những vật dụng thông thường (có sẵn trong gia đình)
1.3.3 Vai trò của bài tập thực tế trong việc bồi dưỡng năng lực tự học vật lí cho học sinh
Giải bài tập vật lí là một trong những hình thức rèn luyện chủ yếu và được tiếnhành nhiều nhất Trong mỗi tiết học, hoạt động giải BTTT có thể tham gia vào cácquá trình
- BTTT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập thông tin
Quá trình TH được bắt đầu từ việc thu thập các thông tin liên quan đến vấn đềcần được giải quyết Để giải quyết được các yêu cầu của bài tập đặt ra, buộc ngườihọc phải tìm kiếm, thu thập các thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau, từ đótìm ra mối liên hệ cần thiết giữa vấn đề chưa biết và vấn đề đã biết để giải quyết yêucầu mà BTTT đặt ra
Kĩ năng thu thập thông tin còn được thể hiện ở kĩ năng lựa chọn tài liệu và sắp
Trang 38thông tin như hiện nay, việc lựa chọn đúng, đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đặt
ra là hết sức cần thiết, đảm bảo cho người học tiết kiệm thời gian, giải quyết được vấn
đề đặt ra đồng thời tích lũy được kiến thức để nâng cao chất lượng học tập của mình.BTTT là phương tiện để rèn luyện cho HS kĩ năng này, bởi với yêu cầu đặt ra của bàitập, trong khoảng thời gian nhất định đòi hỏi người học phải hoàn thành nhiệm vụcủa mình thì người học phải biết lựa chọn và sắp xếp các thông tin cần thiết một cáchkhoa học để từ đó thiết lập mối liên hệ và giải quyết được bài tập
- BTTT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng xử lí thông tin
Từ những thông tin thu thập được, để có thể sử dụng hiệu quả các thông tin,
HS cần phải xử lí các thông tin đó Xử lí thông tin giúp HS nâng cao hiểu biết vềthông tin và từ đó có thể rút ra được các kết luận, quy luật
Quy trình giải BTTT phải được thực hiện qua các kĩ năng như phân tích, tổnghợp, so sánh Các kĩ năng này không chỉ để giải quyết các yêu cầu cơ bản củachương trình mà còn phải giải quyết những vấn đề tương tự ở mức cao hơn Từ đó
kĩ năng xử lí thông tin của người học sẽ được hình thành và phát triển
- BTTT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.Thông tin sau khi đã được thu thập và xử lí sẽ giúp người học có thêm nhữnghiểu biết, những kiến thức mới Tuy nhiên việc vận sụng các thông tin này vào thực
tế là điều không kém phần quan trọng Bởi khi vận dụng vào thực tế, người học sẽhiểu sâu sắc hơn các vấn đề mà mình đã thu nhận được Từ đó giúp cho kiến thứccủa người học được bổ sung, bồi đắp phong phú hơn và có thể khám phá thêmnhững kiến thức mới, những hệ quả mới
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm có liên quan chặt chẽ với đời sống và kĩ thuậtnên việc giải quyết các BTTT sẽ xây dựng được ở người học kĩ năng vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn, tạo cho người học thói quen liên hệ giữa việc học và hành, giữa líthuyết và thực tế, từ đó làm cho kiến thức của HS ngày càng bền vững, sâu sắc hơn
- BTTT để phát triển tư duy vật lí: Trong thực tiễn dạy học, tư duy vật lí của
HS thường hiểu là kĩ năng quan sát hiện tượng vật lí, phân tích một hiện tượng phứctạp thành những bộ phận thành phần và xác lập ở trong chúng những mối liên hệgiữa các mặt định tính và định lượng của các hiện tượng và của các đại lượng vật lí,đoán trước các hệ quả từ các lí thuyết và áp dụng được kiến thức của mình Để giải
Trang 39BTTT, HS phải phân tích hiện tượng, vận dụng các thao tác tư duy để tìm hiểu, giảiquyết vấn đề, rút ra kết luận cần thiết Nhờ thế, tư duy được phát triển và năng lựclàm việc tự lực của HS được nâng cao.
- BTTT là phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá và tựđiều chỉnh
Kiểm tra, đánh giá là một kĩ năng quan trọng của người học, bởi qua kiểm trađánh giá thì người học mới biết được trình độ TH của mình đạt đến mức độ nào,kiến thức mình nắm được về một vấn đề nào đó đến đâu, từ đó điều chỉnh cách thức
TH cho thích hợp, hiệu quả
Trong quá trình dạy vật lí, BTTT có thể được sử dụng là phương tiện để rènluyện kĩ năng kiểm tra, đánh giá cho HS Bởi qua kết quả việc giải quyết vấn đề đặt
ra trong bài tập, người học sẽ tự biết mình đã nắm được vấn đề đó đến đâu, nguyênnhân của những sai sót, kiến thức nào còn thiếu để từ đó tìm cách bổ sung, bù đắp.Dần dần, HS sẽ biết cách tự kiểm tra, đánh giá mình và tự điều chỉnh những sai sótcủa mình trong quá trình học tập để đạt hiệu quả cao nhất
- BTTT với việc giáo dục tư tưởng đạo đức, kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp:Vật lí là môn học liên quan đến nhiều hiện tượng trong đời sống Những kiến thức vật
lí cũng được ứng dụng trong kĩ thuật và cuộc sống hằng ngày HS khi giải BTTT là tìmđến bản chất của các vấn đề đó và áp dụng nó giải quyết các vấn đề cuộc sống
1.4 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của bài tập thực tế
1.4.1 Tăng cường sử dụng bài tập thực tế rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong giai đoạn mở đầu và nghiên cứu tài liệu mới
Kiến thức mới khi được hình thành chủ yếu là sự kế thừa và phát triển cáckiến thức mà HS đã học ở bậc THCS hoặc dựa vào các khái niệm được hìnhthành từ kinh nghiệm cuộc sống Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS,
GV có thể sử dụng hệ thống BTTT phù hợp với các bước của quá trình nghiêncứu kiến thức mới, cụ thể:
- Ở phần mở đầu: GV nên chọn những BTTT dưới dạng các tình huống có vấn
đề nhằm kích thích hứng thú, tạo nhu cầu cần phải nghiên cứu, giải quyết Yêu cầu
Trang 40vào nội dung kiến thức cơ bản của bài học Có thể sử dụng các biện pháp sau để tạotình huống có vấn đề:
+ Lựa chọn BTTT có nội dung chưa mâu thuẩn nhận thức giữa cái đã biết vàcái chưa biết, mâu thuẩn đó phải tạo ra vừa sức, tạo được cho HS hứng thú nhậnthức và niềm tin có thể nhận thức được Tùy theo đối tượng HS và nội dung từngbài học cụ thể mà có thể lựa chọn các cách tình huống sau:
Lựa chọn các BTTT mà nội dung có tình huống bất ngờ: đó là những sự kiện,hiện tượng mà ta không ngờ tới nó xảy ra như thế Nhiệm vụ cần giải quyết là làmsáng tỏ nguyên nhân khoa học của hiện tượng
Lựa chọn các BTTT mà nội dung có tính xung đột: đó là những sự kiện, hiệntượng chứa những quan điểm trái ngược nhau Nhiệm vụ cần giải quyết là tìm hiểu,phân tích, phê phán những quan điểm sai để tìm ra chân lí
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó có tình huống không phù hợp: đó lànhững sự kiện, hiện tượng trái với quan niệm thông thường của HS Nhiệm vụ cầngiải quyết là phân tích những chỗ sai trong cách hiểu thông thường từ đó tìm ra cáchhiểu khoa học, phù hợp
+ Chú trọng những bài tập thí nghiệm tạo mâu thuẫn giữa cái đã biết và cáichưa biết để khi giải quyết vấn đề dễ thuyết phục HS cả về lập luận lẫn thực tế
- Ở phần nghiên cứu tài liệu, kiến thức mới: có thể tăng cường BTTT theohướng bồi dưỡng NLTH cho HS bằng nhiều cách khác nhau:
+ Chia nội dung kiến thức cần nghiên cứu thành các đơn vị kiến thức nhỏ Đểhình thành các đơn vị kiến thức đó, chúng ta có thể sử dụng các BTTT tương ứng
để giải quyết vấn đề đặt ra và rèn luyện, bồi dưỡng các kĩ năng TH cho HS
+ Tăng cường các BTTT rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tế
+ Tổ chức cho HS trao đổi, thảo luận theo nhóm để đồng thời rèn luyện kĩnăng trao đổi thông tin với các bạn trong nhóm, lớp và GV
1.4.2 Tăng cường sử dụng bài tập thực tế rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức
BTTT là cơ hội để GV đề cập những kiến thức thực tế mà trong giờ học líthuyết chưa có điều kiện để đề cập, qua đó cần tăng cường sử dụng BTTT nhằmcủng cố, hệ thống hóa kiến thức cho HS