Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực ĐTNN được thực hiện thông qua mối liên kết sản xuất giữa DN ĐTNN với DN trong nước, qua đó tạo điều kiện để DN trong nước tiếp cận hoạt động chuyển
Trang 1Câu 1: Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Phân tích, vd thực tiễn?
Tác động tích cực
Thứ nhất, ĐTNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước
Tính đến tháng 8/2012, cả nước có 14.095 dự án ĐTNN còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 206,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đã giải ngân được 97,4 tỷ USD (chiếm 47% vốn đăng ký) ĐTNN là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước: năm 1995 GDP của khu vực ĐTNN tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2000), 13,22% và 8,44% (2005), 8,12% và 6,78% (2010) Tỷ trọng đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDP tăng dần, từ 2% GDP (1992), lên 12,7% (2000), 16,98% (2006) và 18,97% (2011) Tác động của ĐTNN đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ hơn thông qua:
Góp phần quan trọng vào xuất khẩu
Chủ trương khuyến khích ĐTNN hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực ĐTNN chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở 10 thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012
Bên cạnh đó, ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo (1)
ĐTNN tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ,
EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Ngoài ra, ĐTNN còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp (DN) trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây
Đóng góp vào nguồn thu ngân sách
Đóng góp của ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 – 2010) Năm 2012, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7% tổng thu nội địa, trừ dầu thô)
Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
- điện đại hóa
Trang 2Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng với trình
độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước Tốc độ tăng trưởng công nghiệp -xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành Đến nay, khu vực ĐTNN đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng
ĐTNN đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo
ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương
Khu vực ĐTNN đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, lô-gi-stíc, siêu thị Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Thứ ba, ĐTNN tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động
Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3- 4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa DN ĐTNN được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản
lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Ngoài ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng
Thứ tư, ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế
Khu vực ĐTNN sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực Từ năm 1993 đến nay, cả nước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt/đăng ký, trong đó có 605 hợp đồng của DN ĐTNN, chiếm 63,6%
Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực ĐTNN đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực Xét về cấp độ chuyển giao công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hiệu quả cao nhất Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, ô
tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất
Trang 3Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực ĐTNN được thực hiện thông qua mối liên kết sản xuất giữa DN ĐTNN với DN trong nước, qua đó tạo điều kiện để DN trong nước tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ
Nhìn chung, khu vực ĐTNN có tác động lan tỏa gián tiếp tới khu vực DN sản xuất trong nước cùng ngành và DN dịch vụ trong nước khác ngành Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ với DN ĐTNN, DN trong nước ứng dụng công nghệ sản xuất tương
tự để sản xuất sản phẩm/dịch vụ thay thế và sản phẩm/dịch vụ khác để tránh cạnh tranh Đồng thời có tác động tạo ra các ngành sản xuất, dịch vụ khác trong nước để hỗ trợ cho hoạt động của các DN ĐTNN
Thứ năm, ĐTNN có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp độ quốc gia, DN và sản phẩm
Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Kết quả phân tích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực ĐTNN cao hơn so với khu vực trong nước
Đồng thời, khu vực ĐTNN đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh của khu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
Thứ sáu, ĐTNN góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị DN, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh.
Thực tiễn ĐTNN đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản lý kinh tế
và DN, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thế hội nhập
Thứ bảy, ĐTNN đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế
Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước
Tác động tiêu cực
a) Chuyển giao công nghệ
Nước tiếp nhận đầu tư có thể sẽ nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp Các công ty nước ngoài thường chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc
thiết bị cũ Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các
nước nhận đầu tư như là
- Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó Do đó nước
Trang 4nhận đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp
liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận
- Gây tổn hại môi trường sinh thái Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế phải bảo
vệ môi trường theo các quy định rất chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu môi trường sang các nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không hữu hiệu
- Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới
b) Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đước chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác
Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn Nhưng vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng tiếp nhận kỹ thuật của từng nước Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật và có ảnh hưởng tích cực ban 7đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chóng phát triển công nghệ nội đại, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trrường tiêu thụ và tiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽ được rất nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia
c) Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp
- Chi phí của việc thu hút FDI:
Để thu hút FDI, các nước đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu tư như là giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài Hoặc việc giảm tiền cho họ cho việc thuê đất, nhà xưởng và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước Hay trong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan Và như vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu tư
có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được Thế mà, các nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào Các nhà đầu tưt hường tính giá cao cho các nguyên vật liệu,bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thịtrường Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ
Trang 5sảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách của nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được
- Sản xuất hàng hóa không thích hợp:
Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường Ví dụ như khuyến khích dùng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv
d Xuất hiện nguy cơ rửa tiền Theo cảnh báo của WB thì Việt Nam sẽ bị các tổ
chức rửa tiền quốc tế chọn làm mục tiêu vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng ở nước ta còn kém phát triển, mức độ sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức còn cao Bên cạnh đó, Việt Nam đang trên con đường mở cửa kinh tế và được đánh giá là nền kinh tế có tính chất mở hàng đầu thế giới Việc kiểm soát lỏng lẻo các dòng tiền vào ra đã tạo điều kiện thuận lợi để tội
phạm thực hiện hoạt động rửa tiền Nguồn vốn FDI có thể là một kênh thuận lợi cho
việc tổ chức hoạt động rửa tiền Các tổ chức phi pháp có thể tiến hành đầu tư vào nước ta với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng thực chất không phải để hoạt động mà nhằm hợp pháp hóa các khoản tiền bất hợp pháp
Câu 2: Đánh giá môi trường đầu tư nươc ngoài tại việt nam :
Nếu theo dõi quá trình thu hút vốn đầu tư của việt nam trong khoảng 3 năm trở lại đây, thì vn đã khá thành công trong việc thu hút vốn fdi Đặc biệt, là từ các nước châu
á như: hàn quốc, nhật bản, singapore, và nếu nhìn vào tăng trưởng GDP trong cả giai đoạn thì vn cũng là một trong những điểm đến số một tại châu á Do đó, nếu nhìn vào các số liệu trong cả giai đoạn và so sánh với hiện tại có thể thấy hiện thu hút fdi vào
vn có giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái; năm 2013 thu hút FDI tăng khá mạnh so
với năm 2012 (Theo các báo cáo nhận được, tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2013
cả nước có 1275 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký là 14,272 tỷ USD, tăng 70,5% so với cùng kỳ năm 2012 và 472 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,355 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng
kỳ năm 2012) trước đó, năm 2011 vốn FDI thu hút khá cao và giảm mạnh vào năm
2012 (tính từ 1/1/2012 đến 31/12/2012, cả nước đã có 1.287 dự án ĐTNN mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 8,6 tỷ USD, bằng 71,2% so với năm
2011 Trong năm 2012 có 550 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,7 tỷ USD, tăng gấp 2,3 lần so với năm 2011) và đến năm
2013 thì tăng mạnh trở lại nhưng số liệu 6 tháng đầu năm 2014 lại cho thấy đầu tư
FDI vào việt nam có xu hướng giảm ( tính từ 01/01/2014 đến 20/06/2014 cả nước đã
có 656 dự án DTNN mới được cấp GCNDT với tổng số vốn đăng ký là 4,858.7 triệu USD bằng 93,2% so với cùng kỳ năm 2013 Số lượt dự án tăng vốn đạt 219
dự án với tổng số vốn đăng ký tăng thêm 1,993.99 triệu USD bằng 66,6% so với cùng kỳ 2013, ) tuy nhiên, những số liệu đó vẫn chưa phản ánh được hết mức độ đầu
Trang 6tư vào vn , trong bài phát biểu của thủ tướng ở diễn đàn kinh tế vn, thấy rằng chính phủ đã có những cố gắng và những nỗ lực để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng
Do đó, Vn có thể còn thu hút nhiều nhà đầu tư từ nước ngoài hơn nữa và nhất là các doanh nghiệp từ châu âu
Trong một bài báo cáo của ngân hàng thế giới cho thấy, các chỉ số về môi trường đầu
tư của vn đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực, vd như: tổng số giờ phải nộp thuế của doanh nghiệp gấp 4 lần so với trung bình của khu vực châu á thái bình dương , thời gian làm thủ tục xnk cũng gâp nhiều lần so với khu vực Vậy câu hỏi đặt ra là nó có làm cản trờ tăng trưởng kinh tế của vn hay không? Và tất nhiên là có ảnh hưởng đến kinh tế vn Thật ra, các nhà đầu tư thường nhắm đến những nơi mà chính phủ có thể cải thiện môi trường đầu tư và e nghĩ rằng Việt Nam có thể
có những thay đổi những cải cánh hiệu quả Nếu giải quyết được những vấn đề về thủ tục pháp lý rườm rà, và cơ chế chồng chéo đối với một số nhóm thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian so với hiện tại thì e cho rằng điều này sẽ tạo một lực đẩy cho kinh tế việt nam và nếu giải quyết nhanh những vấn đề này thì không những có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài khi đến việt nam mà còn cho cả hoạt động kinh tế tại việt nam nói chung
Câu 4: Bình luận quan điểm: “Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của VN còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và đặc biệt tính hiệu lực còn thấp” Theo anh (chị), VN cần có giải pháp gì để khắc phục, cải thiên tình trạng trên.
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 đánh dấu bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Các dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng đột biến, nhất là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Năm 2007, lượng vốn FDI đăng ký đạt 21,348 tỷ USD, tăng gần 80% so với năm 2006 (năm 2006 đạt 12,044 tỷ USD), và đạt mức kỷ lục gần 72 tỷ USD vào năm
2008 Tuy nhiên, sau đó lượng FDI lại liên tục giảm: năm 2009 đạt 23,107 tỷ USD;
2010 đạt 19,764 tỷ USD; 2011 đạt 14,696 tỷ USD; năm 2012 đạt 16,3 tỷ USD; năm
2013 đạt 21,6 tỷ USD
ĐTNN đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Do vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc hoàn thiện môi trường pháp lý cũng như đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng trong các quy định về đầu tư kinh doanh nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được đưa vào Nghị quyết của Chính phủ, nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư nước ngoài trong thời gian tới Theo các chuyên gia, chưa bao giờ yêu cầu giải quyết các vướng mắc, bất cập cũng như hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, từ đó cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới trong thu hút đầu tư nước ngoài đặt ra cấp thiết như hiện nay Chính vì vậy, đây được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cũng như nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới
Trang 7Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và thu hút đầu tư nước ngoài hiện nay, ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng, sự liên kết và tính lan tỏa chưa cao mà cũng không thấp, công tác quy hoạch đầu tư nước ngoài của các ngành
và địa phương vẫn chưa tập trung, quy trình thủ tục cấp phép thiếu thông thoáng, tồn tại nhiều điều kiện không hợp lý, đặc biệt hậu kiểm sau cấp phép còn yếu, hệ thống văn bản pháp luật thực thi chồng chéo mâu thuẫn
Đặc biệt, về mô hình quản lý đầu tư, theo ông Hoàng là vẫn chưa hợp lý “Vừa qua, chúng ta cấp phép đầu tư lúc vào xem xét rất kỹ nên bị đánh giá là thủ tục rườm rà, nhưng sau khi cấp phép, khâu quản lý còn nhiều vấn đề, đặc biệt là sau khi phân cấp Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thu hút đầu tư nhiều hơn, quy mô lớn hơn, công cụ cũng như bộ máy kiểm soát sau cấp phép về nguyên tắc cũng phải tương xứng, nhưng thực tế, bộ máy đã tương xứng chưa thì vẫn là vấn đề cần bàn”, ông Hoàng băn khoăn
Chính vì vậy, theo ông Hoàng, hiện nay mô hình đầu tư của Việt Nam cần được cải tiến tiệm cận dần với mô hình của thế giới Theo đó, khâu đầu vào cần nhanh thông thoáng đạt tiêu chí là được cấp phép, nhưng sau đó sẽ phải quản lý chặt đảm bảo quản
lý nhà nước đối với hoạt động này
Để thực hiện được mục tiêu đó, ông Hoàng cho rằng cần phải có công cụ quản lý và hàng rào kỹ thuật để đảm bảo thực thi tốt khâu hậu kiểm “Công tác hậu kiểm cần được thực thi bằng hệ thống luật pháp liên quan và cả bộ máy tương ứng và xuất phát
từ ý thức của cả phía DN và cơ quan nhà nước”, ông Hoàng nhấn mạnh Bên cạnh đó, các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ là cải cách thủ tục hành chính, cài thiện cơ
sở hạ tầng, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao chất lượng lao động, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
Ở khía cạnh môi trường pháp lý, TS Nguyễn Anh Tuấn, Tổng Biên tập Báo Đầu tư cho rằng, việc đẩy nhanh rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp lý cũng là điều kiện hết sức quan trọng để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu thu hút và sử dụng dòng vốn FDI Đây chính là mục tiêu then chốt trong công tác hoàn thiện các văn bản luật trọng yếu là Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sửa đổi đang được tiến hành rất khẩn trương và nghiêm túc hiện nay
Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút nguồn ngoại lực
Một là, nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài cần được coi là định hướng
quan trọng nhất, để hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại Theo đó, các dự án được ưu tiên là công nghệ điện tử, tin học, dịch vụ cao cấp, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe hiện đại, xây dựng hạ tầng kỹ thuật
Có định hướng rõ ràng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các DN trong nước nhằm nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài gắn với việc xử lý mối quan hệ giữa thị trường trong nước với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, duy trì cạnh tranh trên thị trường; Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ để giảm bớt việc nhập khẩu nguyên liệu ở nước ngoài, tạo điều kiện cho
Trang 8các ngành công nghệ chế tạo, chế biến phát triển, hạn chế đầu tư nước ngoài vào các ngành gia công, các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp, các ngành sử dụng nhiều năng lượng và tài nguyên là vấn đề rất quan trọng trong thời gian tới; Cần tăng cường sự liên kết, hợp tác giữa DN đầu tư nước ngoài và DN trong nước để hỗ trợ nhau cùng phát triển
Hai là, FDI với kinh tế vùng và địa phương cần được điều chỉnh về quan điểm, nhận
thức để có giải pháp đúng Việc phân bố nguồn lực bao gồm FDI cần được điều chỉnh theo hướng vừa tạo ra một số đầu tàu kinh tế ở những địa phương có sức lôi kéo kinh
tế vùng và cả nước như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng lại phải điều phối hợp lý
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở những địa phương chậm phát triển, chưa có môi trường thuận lợi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Những địa phương này cần được Chính phủ ưu tiên trong việc phân bố nguồn vốn từ NSNN, có chính sách khuyến khích mạnh mẽ DN tại địa phương và DN trong nước Các tập đoàn kinh tế nhà nước có trách nhiệm phân bố nguồn lực cho các địa phương này để giải quyết một
số vấn đề kinh tế - xã hội bức thiết, nhất là xóa đói, giảm nghèo, không làm giãn thêm khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với các địa phương có điều kiện thuận lợi hơn
Ba là, tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các nội
dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung nội dung còn thiếu; sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh Sửa đổi Luật Đầu tư, Luật DN, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Đất đai, Luật Môi trường và các Luật khác liên quan theo hướng nhất quán, tránh chồng chéo, theo đó sửa các nghị định, thông tư liên quan của các Luật trên Rà soát các quy định pháp luật hiện hành quy định về hoạt động mua lại và sát nhập có yếu tố nước ngoài Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý về mua lại và sát nhập hiện đang được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật
Bốn là, tích cực triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán
(TTCK) và DN bảo hiểm đã được phê duyệt Đẩy nhanh việc tái cấu trúc các Sở giao dịch chứng khoán, đa dạng hóa các công cụ cho nhà đầu tư giao dịch, đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài Việc thành lập Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam với các thị trường bộ phận được hình thành và chuyên biệt bao gồm thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường phái sinh sẽ giúp cấu trúc TTCK Việt Nam được hoàn chỉnh, trên cơ sở đó, các sản phẩm, hàng hóa mới dễ dàng được phát triển Đặc biệt, việc tập trung thị trường cổ phiếu về một mối cần được thực hiện nhanh để gia tăng quy mô và hình ảnh về TTCK Việt Nam
Năm là, song song với việc tái cấu trúc TTCK, cần xem xét rà soát bổ sung, sửa đổi
Luật Chứng khoán hiện hành theo hướng tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các giao dịch diễn ra trên TTCK Hoàn thiện cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động của các định chế trên thị trường như các quỹ đầu tư; các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp cả trong nước và nước ngoài, nâng cao chất
Trang 9lượng hàng hóa trên thị trường… Xây dựng thị trường tài chính hiện đại và hiệu quả là hết sức cần thiết để giúp DN có tín hiệu đúng về thị trường và tìm kiếm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình
Sáu là, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân, không cấp phép các dự án công
nghệ lạc hậu, có tác động xấu tới môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất khu công nghiệp Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại dự án, đặc biệt với các dự án quy
mô lớn, sử dụng nhiều đất đai bao gồm cả việc rút giấy phép nếu cần thiết
Bảy là, xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết của
Việt Nam với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn hóa
- y tế - giáo dục, bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng không
Tám là, nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn
đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản… chú trọng và đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và các đối tác lớn Thực hiện chính sách ưu đãi đặc biệt dành cho đối tác chiến lược với sự cam kết cao nhất của Nhà nước cũng như dỡ bỏ các ưu đãi dành cho các nhà đầu tư thông thường Luật Đầu tư cần thiết kế những ưu đãi cụ thể riêng biệt để thu hút các nhà đầu tư chiến lược
từ các đối tác lớn, đặc biệt là từ các công ty đa quốc gia top 500 của thế giới
Chín là, cần có chính sách ưu tiên, đặc thù cho một số địa phương phù hợp thực tế để
dần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong thu hút FDI phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nói riêng và cả nước nói chung
Mười là, xây dựng danh mục đầu tư quốc gia và kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài cho
giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo, kèm theo xây dựng mạng thông tin chi tiết về dự án Xây dựng văn bản pháp quy về công tác xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trong công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư
Câu 5: TS Đỗ Thiên Anh Tuấn: - Việc chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp
FDI thời gian vừa qua không như mong muốn về cả số lượng lẫn chất lượng
Thực trạng này không phải lỗi của các nhà đầu tư FDI mà cũng không phải lỗi của các doanh nghiệp Việt Nam Vấn đề rộng hơn nằm ở chính sách và môi trường thu hút FDI của chúng ta không được thiết kế để khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đã được triển khai từ khá sớm ngay sau khi chúng ta thực hiện đường lối Đổi mới kinh tế Luật Đầu tư nước ngoài
1987 được ban hành trong đó nêu rõ “Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam”
Tuy nhiên trên thực tế, trong giai đoạn đầu chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chúng ta được thiết kế theo kiểu đại trà, có gì ăn đó Trong quá trình quản lý cấp phép
Trang 10đầu tư, chúng ta đặt ra một số điều kiện và tiêu chuẩn nhưng thực ra là đánh đồng nó với quy trình và thủ tục
Chính sách này ban đầu được áp dụng ở cấp trung ương, sau đó do quá trình phân cấp đầu tư lại được chuyển giao cho cấp địa phương thực hiện Các địa phương, cũng do chạy theo thành tích mà việc thu hút đầu tư cũng trở nên gấp gáp, chỉ để lấp đầy các khu công nghiệp hoặc có vốn để bổ sung vào chỉ tiêu vốn đầu tư
Họ thậm chí tìm cách lách qua mọi ngõ ngách của quy định để thu hút đầu tư mà không hề tính đến một lộ trình phát triển lâu dài cho địa phương, không căn cứ vào lợi thế so sánh cũng như điều kiện cụ thể của từng địa phương
Để thu hút được dòng vốn nước ngoài, chúng ta đưa ra rất nhiều biệt đãi chẳng hạn như ưu đãi thuế hay chính sách thuê đất nhưng không kèm theo những ràng buộc Do không có ràng buộc phù hợp nên nhiều doanh nghiệp FDI đến Việt Nam chỉ để tận dụng các biệt đãi này mà hầu như không phải thực hiện cam kết nào, và một khi các
ưu đãi này không còn họ sẽ tìm kiếm các ưu đãi khác hoặc rút đi khi môi trường không còn thuận lợi so với các nước khác
Các mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài cho đến gần đây thường được dẫn ra hết sức chung chung theo kiểu lý thuyết, chẳng hạn như bổ sung vốn đầu tư cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, cải thiện thu nhập người lao động, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tăng năng lực xuất khẩu… trong khi hầu như không thấy một chiến lược thu hút đầu tư nhằm vào từng mục tiêu cụ thể phù hợp với từng thời kỳ
và đặc điểm địa phương Chính vì điều này mà chúng ta không có được các phương án
và kế hoạch cụ thể để khuyến khích và thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ Việc chuyển giao công nghệ xét cho cùng cũng xuất phát từ vấn đề lợi ích và chi phí Khi các doanh nghiệp FDI không nhìn thấy các lợi ích ròng có tính chất dài hạn rõ ràng từ việc chuyển giao công nghệ thì họ không có động cơ gì để phải chia sẻ hiểu biết và chuyển giao công nghệ Trong trường hợp này, các quy định có tính chất gây
áp lực buộc chuyển giao công nghệ mang tính hành chính sẽ không thể giải quyết được vấn đề
Ngoài ra, nếu nhìn ở nguồn FDI, rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến từ các nước trong khu vực, ở đó trình độ công nghệ không quá cao và không thể cạnh tranh so với các nước tiên tiến Do đó, ngay cả khi các công nghệ này được chuyển giao thì trình
độ công nghệ mà doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp nhận và học hỏi được cũng không phải là thứ chúng ta đặt kỳ vọng
Một số doanh nghiệp FDI quy mô lớn, tầm cỡ quốc tế, có trình độ công nghệ thuộc dạng hàng đầu thế giới cũng đã bắt đầu có mặt ở Việt Nam Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước của chúng ta đa phần là quy mô nhỏ, có tiềm lực tài chính yếu kém, không đủ khả năng tiếp cận công nghiệp hiện đại của thế giới, lại khó với tới các chuẩn mực cao để hợp tác được với các doanh nghiệp FDI có nền tảng công nghệ tiên tiến