Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào Việt Nam chiếm ¼ đầu tư xã hội, các doanh nghiệp FDI cũng là động lực chính góp phần gia tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu. Điều này cho thấy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là sách lược quan trọng với Việt Nam. Năm 2009 là đỉnh cao của đầu tư tại Việt Nam. Theo một cơ quan thống kê nổi tiếng thế giới thì thời kì này chỉ số đầu tư ở Việt Nam cao nhất trên thế giới. Hiện nay Nhật Bản giữ vị trí số 1 về đầu tư tại Việt Nam.Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư FDI tại Việt Nam đang có xu hướng suy giảm. Vậy nguyên nhân do đâu dẫn đến tình trạng trên? đầu tư là một lĩnh vực quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội do đó không thể nào xem nhẹ quá trình đầu tư. bài viết đưa ra một số vấn đề về đầu tư tại việt nam, thực trạng và một số giải pháp đặt ra.
Trang 11 Tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào Việt Nam chiếm ¼ đầu tư xãhội, các doanh nghiệp FDI cũng là động lực chính góp phần gia tăng xuất khẩu,kiểm soát nhập siêu Điều này cho thấy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn
là sách lược quan trọng với Việt Nam Năm 2009 là đỉnh cao của đầu tư tại ViệtNam Theo một cơ quan thống kê nổi tiếng thế giới thì thời kì này chỉ số đầu tư
ở Việt Nam cao nhất trên thế giới Hiện nay Nhật Bản giữ vị trí số 1 về đầu tưtại Việt Nam.Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư FDI tại Việt Nam đang có xu hướngsuy giảm Vậy nguyên nhân do đâu dẫn đến tình trạng trên? Cách đây 20 năm,Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho đầu tư nước ngoài vì lao động rất rẻ, tàinguyên nhiều và ưu đãi lớn, thậm chí chúng ta bỏ tiền ra để giải phóng mặt bằngcho họ Nhưng bây giờ những lợi thế đó dần mất đi và chúng ta phải thắt chặtlại, chọn những dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, ít ô nhiễm môi trườnghơn, khiến thu hút FDI trở nên khó khăn Trong khi đó, hạ tầng của Việt Namkhông tốt, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến môi trường củachúng ta giảm xuống Nhân công giá rẻ cũng không còn là lợi thế nữa vì kinh tếViệt Nam đã có tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên nên mứclương tối thiểu cũng tăng lên Đây là điểm mà doanh nghiệp nước ngoài rất sợ Nhìn lại tình hình đầu tư tại Việt Nam trước và trong giai đoạn hiện nay cóthể thấy đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bên cạnh việc đạt được những thànhtựu nhất định cũng tồn tại nhiều điểm hạn chế
Mặt tích cực:
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài (ĐTNN) góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước
Đến hết tháng 12-2012, cả nước có 14.522 dự án ĐTNN còn có hiệu lựcvới tổng số vốn đăng ký 210,5 tỉ đô la Mỹ, trong đó vốn thực hiện là 100,6 tỉ đô
la, chiếm 47% vốn đăng ký Khu vực ĐTNN đóng góp 19% GDP cả nước (năm2011), vốn ĐTNN chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, doanh nghiệp
Trang 2ĐTNN đóng góp đến 65% giá trị xuất khẩu của cả nền kinh tế, tạo hơn 2 triệuviệc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa FDI đăng ký tăng trở lại trong năm 2012 và 8 tháng năm 2013 tăng19,5%; FDI thực hiện 8 tháng 2013 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước Tất cả
63 tỉnh, thành phố của cả nước đều có vốn FDI, trong đó có 27 tỉnh, thành phố
có số vốn đăng ký đạt trên 1 tỷ USD Tác động của ĐTNN đối với tăng trưởngkinh tế thể hiện rõ hơn thông qua:
- Bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội
- Tỷ trọng khu vực ĐTNN trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 – 2011 tăng5,4%
- Góp phần quan trọng vào xuất khẩu: Chủ trương khuyến khích ĐTNNhướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lựcxuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trongchuỗi giá trị toàn cầu Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực ĐTNN chỉ đạt45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực nàybắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở 10 thành nhân tố chính thúc đẩyxuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 Bên cạnh
đó, ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm
tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo
- Đóng góp vào nguồn thu ngân sách: Đóng góp của ĐTNN vào ngân sáchngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 – 2010).Năm 2012, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) là 3,7 tỷUSD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7% tổng thu nội địa, trừ dầu thô)
Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa - điện đại hóa
Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xâydựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước Tốc độ tăngtrưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm,cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành Đến nay, khu vực ĐTNN đã tạo ra gần
Trang 345% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành côngnghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện
tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng
ĐTNN đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đadạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thumột số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng caođạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất làcác dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quáncanh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương
Khu vực ĐTNN đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượngcao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán,
tư vấn luật, vận tải biển, lô-gi-stíc, siêu thị Các dịch vụ này cũng góp phần tạo
ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt độngthương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Thứ ba, ĐTNN tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay
đổi cơ cấu lao động
Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng
3-4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao độngtheo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Ngoài ra, ĐTNN đóng vai trò quantrọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa laođộng, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng
Thứ tư, ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng
cao trình độ công nghệ của nền kinh tế
Khu vực ĐTNN sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến
đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực Từ năm 1993 đến nay, cảnước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt/đăng ký, trong
đó có 605 hợp đồng của DN ĐTNN, chiếm 63,6%
Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực ĐTNN đã góp phầnthúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công
Trang 4nghệ trong nhiều lĩnh vực Xét về cấp độ chuyển giao công nghệ, công nghiệpchế biến, chế tạo đạt hiệu quả cao nhất Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một
số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễnthông, tin học, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễnthông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất
Nhìn chung, khu vực ĐTNN có tác động lan tỏa gián tiếp tới khu vực DNsản xuất trong nước cùng ngành và DN dịch vụ trong nước khác ngành Bêncạnh đó, thông qua mối quan hệ với DN ĐTNN, DN trong nước ứng dụng côngnghệ sản xuất tương tự để sản xuất sản phẩm/dịch vụ thay thế và sản phẩm/dịch
vụ khác để tránh cạnh tranh Đồng thời có tác động tạo ra các ngành sản xuất,dịch vụ khác trong nước để hỗ trợ cho hoạt động của các DN ĐTNN
Thứ năm, ĐTNN có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp độ
quốc gia, DN và sản phẩm
Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứngvững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Kết quả phân tích các chỉtiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào
và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấynăng lực cạnh tranh của khu vực ĐTNN cao hơn so với khu vực trong nước.Đồng thời, khu vực ĐTNN đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh củakhu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩynăng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng caotrình độ công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
Thứ sáu, ĐTNN góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị DN,
tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh
Thực tiễn ĐTNN đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tácquản lý kinh tế và DN, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trìnhhoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch,phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với
xu thế hội nhập
Trang 5Thứ bảy, ĐTNN đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế.
Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệpđịnh khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và Hiệp định đối tác kinh
tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước
Mặt hạn chế:
Thứ nhất, hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao.
Trong công nghiệp – xây dựng, các dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN) chủyếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ sở hạ tầng;
tỷ trọng dự án trong nông – lâm – ngư nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dầntrong khi đây là những ngành Việt Nam có thế mạnh
Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy mô lớn còn cao song nhiềutrong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất đai, vay vốn trong nước.ĐTNN vào các dịch vụ trung gian, dịch vụ giá trị gia tăng cao, giáo dục đào tạo,
y tế, chăm sóc sức khỏe, môi trường… còn hạn chế
ĐTNN hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạtầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền,không đạt được mục tiêu hướng ĐTNN vào địa bàn khó khăn Các Khu kinh tế,khu công nghiệp không tạo ra lợi thế khác biệt cho từng địa phương và vùnglãnh thổ
Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ Châu Á, nhà đầu tư nước ngoài làdoanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao Hiện mới chỉ thu hút được trên 100trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới Tỷ lệ vốn thựchiện thấp so với vốn đăng ký, chỉ khoảng 47,2%
Thứ hai, mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn),
chuyển giao công nghệ chưa đạt được như kỳ vọng
Trang 6Trên 80% doanh nghiệp ĐTNN sử dụng công nghệ trung bình của thế giới,5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu, cá biệt có trường hợp
sử dụng công nghệ lạc hậu
Chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang – giữa doanhnghiệp với doanh nghiệp, ít có những biến đổi về trình độ và năng lực côngnghệ
Không ít trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sơ hở của luật pháp,yếu kém trong quản lý nhà nước để nhập khẩu vào Việt Nam máy móc, thiết bịlạc hậu gây ô nhiễm môi trường, khai tăng giá trị nhập khẩu và giá trị chuyểngiao công nghệ
Công nghệ thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu thực hiệnviệc gia công, một số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng nhữngkhâu sử dụng công nghệ cao lại không thực hiện ở Việt Nam Hệ quả là doanhnghiệp Việt Nam tạo ra giá trị gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuấttoàn cầu
Thứ ba, số lượng việc làm tạo ra chưa tương xứng, đời sống người lao động
chưa cao, tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng
Từ năm 1995 đến nay, cả nước đã xảy là 4.142 cuộc đình công, trong đó75,4% (3.122 cuộc) của doanh nghiệp ĐTNN, chủ yếu xảy ra tại doanh nghiệpcủa Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản; tập trung ở ngành gia công, sửdụng nhiều lao động như dệt may, cơ khí, điện tử, da giày xuất phát từ yêu cầu
về lợi ích của người lao động, nhất là vấn đề thỏa thuận mức tiền lương và điềukiện lao động
Tính riêng năm 2011, tỷ lệ việc làm mới do khu vực ĐTNN tạo ra chỉchiếm 3,4% trong tổng số lao động có việc làm Thu nhập bình quân theo thángcủa người lao động trong DN FDI chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhântrong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước
Thứ tư, hiệu ứng lan tỏa của khu vực ĐTNN sang khu vực khác của nền
kinh tế còn hạn chế, có dấu hiệu chèn lấn
Trang 7Mặc dù doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ ĐTNN chủ yếu thôngqua tác động mở rộng thị trường, nhưng từ năm 2007 (Việt Nam chính thứctham gia WTO) đến nay, doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trong nước ở một sốlĩnh vực đã chịu tác động chèn lấn của doanh nghiệp ĐTNN.
Thứ năm, tình hình ĐTNN vào Việt Nam chưa đảm báo tính bền vững.
Tình trạng cạnh tranh trong thu hút ĐTNN khiến một số dự án được cấpphép nhưng chưa bảo đảm tính bền vững
Quy định về môi trường của Việt Nam áp dụng chuẩn của các nước pháttriển, song việc thẩm định chỉ mang tính hình thức, tập trung nhiều vào khâutiền kiểm, dẫn đến nhiều dự án khi triển khai đã vi phạm nghiêm trọng quy định
về môi trường, gây tác động lâu dài tới sức khỏe người dân và hệ sinh thái khuvực
Không ít dự án nhập khẩu máy móc, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môitrường không được phát hiện kịp thời Có chiều hướng dịch chuyển dòng ĐTNNtiêu tốn năng lượng và tài nguyên, nhân lực, không thân thiện với môi trường,vào Việt Nam nhưng nhiều địa phương không có cơ chế kiểm soát về môitrường Một số dự án chiếm giữ đất lớn nhưng không triển khai gây lãng phí tàinguyên
Một số trường hợp thu hút đầu tư chưa tính đến hiệu quả tổng thể cả về anninh quốc phòng, nhất là các dự án trồng rừng, khai thác khoáng sản, nuôi trồngthủy, hải sản ở vùng nhạy cảm về an ninh quốc phòng, một số dự án sử dụngnhiều lao động phổ thông nước ngoài
Thứ sáu, hiện tượng chuyển giá, trốn thuế.
Một số doanh nghiệp ĐTNN có biểu hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giátinh vi như nâng khống giá trị góp vốn (bằng máy móc, thiết bị, bản quyền…),giá trị mua bán nguyên vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ,phí quản lý, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh, cho vay, trả lương, đào tạo, quảngcáo, nhà thầu, chuyển nhượng vốn … tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất
Trang 8thu ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, doanhnghiệp trở thành 100% vốn nước ngoài.
1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTTTRNN) là hoạt động phổ biến và cóquá trình lịch sử trong quan hệ kinh tế quốc tế nhưng là hoạt động khá mới ởViệt Nam những năm vừa qua Đây là hoạt động có tiềm năng to lớn trong việcgiúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, tránh những hàng rào bảo hộ thương mạicủa nước nhận đầu tư, giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với khoa họccông nghệ cao, đồng thời học hỏi những ứng dụng trong công nghệ thông tin, từ
đó nâng cao năng lực của mình ĐTTTRNN đóng góp tích cực cho sự phát triểnkinh tế của Việt Nam, nâng vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế trongtiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội Đảng IX vào tháng 4 năm
2001 đã chính thức xác định chủ trương khuyến khích, hỗ trợ cho các doanhnghiệp và cá nhân Việt Nam ĐTTTRNN, với vai trò của Nhà nước là tạo rakhuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích hoạt động ĐTTTRNN để phát huy lợithế so sánh của đất nước Những năm qua, làn sóng ĐTTTRNN của các doanhnghiệp Việt Nam gia tăng mạnh mẽ, cả về số dự án và quy mô dự án, đa dạng vềđịa bàn và lĩnh vực đầu tư Tuy nhiên, cần có một cái nhìn tổng thể về hoạt độngđầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đánh giá những kết quả tích cực đã đạt được vànhững hạn chế còn tồn đọng, từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề xuất cácgiải pháp thúc đẩy hiệu quả hơn nữa loại hình đầu tư này
Năm 1989, Việt Nam bắt đầu tiến hành hoạt động ĐTTTRNN với duy nhấtmột dự án là dự án giữa đối tác Việt Nam và một đối tác của Nhật Bản với sốvốn đăng ký là 563.380 USD Có thể nói đây là dự án có tính chất mở đườngcho hoạt động ĐTTTRNN của Việt Nam Ngày 14/4/1999, Chính phủ ban hànhNghị định số 22/1999/NĐ-CP quy định về hoạt động ĐTTTRNN Trong nhữngnăm đầu, ĐTTTRNN chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, số dự án cấp mới cũng như sốvốn đăng ký không nhiều Số lượng dự án và quy mô vốn ĐTTTRNN bắt đầu
Trang 9tăng cao từ giai đoạn 2006 - 4/2012, sau khi Chính phủ ban hành các Nghị địnhmới như Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy định về ĐTTTRNN,Nghị định số 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 quy định về ĐTTTRNN tronghoạt động dầu khí và Nghị định số 17/2009/NĐ-CP ngày 16/02/2009 của Chínhphủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 121/2007/NĐ-CP Tínhđến tháng 9/2012, Việt Nam có 720 dự án của các doanh nghiệp Việt Nam đầu
tư ra 59 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư của nhà đầu tư Việt Namđạt trên 14,616 tỷ USD (xem bảng 1)
Bảng 1: Vốn ĐTTTRNN của Việt Nam trong giai đoạn từ 1989 – 9/2012
Giai đoạn
vốn/DA (triệu USD)
SốDA
Tỷ trọng(%) Tổng số
Tỷ trọng(%)
2006 – 9/2012 578 80,50 12.442 95,32 21,53
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Như vậy, có thể thấy, hoạt động ĐTTTRNN của Việt Nam được chia làm bagiai đoạn sau đây:
Giai đoạn thứ nhất từ năm 1989 – 1998: trong thời kỳ này hoạt động
ĐTTTRNN mới chỉ trong giai đoạn thăm dò, các nhà đầu tư của Việt Nam bắtđầu xuất hiện xu hướng tìm kiếm cơ hội ĐTTTRNN Số dự án cũng như vốnđăng ký rất thấp, chỉ có 12 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 9,061 triệu USD,quy mô đầu tư khoảng 0,76 triệu USD/dự án Mỗi năm chỉ có một hai dự ánđược cấp phép, thậm chí không có dự án đầu tư ra nước ngoài nào trong các năm
từ 1995– 1997
Giai đoạn thứ hai từ năm 1999 – 2005: giai đoạn này được đánh dấu bằng
sự ra đời của Nghị định 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quyđịnh về ĐTTTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Cùng với Nghị định này, một
số Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý
Trang 10để thúc đẩy hoạt động ĐTTTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Tổng số dự ántrong giai đoạn này đã lên tới 128 dự án (tại 30 quốc gia và vùng lãnh thổ) vớitổng vốn đầu tư đăng ký đạt 601,292 triệu USD, gấp 10,67 lần về số dự án và66,36 lần về tổng số vốn đăng ký so với giai đoạn 1989 – 1998, quy mô vốnbình quân là 4,70 triệu USD/dự án
Giai đoạn thứ ba năm 2006 – 9/2012: trong giai đoạn này, Việt Nam có
578 dự án ĐTTTRNN với tổng số vốn đăng ký đạt 12.442 triệu USD, tăng 4,52lần về số dự án và gấp 20,69 lần về vốn đầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999 –
2005 Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 21,53 triệu USD/dự án cao hơn rấtnhiều so với các thời kỳ trước Các dự án ĐTTTRNN của các doanh nghiệp ViệtNam trong giai đoạn này cũng có những thay đổi theo hướng thuận lợi hơn.Điểm đến cho ĐTTTRNN của Việt Nam không chỉ là các thị trường quen thuộcnhư Lào, Campuchia, Nga mà còn mở sang cả những quốc gia vốn là các nhàđầu tư lớn tại Việt Nam như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore,Australia, Châu Âu, Châu Mỹ Latinh… Phần lớn các doanh nghiệp, cá nhân saukhi được cấp Giấy chứng nhận ĐTTTRNN đã triển khai thực hiện dự án, trong
đó nhiều dự án đã đi vào hoạt động và bắt đầu có hiệu quả, đặc biệt là các dự ántrồng cao su
Qua việc điểm lại kết quả hoạt động ĐTTTRNN, có thể nhận định những thành công đã đạt được là:
Thứ nhất, hành lang pháp lý quy định về hoạt động ĐTTTRNN ngày càng
được hoàn thiện và đầy đủ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư Việt Namtiến hành hoạt động ĐTTTRNN Kể từ khi có Nghị định Chính phủ vềĐTTTRNN năm 1999 đến nay, cơ chế đã 2 lần sửa đổi và hiện nay Nghị định78/2006/NĐ- CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ quy định về ĐTTTRNN cũngđang được Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
Thứ hai, tính đa dạng của hoạt động ĐTTTRNN thể hiện khá rõ nét, đa
dạng về thị trường, về ngành đầu tư, về quy mô, hình thức đầu tư, về các thànhphần kinh tế và loại hình doanh nghiệp tham gia đầu tư (xem bảng 2 và 3)
Trang 11Bảng 2: ĐTTTRNN phân theo nước tiếp nhận đầu tư (tính tới 4/2012)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư
Bảng 3: ĐTTTRNN phân theo ngành (tính tới tháng 4/2012)
2
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt,
nước nóng, hơi nước và điều hòa
không khí
3 Nông, lâm nghiệp, thủy sản 85 1.854.579.075
4 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 3 1.124.500.000
5 Thông tin và truyền thông 40 1.037.688.098
6 Công nghiệp chế biến, chế tạo 124 517.316.482
7 Hoạt động tài chính, ngân hàng vàbảo hiểm 31 467.830.900
8 Hoạt động Kinh doanh bất động sản 29 191.215.419
9 Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa 129 196.475.876
10 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 25 112.598.487
Trang 1211 Vận tải kho bãi 14 19.523.720
13 Hoạt động chuyên môn, khoa họcvà công nghệ 567 45.160.551
15 Hoạt động Hành chính và dịch vụhỗ trợ 17 99.049.470
16 Cung cấp nước, hoạt động quản lývà xử lý rác thải, nước thải 3 9.371.204
17 Dịch vụ Xúc tiến thương mại 1 687.500
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư
Thứ ba, các dự án ĐTTTRNN đã góp phần mang lại doanh thu ngoại tệ cho
đất nước và nâng cao vị thế hình ảnh của VN trên trường quốc tế Tiêu biểu làmột số dự án đầu tư thành công ở nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí, bưu chínhviễn thông…
Thứ tư, hoạt động ĐTTTRNN đã hình thành một đội ngũ doanh nhân Việt
Nam có năng lực đàm phán trong đấu thầu quốc tế (ngành dầu khí, xây dựng),trong liên doanh với nước ngoài để tổ chức thực hiện các dự án hợp tác đầu tư
Thứ năm, hoạt động ĐTTTRNN đã đóng góp tích cực cho sự phát triển
kinh tế và an sinh xã hội cho địa bàn nước sở tại, tạo công ăn việc làm cho ngườilao động địa phương làm việc cho dự án
Bên cạnh những thành công nêu trên, hoạt động ĐTTTRNN cũng còn bộc
lộ những hạn chế nhất định từ cả phía quản lý nhà nước cũng như phía các nhàđầu tư
Trang 13Về phía quản lý nhà nước: mặc dù có sự hoàn thiện dần về hành lang pháp
lý đối với hoạt động ĐTTTRNN, tuy nhiên, thể chế chính sách chưa thực sựhoàn chỉnh, thường đi chậm so với thực tế, do đó chưa phát huy tác động mộtcách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động ĐTTTRNN
Về phía nhà đầu tư: năng lực cạnh tranh của các nhà đầu tư Việt Nam nhìn
chung còn yếu Ngoại trừ một số doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí, Tậpđoàn Điện lực VN… đa số các doanh nghiệp ĐTTTRNN có tiềm năng khiêmtốn vì vốn ít, khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ quản lý còn hạn chế, thiếu kinhnghiệm hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế, thương hiệu công ty,thương hiệu sản phẩm, dịch vụ chưa có, do vậy gặp khó khăn trong cạnh tranhvới các nhà đầu tư đến từ các nước khác trong đấu thầu, thực hiện liên doanh,liên kết với các đối tác ở nước tiếp nhận vốn đầu tư
2 Thực trạng về pháp luật đầu tư và giải pháp
2.1 Thực trạng về pháp luật đầu tư
2.1.1 Những bất cập trong quy định pháp luật về đầu tư
Thủ tục đầu tư (đăng ký đầu tư, thẩm tra đầu tư)
Điểm nổi bật của Luật Đầu tư 2005 là các quy định thông thoáng về quytrình, thủ tục thực hiện dự án đầu tư Theo đó, Luật đã áp dụng phổ biến chế độđăng ký đầu tư; bãi bỏ hàng loạt các quy định mang tính chất xin - cho, kiểmduyệt đối với nhà đầu tư; chuyển thủ tục quản lý hoạt động của dự án đầu tư từ
cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm
Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, một số quy định của Luật như:Quy định đăng ký dự án đầu tư tại điều 45, 46 Luật đầu tư; các điều 42, 43 và 44Nghị định 108/2006/NĐ-CP; Quy định về thẩm tra dự án đầu tư tại các điều 47– 49 Luật đầu tư, các điều 37 đến 40, 45 đến 49 Nghị định 108/2006/NĐ-CP còntồn tại một số hạn chế chủ yếu sau:
Có sự trùng lặp giữa thủ tục đầu tư theo luật đầu tư và thủ tục về đất đai,xây dựng công trình và bảo vệ môi trường Cụ thể, khi so sánh tiêu chí để giải
Trang 14quyết các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng và môi trường thì phát hiện là cóhàng loạt tiêu chí trùng nhau:
Một là, căn cứ cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) theo trình tự thẩmtra dự án (Điều 48 Nghị định 108/2006/NĐ-CP) và căn cứ giao đất, cho thuê đất(Điều 31 Luật Đất đai) đều có tiêu chí là: (i) Phù hợp quy hoạch sử dụng đất; (ii)Phù hợp quy hoạch xây dựng; và (iii) Nhu cầu sử dụng đất
Hai là, căn cứ thẩm tra cấp GCNĐT và thiết kế cơ sở của dự án đầu tư xâydựng công trình đều có việc thẩm định sự phù hợp quy hoạch về xây dựng
Ba là, căn cứ cấp GCNĐT và thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựng côngtrình đều quy định phải thẩm tra giải pháp về môi trường Điều này rõ ràng làtrùng lặp và chồng chéo với thẩm tra Báo cáo Đánh giá tác động môi trườnghoặc Đăng ký cam kết bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định khá cụthể, chi tiết tại luật bảo vệ môi trường và quy định hướng dẫn thi hành
Hình thức đầu tư và phạm vi điều chỉnh
Hình thức đầu tư được phân thành: đầu tư trực tiếp xác định dưới 7 hìnhthức theo (điều 21 Luật Đầu tư) và đầu tư gián tiếp được xác định dưới 3 hìnhthức (điều 26 Luật Đầu tư)
Trong nhiều trường hợp không phân biệt được giữa các khái niệm này vớinhau, ví dụ “mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư” và
“mua cổ phần, trái phiếu, giấy tờ khác”,… Nhiều hình thức đầu tư ở đây không
rõ trình tự, thủ tục thực hiện, đặc biệt là hoạt động mua cổ phần, góp vốn nhưngđược phân vào loại “đầu tư gián tiếp” Điều này gây rất nhiều rủi ro cho doanhnghiệp và làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước
Do phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư rộng, bao quát toàn bộ hoạt độngđầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đầu tư sử dụng vốn nhà nước và đầu tư
tư nhân, đầu tư ra nước ngoài… nên một số quy định của Luật còn chồng chéovới quy định của các Luật khác Ngay sau khi Luật Đầu tư và Nghị định108/2006/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, một loạt các đạo luật chuyên ngành cóliên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được ban hành và/hoặc sửa đổi
Trang 15(như Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản,Luật Chứng khoán ) Các luật này cùng điều chỉnh hoạt động đầu tư, nhưng lạikhông có sự phân định rõ ràng với Luật Đầu tư về phạm vi, đối tượng áp dụngnên việc thực thi đã không tránh khỏi trùng lặp, thậm chí xung đột với quy địnhcủa Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP, đặc biệt là các vấn đề có liênquan đến quy trình, thủ tục thực hiện dự án đầu tư
Nhà đầu tư nước ngoài
Trong luật đầu tư có sử dụng rất nhiều khái niệm khác nhau có liên quanđến việc xác định nhà đầu tư, bao gồm: nhà đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế 100% vốn trong nướchoặc nước ngoài, tổ chức kinh tế liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu
tư vào Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, các khái niệm này chưađược xác định rõ ràng
Điểm mấu chốt và còn nhiều tranh cãi liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài
là chưa xác định được một cách thống nhất “doanh nghiệp được thành lập ở ViệtNam có sử hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài” thì có coi là nhà đầu tư nướcngoài không? Nếu có thì với điều kiện gì?Nếu không coi doanh nghiệp đượcthàn h lập ở Việt nam có sử hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài là nhà đầu tưnước ngoài như kinh nghiệm một số nước thì có thể có nguy cơ bị “lách luật” đểkinh doanh trong ngành, nghề hạn chế đầu tư nước ngoài Nếu coi họ là nhà đầu
tư nước ngoài thì sẽ phát sinh rất nhiều khó khăn mà không giải quyết được Luật đầu tư sẽ không thể giải quyết được một cách triệt để vấn đề xác địnhdoanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam có sở hữu của tổ chức, cá nhân nướcngoài có phải là nhà đầu tư nước ngoài không Các quy định về ngành nghề kinhdoanh có điều kiện sẽ phải cụ thể hóa quy định này trong các trường hợp cụ thể
Tạm ngừng, dãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư
Điều 64 Luật đầu tư quy định trường hợp tạm ngừng thực hiện dự án Điều 67 Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định cả việc tạm ngừng và giãntiến độ thực hiện dự án
Trang 16Những quy định của pháp luật về tạm ngừng, dãn tiến độ thực hiện dự ánđầu tư còn thiếu nhiều nội dung:
- Trình tự, thủ tục không rõ ràng; thiếu nhiều “bộ phận” như: hồ sơ, tiêuchí, trình tự, thủ tục, kết quả của thủ tục
- Thông báo về việc ngừng, hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án không có yêucầu về nội dung, hình thức và không có mẫu
- Không rõ hình thức và hiệu lực của việc “cho phép” tạm ngừng hoặc giãntiến độ thực hiện dự án Chưa phân biệt được việc tạm ngừng hoặc giãn tiến độthực hiện dự án do nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan; do đó,chưa xác định được cách giải quyết tương ứng
Chấm dứt dự án đầu tư
Được quy định tại Điều 64 Khoản 2, Điều 65 và Điều 68 Khoản 2 Luật Đầu
tư Xét về tính đầy đủ của thủ tục, các quy định của luật và nghị định về chấmdứt dự án đầu tư thiếu các nội dung về:
- Điều kiện chấm dứt dự án đầu tư
- Hồ sơ thực hiện thủ tục
- Trình tự thủ tục chấm dứt dự án đầu tư
- Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt dự án đầu tư
Các quy định về chấm dứt dự án quá sơ sài nên thể hiện sự không rõ ràng,
cụ thể và sẽ khó thực hiện trên thực tế
Điều chỉnh, thay đổi dự án đầu tư
Các quy định của pháp luật về việc điều chỉnh, thay đổi dự án đầu tư thểhiện sự chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng
- Thiếu quy định về tiêu chí giải quyết sẽ tạo ra một sự tùy tiện rất lớn choquan nhà nước và tạo ra rủi ro rất lớn cho doanh nghiệp trong quá trình kinhdoanh, đặc biệt là trong trường hợp phải thay đổi do yếu tố khách quan, bất khảkháng Đồng thời, thiếu tiêu chí giải quyết việc thay đổi có thể làm giảm hiệulực của luật hoặc làm cho luật không đạt được mục tiêu đề ra