1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái nuôi tại trại bình minh mỹ đức hà nội

65 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 821,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là tiền đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến năng suất, quyết định đến số lượng con

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: 45 CNTY - N03

Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn:TS Cù Thị Thúy Nga

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá tình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học Được sự giúp đỡ giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự giúp đỡ tận tình

của cô giáo TS.Cù Thị Thúy Nga, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn

thành báo cáo này

Qua đây tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cấp ủy, chính quyền

xã Phù Lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội, trại lợn Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội, và các cán bộ kỹ thuật của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Hoàng Thị Thanh Thủy

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 33 Bảng 4.2: Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ 34 Bảng 4.3: Lịch vệ sinh khử trùng tại cơ sở 36 Bảng 4.4: Quy trình sử dụng vaccine và các chế phẩm thú y phòng bệnh cho đàn lợn của Trại 37 Bảng 4.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40 Bảng 4.6 Số lượng và cơ cấu đàn lợn của trại 41 Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại (n =30) 42 Bảng 4.8: Khả năngsinhsảncủalợn CP 909 (n= 20) 45 Bảng 4.9: Các chỉ tiêu về lợn con của lợn nái CP 909 46 Bảng 4.10: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại(n=50) 47 Bảng 4.11: Ảnh hưởng của một số bệnh sản khoa đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 50

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐDLĐ: Động dục lần đầu KLCS: Khối lƣợng cai sữa KLSS: Khối lƣợng sơ sinh

Nxb: Nhà xuất bản PGLD: Phối giống lần đầu SCĐR: Số con đẻ ra

SCĐRCS: Số con để ra còn sống TTTA: Tiêu tốn thức ăn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1

1.2.1 Mục tiêu 1

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 7

2.2.1 Đối tượng sản xuất 7

2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây 7

2.3 Tổng quan tài liệu 7

2.3.1 Cơ sở khoa học 7

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29

3.3 Nội dung nghiên cứu 29

Trang 7

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 30

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 32

4.1.1 Công tác chăn nuôi 32

4.1.2 Công tác thú y 35

4.1.3 Công tác khác 39

4.2 Kết quả thực hiện đề tài 41

4.2.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại lợn Bình Minh 41

4.2.2 Mộtsốđặcđiểmsinhlýsinhsảncủalợnnái nuôi tại trại 41

4.2.3 Khả năngsinhsảncủalợn CP 909 44

4.2.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu về lợn con 46

4.2.5 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại 47

4.2.6 Ảnh hưởng của một số bệnh sản khoa đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 50

4.2.7 Đề xuất một số biện pháp để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái 50 Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ở Việt Nam ngành chăn nuôi đã và đang được quan tâm phát triển Trong các ngành chăn nuôi thì chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong

sự phát triển kinh tế của đất nước Hiện nay thịt lợn chiếm khoảng 80% nhu cầu về thịt cho tiêu dùng trong nước.Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống

kê, tính đến tháng 10-2016, cả nước có 27,75 triệu con lợn Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong năm 2016 ước tính đạt 3,48 triệu tấn.So với các nước trên thế giới, hiện Việt Nam xếp thứ 5 về tổng đầu lợn, đứng thứ 6 về thịt lợn hơi, đứng thứ ba trong Top 20 nước nuôi nhiều lợn nái nhất Đi ̣nh hướng đến năm 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển sang phương thức trang tra ̣i , công nghiê ̣p đáp ứng như cầu thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu

Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là tiền đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến năng suất, quyết định đến số lượng con giống sản xuất Việc đánh giá năng xuất sinh sản đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn giống và nhân giống vật nuôi Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì còn gặp không ít khó khăn,đặc biệt là về kỹ thuật, tình hình dịch bệnh của đàn lợn nái

Xuất phát từ xu thế và thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội ”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 6,71km2 Trong đó, đất nông nghiệp là 318,36 ha, chiếm 47,45%, đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 49,75%), đất chưa sử dụng

là 18,81 ha, chiếm 2,80%.Đất đai đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa

Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC đến 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm

Trang 11

Về chế độ gió, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

+ 01 chủ trại

+ 01 quản lý trại

+ 03 quản lý kỹ thuật

+ 01 kế toán

+ 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

+ 7 công nhân và 19 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

Công ty CP Bình Minh nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc thôn Trung, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 10,2 ha Trong đó:

- Đất trồng cây ăn quả: 2,3 ha

- Đất xây dựng: 2,5 ha

- Đất trồng lúa: 2,4 ha

- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 3 ha

Trang trại đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái cơ bản bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m x 1,6m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65m/ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 9 chuồng lợn thịt

Trang 12

(mỗi chuồng nuôi 550 con) cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng nái chửa 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con; mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra

Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ và phòng sát trùng khách Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng

Trang 13

khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi

Kho chứa thức ăn: trần đóng kín không dột, có sạp kê cám

Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi

Các công trình phụ trợ khác: Khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại

Trang 14

2.2 Đối tƣợng và các kết quả sản xuất của cơ sở

2.2.1 Đối tượng sản xuất

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn con giống, nuôi lợn thịt

và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây

Trung bình lợn nái của trại sản xuất đƣợc 2,45 - 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam

Tại trại, lợn con theo mẹ đƣợc nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty

Trong trại có 23 con lợn đực giống đƣợc chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này đƣợc nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái

và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn đƣợc khai thác từ 2 giống lợn Pietrain và Duroc Lợn nái đƣợc phối 3 lần và đƣợc luân chuyển giống cũng nhƣ con đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lƣợng cao, đƣợc Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tƣợng lợn của trại

Công tác phòng bệnh bằng vaccine đƣợc trại thực hiện đầy đủ và đúng

kỹ thuật

2.3 Tổng quan tài liệu

2.3.1 Cơ sở khoa học

2.3.1.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

 Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục lợn nái

Theo Đặng Quang Nam (2002) [7], cơ quan sinh dục cái có các

bộ phận sau: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan sinh dục bên ngoài Cơ quan sinh dục bên trong đƣợc đỡ bằng dây chằng rộng Dây chằng này gồm những màng treo buồng trứng (đỡ buồng trứng), màng treo ống dẫn trứng (đỡ ống dẫn trứng) và màng treo tử cung (đỡ tử cung)

Trang 15

Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra

hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc tính

thứ cấp của con cái)

- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15-20cm, uốn khúc

nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2-0,3cm nối với sừng tử cung Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển

của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30-50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung

Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp

Trang 16

niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn

 Sinh lý sinh dục lợn cái

* Sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục

và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục

đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục Khi

đó, con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)

Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…

Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55

kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi

Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và

cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do

Trang 17

béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức

+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực

Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu

kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng:

35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ

Đối với lợn nái có thể cho phối kép, tức là phối hai lần với hai lợn đực giống khác nhau, khoảng cách giữa hai lần phối giống từ 12 - 14 giờ đối với lợn nái cơ bản Đối với lợn nái hậu bị thì thời gian giữa hai lần phối là 10 - 12 giờ

Cơ chế động dục: Theo Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo (2004) [8], cơ chế động dục của lợn nái là k hi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực

và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục,thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài

Trang 18

Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [9]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực

Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên, và dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

 Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái

Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng

Trang 19

Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [12] cho rằng khi khảo sát và đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinh dục, chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻ ra/lứa

Ở Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau, đã có những tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái như: số con đẻ ra còn sống/lứa, khối lượng cai sữa/lứa, tuổi đẻ lứa đầu với nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách giữa 2 lứa đẻ với lợn đẻ từ lứa thứ 2 trở đi Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay dù là chăn nuôi lợn nái ở bất cứ khu vực nào thì thời gian cho con bú của lợn nái cũng thấp hơn 60 ngày, thậm chí có những trang trại chăn nuôi với quy mô trung bình và nhỏ cũng đã thực hiện được việc tách con vào 21 ngày tuổi Đó cũng là một giải pháp góp phần tăng năng suất sinh sản của lợn nái

Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [13],khả năng sản xuất của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Từ đó cho thấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm

Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sống cũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan tro ̣ng trong chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này được tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội; 0,5 kg đối với lợn lai và lợn ngoại Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít con của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống

Tỷ lệ sống đến 24 giờ sau đẻ: tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% do nhiều nguyên nhân khác nhau như lợn con chết ngay khi đẻ ra, thai gỗ, thai non Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống (quá bé), không phát dục hoàn

Trang 20

toàn, dị dạng… thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, do lợn con mới sinh, chưa nhanh nhẹn, dễ bị lợn mẹ đè chết

Số lợn con cai sữa/lứa: đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độ chăn nuôi lợn nái sinh sản Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi lợn nái Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn cái nuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con (Vũ Đình Tôn, Võ Trọng Thành, (2006) [14]

Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi Người ta có thể tiêu chuẩn hoá số con để nuôi/lứa là từ 8 - 10 con Nếu số con nhiều hoặc

ít khi đẻ Đơn giản nhất là chuyển lợn từ ổ đông con sang ổ ít hơn 8 con, cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con nuôi sống/ổ, khối lượng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép Việc “chuẩn hoá” số con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản

Số lượng lợn con/ổ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chính các con đó sau này Những lợn nái từng được nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ra những con cái nhẹ cân hơn, ảnh hưởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổ

đẻ trên 10 con Việc tiêu chuẩn hoá số con đẻ ra/ổ là 8 - 10 con sẽ giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn, vì sau khi được chuẩn hoá và được nuôi dưỡng trong cùng một môi trường nên khả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái được đánh giá chính xác hơn qua khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi

Số con cai sữa/lứa phụ thuộc tỷ lệ nuôi sống: tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đã biết 9,8%; bệnh chưa biết 13,1%; bị đói 19,9%; bị mẹ đè 43,2%; nguyên nhân khác 3,2% Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ khác nhau như di truyền 4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%; mẹ đè, thiếu sữa 50%;

Trang 21

dinh dưỡng kém 8%; nguyên nhân khác 26,4% Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [13] tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau: ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày 3: 11%; từ ngày 4 - 7: 10%; từ ngày 8 - 14: 15%; từ ngày 15 - 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%

Số con đẻ/nái/năm: chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng rất nhiều vào thời gian nuôi con và số ngày bị hao hụt (thời gian chờ phối, mang thai, sảy thai, chết thai ) Trước kia ở Việt Nam thời gian lợn nái nuôi con trung bình 60 ngày, hiện nay tuỳ điều kiện cụ thể số ngày cho con bú đã rút ngắn còn từ 21 - 45 ngày Thực tế nên cai sữa lợn con vào 21, 28, 35, 45 ngày tuổi thì các bệnh đã biết gây chết 9,8% lợn trước cai sữa; bệnh chưa biết gây chết 13,1% và bệnh ỉa chảy lợn con gây chết 10,8% Những tỷ lệ này thường ít xảy ra ở lợn dưới 21 ngày tuổi Nếu cai sữa trước 22 ngày tuổi sẽ khắc phục được những nguyên nhân trên đến 33,35% số lợn con chết trước cai sữa (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [13] Nếu áp dụng các biện pháp để tăng số lợn con cai sữa/lứa và số lứa đẻ/nái/năm sẽ tăng được số con cai sữa/nái/năm, kết hợp với chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đàn lợn con: chất lượng của đàn lợn con nói lên chất lượng của lợn nái đồng thời phản ánh trình độ chăn nuôi của

cơ sở hoặc người chăn nuôi Các chỉ tiêu đó bao gồm:

+ Khối lượng sơ sinh toàn ổ: khối lượng đàn con cân được sau khi đỡ

đẻ xong, chưa cho con bú sữa đầu Đây là khối lượng của tất cả lợn con đẻ ra còn sống, phát dục bình thường Chỉ tiêu này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển sau này của đàn con

+ Khối lượng 21 ngày toàn ổ: được sử dụng để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ và khả năng tăng trọng của đàn con Tại 21 ngày sau đẻ khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt đỉnh cao về số lượng và chất lượng sau đó giảm dần Đây chính là cơ sở của việc vận dụng để cai sữa sớm cho lợn con ở ngày tuổi thứ 21

Trang 22

+ Khối lượng cai sữa toàn ổ: khối lượng cai sữa toàn đàn còn có quan

hệ khăng khít với khối lượng sơ sinh và đây chính là cơ sở cho khối lượng xuất chuồng sau này Ngày nay thời gian cai sữa ngày càng được rút ngắn nhưng khối lượng lợn con ở thời điểm cai sữa sớm chỉ có ý nghĩa trong việc định mức dinh dưỡng cho chúng ở giai đoạn tiếp theo chứ không cho phép đánh giá thành tích của lợn nái Năng suất của lợn nái phải được xác định dựa trên cơ sở đàn con với khối lượng ở 60 ngày tuổi

+ Độ đồng đều của đàn lợn con: được thể hiện qua tỷ lệ đồng đều, cho phép đánh giá được khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc phòng bệnh cho lợn con Nếu sự chênh lệch giữa cá thể có khối lượng nhỏ nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng lớn nhất càng thấp thì độ đồng đều càng cao

+ Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ: sau khi mang thai, đẻ, nuôi con lợn mẹ

có sự thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa và ảnh hưởng tới năng suất của lứa tiếp theo Nếu lợn nái có chất lượng, số lượng sữa tốt thì nhất định sẽ bị hao mòn thể trạng Tỷ lệ hao mòn trung bình là 15 - 16% Sự hao mòn lợn mẹ thay đổi theo các lứa, lớn nhất ở lứa đẻ thứ 5 tới 43 kg So với lứa 1, lứa 2 là 29 và

33 kg; sau đó giảm dần ở các lứa thứ 6, thứ 7 (42 và 31 kg) Lợn mẹ hao mòn có ảnh hưởng tới số lượng trứng rụng ở chu kỳ sau, nếu hao mòn 20

kg thì trứng rụng lần sau chỉ là 5 so với rụng 20 trứng khi lợn mẹ hao mòn

5 kg Nếu lợn mẹ hao mòn dưới 15 kg thì sẽ động dục trở lại trong vòng 10 ngày, từ 22 - 35 kg thì thời gian đó sẽ là 15 - 20 ngày ở lợn nái béo và 15 -

30 ngày ở lợn nái gầy (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [13]

+ Khoảng cách lứa đẻ: là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày

đẻ lứa tiếp theo gồm: thời gian chờ động dục trở lại sau cai sữa và phối giống có chửa; thời gian chửa; thời gian nuôi con Nếu khoảng cách lứa đẻ ngắn thì số lứa đẻ của nái/năm tăng lên Trong các yếu tố cấu thành khoảng cách lứa đẻ thì thời gian có chửa không thể rút ngắn được, vấn đề đặt ra là

Trang 23

cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để rút ngắn khoảng thời gian còn lại Hiện nay đã áp dụng cai sữa sớm cho lợn con ở 21 ngày tuổi và cho lợn nái ăn theo chế độ phù hợp nhằm rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa Khi nuôi con cho lợn nái ăn 3 kg/ngày thời gian chờ phối là 8 ngày, còn nếu cho ăn 7 kg/ngày thì sẽ là 5,5 ngày (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [13]

* Khả năng tiết sữa

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [5], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu

có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không

đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng

là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001)[5]

Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở

Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp Theo Trương Lăng (2003) [6] thì vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 - 45 kg sữa,

vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn

Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn

Trang 24

cho lợn mẹ cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy

đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ

Như vậy, các tác giả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái đều thống nhất rằng hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng

số lợn con cai sữa (số lợn con có khả năng chăn nuôi/nái/năm) Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra,

số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống Giữa các chỉ tiêu trên có mối quan hệ với nhau

2.3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu

tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh

+ Yếu tố di truyền: Ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợn cái đều có hệ số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấp

để cải tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng biện pháp lai (Đặng Vũ Bình, 2002) [1] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá năng suất của lợn cái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng

+ Yếu tố giống: có ảnh hưởng rõ ràng tới năng suất sinh sản của nái, đặc biệt là sự khác biệt giữa giống nội và giống ngoại

+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợn đực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn cái hậu bị đã đặt ra vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Mặt khác tuổi động dục lần

Trang 25

đầu của lợn cái sẽ bị chậm ít nhất 1 tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Để đạt kết quả thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kỳ: 3 - 5 tháng tuổi cần 0,4 - 0,5 m2

/con; 6 - 8 tháng tuổi: 0,5 - 0,8 m2/con (5 - 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống

+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tuỳ thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việc xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn cái cần đảm bảo làm tăng

số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng

sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi

+ Tuổi của lợn cái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn cái cần thành thục về tính và thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng

cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém, chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau Nếu để quá muộn, lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng

sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế Chỉ nên phối giống cho cái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi đạt trên 80 - 90 kg đối với lợn ngoại

và lợn lai (ngoại x ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [13]

+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của chúng Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho hao hụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinh sản đến lứa 10 - 12 Do vậy việc áp dụng

Trang 26

quy trình kỹ thuật và các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinh sản cho chúng mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi

+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu được gặp tinh trùng đúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy, việc xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết định tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ

+ Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịu ảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển của phôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y Phôi thai chết chủ yếu ở thời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bản của thời kỳ này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trên ống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiện ngoại cảnh Mặt khác, quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể có những tương tác không thích hợp giữa tử cung mẹ và gây chết phôi Số phôi chết trong thời kỳ này rất cao

+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Nhận định của các tác giả cũng cho rằng vào mùa hè nhiệt độ trên 300C thì sẽ giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứa thấp Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát dục cùa đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hoá và hô hấp cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18 - 220

C

+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác không đáng kể Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn của lợn nái Với 7

kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so với 8 ngày khi cho ăn 3 kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có ý nghĩa rất

Trang 27

quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sức khoẻ của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau khi cai sữa Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 - 2 lứa Tuỳ theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ), 23

- 28 ngày (Australia) Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [8], hầu hết các cơ

sở chăn nuôi lợn nái ngoại của ta hiện nay cai sữa lợn con trong khoảng thời gian 21- 28 ngày tuổi tùy thuộc vào điều kiện cụ thể từng đàn

+ Số con cai sữa/ổ: chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định

số lợn con cai sữa/nái/năm, là 1 chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đánh giá hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản

+ Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứng tốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường Số con đẻ ra/ổ có sự biến động với mức độ khác nhau Phần lớn lợn nái đẻ 11 - 12 con/lứa chiếm tỷ lệ cao nhất (49,86%); số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%); còn số lợn đẻ dưới 10 con/lứa chiểm tỷ lệ tương đối cao (34,89%) Số con sơ sinh/ổ thấp do

sự tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu Lợn cái động dục ở các điều kiện khác nhau, mùa vụ khác nhau, nhất là khi các điều kiện đó có sự thay đổi đột ngột tạo stress, gây ảnh hưởng tới hoạt động thần kinh, nội tiết làm giảm số lượng trứng phát triển, chín và rụng Phương thức phối giống, quá trình cai sữa cũng ảnh hưởng đáng kể tới số con sơ sinh/ổ

+ Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái Đây là thời gian tính từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau, gồm thời gian mang thai, nuôi con, chờ phối Trong đó chỉ có thể tác động đến thời gian nuôi con và chờ phối để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ đó nâng số lứa đẻ/nái/năm Vì vậy vấn đề đặt ra là phải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn cái sinh sản ở giai đoạn nuôi con và chờ phối để có thể nâng cao hiệu quả sinh sản

2.3.1.3 Khả năng sinh sản của lợn

Trang 28

Để đánh giá sức sản xuất của lợn nái người ta thường theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Sự thành thục về tính

Lợn nái thành thục về tính từ 6 - 8 tháng tuổi, tùy thuộc vào phẩm chất giống và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Phạm vi biến động từ 135 - 250 ngày tuổi Yếu tố thời tiết, mùa vụ có ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính dục của lợn

Trong thực tiễn sản xuất người cho thấy cần nuôi dưỡng lợn nái sao cho không béo quá, không gầy quá, mức độ dinh dưỡng cho lợn cái con tùy thuộc vào giống, tuổi, thời tiết mùa vụ …

- Tuổi phối giống lần đầu:

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn cái vì ở thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn nái vào chu

kì thứ hai hoặc thứ ba Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu

- Tuổi động dục lần đầu:

Là tuổi khi lợn có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau phụ thuộc vào giống lợn Ví dụ: Lợn nội như lợn Ỉ là 120 - 135 ngày, Móng Cái là 130 - 145 ngày, Landrace là 208 - 209 ngày, Yorkshire 202 -

208 ngày

- Tỷ lệ thụ thai

Qua nhiều thí nghiệm, người ta đã đi đến kết luận là xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong một chu kỳ động dục của lợn nái Trong điều kiện bình thường, tỷ lệ thụ tinh có thể đạt được 90 - 100%

Trang 29

Nếu cho gia súc phối giống trực tiếp thì tỷ lệ thụ thai thường cao hơn

10 -20 % so với phối giống nhân tạo Xác định thời điểm phối giống thích hợp, kỹ thuật phối giống nhân tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ thai

Các giống lợn có số lượng trứng rụng nhiều, thường có tỷ lệ xảy thai cao hơn Nếu chế độ dinh dưỡng tốt sẽ cải thiện được số trứng rụng trong một chu kì động dục

Giữa số lượng trứng rụng và thứ tự lứa đẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì vậy cũng sẽ có mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ thụ thai và tuổi của lợn nái

- Tuổi đẻ lứa đầu:

Sau khi thụ thai, lợn chửa trung bình 114 ngày Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Tuổi đẻ phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính dục của con cái, khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng, sự điều tiết thần kinh của lợn cái hậu bị

- Khối lượng sơ sinh

Là khối lượng của lợn con được cân ngay sau khi đẻ ra đã được cắt rốn, lau khô và trước khi cho bú lần đầu tiên Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi thai của lợn mẹ, đặc điểm giống, kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bênh cho lợn nái chửa Khối lượng sơ sinh của các giống lợn khác nhau thì khác nhau Khối lượng sơ sinh của lợn nội thường từ 0,4 - 0,6 kg/ con, của lợn lai trung bình từ 0,6 - 0,8 kg/con, của lợn ngoại trung bình từ 1,1 - 1,2 kg/ con

- Số con sơ sinh còn sống đến 24h/ lứa đẻ

Là tổng số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong ( không tính số con

có khối lượng nhỏ hơn 0,2kg, đối với lợn nội và 0,5kg đối với lợn ngoại, lợn lai ) Đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ kĩ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những con lợn

Trang 30

con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục toàn diện, dị dạng … thì sẽ bị loại thải

- Số con để nuôi

Là số con để lại để nuôi sau khi đã loại bỏ những con nhỏ hoặc dị dạng Chỉ tiêu này nói lên chất lượng của đàn con

- Khối lượng lợn con 21 ngày tuổi

Khối lượng lợn con lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con nà là chỉ ti êu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Khả năng tiết sữa của lợn me ̣ đa ̣t cao nhất ở ngày thứ 21 sau đó giảm dần Do đó, người ta dùng khối lượng lợn lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ

- Khoảng cách lứa đẻ

Là khoảng thời gian từ khi con nái đẻ lứa trước đến khi con nái đẻ lứa sau Bao gồm thời gian chửa, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại sau cai sữa và phối có chửa Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm

- Khối lượng cai sữa toàn ổ

Là khối lượng lợn con đước cân lúc cai sữa Đây là chỉ tiêu quan trọng

để đánh gia đầy đủ năng suất chăn nuôi lợn nái Khối lượng suất chuồng sau này phụ thuộc rất lớn vào khối lượng lợn con cai sữa, nếu khối lượng cai sữa cao thì lợn con có sức đề kháng tốt, khả năng chống chịu bệnh tật cao và sinh trưởng phát triển tốt hơn Tùy theo điều kiện và phương thức chăn nuôi mà người ta tiến hành cai sữa lợn con lúc 28,35,45 hoặc 60 ngày tuổi

Ngoài các chỉ tiêu trên còn có một số chỉ tiêu khác đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái như: Khả năng tiết sữa, tỷ lệ lợn nái động dục sau cai sữa,

số lứa đẻ/nái/năm…

2.3.1.4 Một số đặc điểm của lợn CP909

CP Thái Lan là một tập đoàn sản xuất kinh doanh đa ngành nghề và là một trong những tập đoàn mạnh nhất của Thái Lan trong lĩnh vực công - nông

Trang 31

nghiệp, điển hình là lĩnh vực sản xuất lương thực, thực phẩm chất lượng cao

và an toàn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Với kinh nghiệm qua hơn 80 năm phát triển sản xuất kinh doanh , hiện nay tập đoàn CP Thái Lan đã mở rộng địa bàn hoạt động đến 20 quốc gia khác nhau với 200 công ty thành viên

và thu hút một nguồn lao động 200.000 người

Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam là một tập đoàn thành viên của CP Thái Lan, được cấp giấy phép đầu tư vào năm 1993 với hình thức 100% vốn tư nước ngoài Các lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hiện nay bao gồm: hạt giống, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, thiết bị chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia công gà và chế biến thực phẩm, đặc biệt là lĩnh vực chăn nuôi lợn theo hai loại hình chính là: chăn nuôi lợn nái sinh sản và chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa đến xuất chuồng (lợn thịt)

Tất cả heo giống GGP (giống cụ kị) đều được nhập khẩu từ Thái Lan

và các công ty giống nổi tiếng trên thế giới Heo giống được nuôi thích nghi, đánh giá di truyền bằng kĩ thuật hiện đại (PIBLUP) và chọn lọc qua nhiều năm tại Việt Nam, đặc biệt là hai dòng lợn sinh sản CP40 và CP 909 Nước ta lợn được phân bố ở các tỉnh Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Hà Nội ( Hà Tây cũ)…

- Giống lợn Yorkshire: Lợn có nguồn gốc từ Anh, da trắng, lông màu trắng ánh bạc, đầu hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn, bốn chân chắc khỏe Khả năng tăng khối lượng bình quân 650 - 750 gr/con/ngày Khả năng sinh sản: Đẻ trung bình từ 10 - 11 con/ lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1 - 1,2 kg/ con

- Giống lợn Landrace: được tạo ra ở Đan Mạch, lợn có dạng hình nêm , màu lông trắng tuyền, mình dài, tai to và rủ xuống che cả mặt, chân hơi yếu, lưng vồng lên, mặt lưng phẳng, mông phát triển, tròn Tăng khối lượng bình

Trang 32

quân 700 - 800 gr/con/ngày, khả năng sinh sản cao và khả năng nuôi con khéo

- Lợn lai CP 909 (♂ Landrace x ♀ Yorkshire): là lợn mang đầy đủ tính

ưu việt của giống lợn Landrace và Yorkshire CP 909 được tạo ra từ những dòng Landrace và Yorkshire mới cho tốc độ tăng trưởng, chất lượng sản phẩm cao nhất, khả năng sinh sản tốt nhất

- Đặc điểm ngoại hình của lợn CP 909: Lợn có màu lông da lông trắng tuyền, mình dài, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, 4 chân khỏe vững chắc, ngoại hình kết hợp đặc điểm của giống lợn Landrace và Yorkshire Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước

Để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng của ngành chăn nuôi lợn, nước ta đã nhập giống lợn cao sản như Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc nhằm nâng cao năng suất thịt cung cấp ra thị trường và cải tạo đàn lợn nội Đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng sinh sản của các giống kể trên Kết quả nghiên cứu là tìm ra các biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất

có thể đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace được Phan Xuân Hảo(2001) [4] thông báo kết quả như sau: Tuổi động dục lần đầu là 197,3 ngày, tuổi phối giống lần đầu là 296,03 ngày, khối lượng phối giống lần đầu là 115,11 kg, chu

Ngày đăng: 20/11/2017, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình (2002), Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi, Giáo trình sau đại học, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
2. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Trung (2001), “Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống vật nuôi Phú Lãm - Hà Tây”,Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật - Khoa CNTY 1999 - 2001, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống vật nuôi Phú Lãm - Hà Tây"”,Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật - Khoa CNTY 1999 - 2001
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Trung
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2001
3. Nguyễn Quế Côi (2006), Chăn nuôi lợn, Bài giảng dành cho sau đại học , Trường Ðại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quế Côi
Năm: 2006
4. Phan Xuân Hảo (2001), “Xác định một số chỉ tiêu sinh sản, năng suất và chất lƣợng lợn thịt Landrace và Yorkshire với các kiểu Halothan khác nhau”, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số chỉ tiêu sinh sản, năng suất và chất lƣợng lợn thịt Landrace và Yorkshire với các kiểu Halothan khác nhau
Tác giả: Phan Xuân Hảo
Năm: 2001
5. Từ Quang Hiển và cs(2001), “Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc”
Tác giả: Từ Quang Hiển và cs
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2001
7. Đặng Quang Nam (2002),Giáo trình Giải phẫu vật nuôi, NxbNông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam
Nhà XB: NxbNông Nghiệp
Năm: 2002
8. Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
9. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, (2006), Giáo trình Sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi dành cho cao học, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi dành cho cao học
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
11. Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình (2005), “So sánh khả năng sinh sản của lợn nái lai F1(LY) phối giống với lợn đực giống Pietrain và Duroc”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2005/Tập III Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh khả năng sinh sản của lợn nái lai F1(LY) phối giống với lợn đực giống Pietrain và Duroc”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2005
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình
Năm: 2005
12. Nguyễn Thiện, Trần Ðình Miên, Võ Trọng Hốt (2005), Con lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Trần Ðình Miên, Võ Trọng Hốt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
13. Nguyễn Khắc Tích (2002), Chăn nuôi lợn, Bài giảng cho cao học và nghiên cứu sinh, Trường Ðại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn, B
Tác giả: Nguyễn Khắc Tích
Năm: 2002
14. Vũ Đình Tôn , Võ Trọng Thành (2006), “Hiê ̣u quả chăn nuôi lợn trong nông hô ̣ vùng đồng bằng sồng Hồng , Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, tập VI, số 1, tr 19-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiê ̣u quả chăn nuôi lợn trong nông hô ̣ vùng đồng bằng sồng Hồng ", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Vũ Đình Tôn , Võ Trọng Thành
Năm: 2006
17. Nguyễn Thị Viễn (2004), “Năng suất sinh sản của nái tổng hợp giữa hai nhóm giống Yorkshire và Landrace”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi- Thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà NộiII. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Năng suất sinh sản của nái tổng hợp giữa hai nhóm giống Yorkshire và Landrace"”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi- Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Viễn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Gerasimov V.I., Pron E. V. (2000), “Economically beneficial characteristics of three breed crosses”, Animal Breeding Abstracst, 68(12), ref., pp. 7521 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economically beneficial characteristics of three breed crosses”, "Animal Breeding Abstracst
Tác giả: Gerasimov V.I., Pron E. V
Năm: 2000
19. Gerasimov V.I., Pron E.V. (1997), “The result of 2 and 3 breed crossing of pigs”, Animal breeding Abstracts,65 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The result of 2 and 3 breed crossing of pigs”, "Animal breeding Abstracts
Tác giả: Gerasimov V.I., Pron E.V
Năm: 1997
20. Jose Bento S., Ferraz and Rodger K., Johnson (2006), “Animal Model Estimation of Genetic Parameters and Respone to selection for litter size Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN